1
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục tiêu nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6. Kết quả dự kiến đạt được
7. Nội dung của luận văn
CHƯƠNG
1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ..............................1
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI.........................................................................................1
1.1. Cơ sở lý luận....................................................................................1
1.1.1. Khái niệm về nông thôn, nông thôn mới và tiêu chí xây dựng
NTM.................................................................................................................1
1.1.2. Một số lý luận về huy động nguồn lực phục vụ xây dựng NTM
...........................................................................................................................6
1.1.3. Vai trò và sự cần thiết của việc huy động các nguồn lực phục
vụ chương trình xây dựng nông thôn mới ..................................................16
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực xây dựng
NTM...............................................................................................................18
1.2.1. Yếu tố chủ quan..........................................................................18
1.2.2. Yếu tố khách quan......................................................................21
2.3.2. Kết quả huy động nguồn lực phục vụ xây dựng nông thôn mới
.........................................................................................................................52
Bảng 2.3. Vốn ngân sách xây dựng nông thôn mới huyện Quế Võ. .52
Bảng 2.4. Nguồn vốn tín dụng huy động được để xây dựng NTM . .54
3
ở huyện Quế Võ.....................................................................................54
Bảng 2.5. Nguồn vôn huy động được từ doanh nghiệp để xây dựng
nông thôn mới ở huyện Quế Võ...................................................................54
Bảng 2.6. Nguồn vốn huy động được từ cộng đồng để xây dựng nông
thôn mới ở huyện Quế Võ.............................................................................55
2.4. Đánh giá chung về công tác huy động nguồn lực xây dựng NTM
tại huyện Quế Võ...........................................................................................61
2.4.1. Những kết quả đạt được.............................................................61
2.4.3. Nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế.......................................66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.....................................................................69
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC PHỤC
VỤ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
QUẾ VÕ ĐẾN NĂM 2020..................................................................................................70
3.1. Mục tiêu, định hướng xây dựng nông thôn mới của huyện Quế
Võ....................................................................................................................70
3.1.1. Mục tiêu chung............................................................................70
3.1.2. Mục tiêu cụ thể............................................................................70
3.2. Nguyên tắc, căn cứ đề xuất giải pháp huy động nguồn lực xây
dựng nông thôn mới......................................................................................72
3.3. Đề xuất một số giải pháp huy động nguồn lực phục vụ chương
trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Quế Võ đến năm 2020.
.......................................................................................................................101
- Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực, hỗ trợ đầu tư;..................101
- Tăng cường công tác tuyên truyền vận động người dân nâng cao
nhận thức, phát huy vai trò chủ thể cộng đồng dân cư trong xây dựng
nông thôn mới;.............................................................................................101
- Nâng cao chất lượng công tác quản lý để sử dụng hiệu quả nguồn
lực phục vụ xây dựng nông thôn mới........................................................101
5
Bên cạnh những giải pháp đưa ra, học viên có một số kiến nghị đối
với Trung ương, tỉnh Bắc Ninh để từ đó có thể thực hiện tốt việc huy động
nguồn lực phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
huyện Quế Võ những năm tiếp theo...........................................................101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................102
1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về nông thôn, nông thôn mới và tiêu chí xây dựng NTM
1.1.1.1. Nông thôn
Nông thôn được coi như là khu vực địa lý nơi đó sinh kế cộng đồng gắn
bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường và tài
nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Khi khái niệm về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với đô thị,
Ngày 04 tháng 6 năm 2010 Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 800/Qđ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Tại quyết định này, mục tiêu chung
của Chương trình được xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ
chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch
vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân
chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ;
an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy, nông thôn mới là “nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân
chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc,đời sống vật chất, tinh thần được
nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững”.
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để
cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được
3
đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã
hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích
cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp,
dân chủ, văn minh.
1.1.1.3. Tiêu chí xây dựng NTM
TT
Tên tiêu chí
Nội dung tiêu chí
Chỉ tiêu chung
- Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được
nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn
100%
theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT;
4
- Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được
cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật
của Bộ GTVT
- Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và
không lầy lội vào mùa mưa
3
4
5
6
Thủy lợi
mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật
chất đạt chuẩn quốc gia
- Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt
chuẩn của Bộ VH-TT-DL
- Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể
thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TTDL
Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng
- Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông
- Có Internet đến thôn
- Nhà tạm, dột nát
- Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn của
Bộ Xây dựng
Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất
TT
Tên tiêu chí
Nội dung tiêu chí
70%
100%
65%
Đạt
65%
Đạt
98%
sản xuất
Thu nhập bình quân đầu người /năm
so với mức bình quân chung của tỉnh
Tỷ lệ hộ nghèo
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc
trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt
động có hiệu quả
1,4 lần
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt
tiêu chuẩn về môi trường
- Không có các hoạt động gây suy giảm
môi trường và có các hoạt động phát
triển môi trường xanh, sạch, đẹp
- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
- Chất thải, nước thải được thu gom và
xử lý theo quy định
Đạt
85%
Đạt
6
Nhóm 5: Hệ thống chính trị
TT
Tên tiêu chí
Hệ thống tổ chức
18
chính trị xã hội
vững mạnh
19
Điều đó có nghĩa tùy thuộc vào tỉnh, huyện, địa phương để có quyết định về
số lượng và chất lượng của mỗi yếu tố nguồn lực được huy động. Nguồn
vốn sử dụng để xây dựng nông thôn mới đóng vai trò quan trọng do đó vấn
đề huy động nguồn vốn phải đặt lên hàng đầu, cần có kế hoạch huy động
7
từ nhà nước, doanh nghiệp và địa phương một cách hợp lý. Vốn là nguồn
lực có hạn do đó mỗi địa phương cần có những phương án để sử dụng một
cách hiệu quả. Để có được điều này phụ thuộc chủ yếu vào khả năng cũng
như trình độ quản lý ở các địa phương trong quá trình xây dựng nông thôn
mới. Bên cạnh đó yếu tố tuyên truyền để người dân hiểu rõ xây dựng nông
thôn mới chính là phục vụ lợi ích cho chính bản thân họ sẽ giúp người dân
quan tâm đến chương trình lấy được sự đồng thuận, tín nhiệm của dân. Đồng
thời phải củng cố, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống hạ tầng kỹ thuật
ở nông thôn, nhằm nhanh chóng phát huy có hiệu quả trong quá trình sử
dụng các yếu tố nguồn lực
1.1.2.2. Khái niệm về các nguồn lực
Nguồn lực được hiểu gồm tất cả những lợi thế, tiềm năng vật chất và
phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định nào đó.
Đối với công tác xây dựng nông thôn mới, có bốn nguồn lực chính:
- Nguồn lực tài chính: Nguồn lực tài chính huy động để thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được quy định tại
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ bao
gồm: Ngân sách chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 40%); Vốn tín dụng
(khoảng 30%); Vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác (khoảng
20%); Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư (khoảng 10%).
Việc quy định tỷ lệ huy động từ các nguồn vốn như trên cho thấy vai trò
của nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) trong xây dựng nông thôn mới là
thành nên những vùng sản xuất nông sản tập trung. Doanh nghiệp tăng diện
tích tăng lên và sẽ chuyển từ xuất bán sản phẩm thô sang xây dựng nhà máy
chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm. ngoài ra huyện cũng tạo điều kiện cho
doanh nghiệp đầu tư để triển khai sản xuất. Thực tế, những năm trước đây,
việc doanh nghiệp liên kết với nhà nông trên địa bàn huyện không phải là
chưa có, nhưng hầu hết đều có quy mô nhỏ lẻ và chỉ mang tính chất thời vụ,
9
chưa có tính lâu dài như trong giai đoạn hiện nay. Trong khi các doanh nghiệp
đang hướng nguồn lực đầu tư về nông thôn, thì nhân dân các địa phương trên
địa bàn tỉnh cũng đang phát huy mạnh mẽ nội lực.
Việc quy định tỷ lệ huy động đóng góp từ cộng đồng dân cư thấp thể hiện
mức độ “khoan thư sức dân” khi đời sống của người dân khu vực nông thôn
hiện còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương không quy
định bắt buộc nhân dân đóng góp, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp
để nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của
địa phương. Nhân dân trong xã bàn bạc mức tự nguyện đóng góp cụ thể cho
từng dự án, đề nghị Hội đồng nhân dân xã thông qua. Như vậy, người dân có
sự chủ động trong việc huy động đóng góp nguồn lực và tham gia vào quá trình
xây dựng nông thôn mới.
- Nguồn lực về con người: Người nông dân và cộng đồng dân cư giữ
vai trò là chủ thể. Họ được biết, được bàn, được quyết định, tự làm, tự giám
sát và được thụ hưởng (quy hoạch, đề án, huy động vốn, quản lý...). Đóng góp
công sức, tiền của để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình, đầu tư cho sản
xuất, đóng góp xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã. Nội lực của
cộng đồng bao gồm: công sức, tiền của do người dân và cộng đồng đầu tư bỏ
ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở, nhà
bếp; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục
quen tiểu nông, phải năng động nắm bắt nhu cầu của thị trường và dự đoán
được xu hướng vận động của nó; đồng thời cũng cần có vốn, kỹ thuật, lao
động để thực hiện bước chuyển đổi.
Ngoài ra, nông dân cũng chính là người trực tiếp ứng dụng những thành
tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào trong sản xuất, tăng quy mô tạo ra
một khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển của đất
nước.
Hai là, nông dân là người trực tiếp xây dựng, giữ gìn và bảo vệ kết cấu
11
hạ tầng nông thôn.
Xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông bê tông, nhựa hóa nông thôn nối
liền thôn, xóm, ấp liên xã là một nội dung trong xây dựng nông thôn mới.
Điều đó đạt được nhanh chóng khi người nông dân nhận thức được tầm quan
trọng của xây dựng đường sá trong phát triển kinh tế - xã hội, tự giác đóng
góp xây dựng cùng với sự giúp đỡ của Nhà nước, của địa phương. Đất nước
ta còn nghèo, Nhà nước còn phải tập trung vào những dự án lớn như: đường
quốc lộ, những cây cầu lớn, những nhà máy thủy, nhiệt điện v.v… Những
việc xây dựng đường làng, đường liên thôn, liên xã phải chủ yếu do nhân dân
đóng góp cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước. Xây dựng đã khó nhưng bảo vệ,
tôn tạo hệ thống đường sá càng quan trọng hơn. Việc bảo quản, giữ gìn hệ
thống đường sá nông thôn phải là công việc của chính bà con nông dân.
Người nông dân cần cập nhật những kiến thức, hiểu biết và ý thức bảo vệ hệ
thống đường nông thôn để phục vụ cho chính mình.
Nông thôn mới không thể thiếu hệ thống điện, đường, trường, trạm, thủy
nông nội đồng… Những cơ sở vật chất đó phải do chính những người nông
dân ở các vùng nông thôn cùng với Nhà nước xây dựng; đồng thời bảo quản,
tăng cường công tác quản lý của chính quyền địa phương đối với những công
các đoàn thể chính trị xã hội nơi mình cư trú; tích cực tham gia cuộc đấu tranh
chống tham nhũng, tiêu cực làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Nông dân phải tích cực tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình xây
dựng quan điểm, đường lối của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà
nước, đặc biệt là những vấn đề liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn
và nông dân, góp phần sao cho những quan điểm đó phù hợp với những điều
kiện của Việt Nam, của từng địa phương và đáp ứng được những nhu cầu,
nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nông dân.
Nông dân không chỉ là những người xây dựng mà còn là những người
bảo vệ chính quyền, Nhà nước.
13
Năm là, nông dân là chủ thể xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở các
vùng nông thôn.
Đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn là toàn bộ những hoạt động tinh
thần của cư dân nông thôn mà chủ yếu là nông dân. Đời sống văn hóa tinh
thần ở các vùng nông thôn bao gồm: phong tục tập quán, lối sống, quan hệ
ứng xử giữa con người với con người, cách tư duy, hoạt động văn học - nghệ
thuật ở các vùng nông thôn v.v…
Quan hệ giữa những người nông dân là quan hệ tình nghĩa thân thiện,
giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng nhau. Mối quan hệ gần gũi xóm giềng trong bà con
nông dân phải được giữ gìn, bảo vệ và phát huy để giúp đỡ nhau trong phát
triển kinh tế - xã hội, xây dựng xóm, làng văn hóa.
Sáu là, nông dân là chủ thể giữ gìn an ninh, trật tự ở các vùng nông thôn
Giữ gìn an ninh, trật tự các vùng nông thôn, đảm bảo cuộc sống thanh
bình cho bà con nông dân là một nội dung quan trọng trong xây dựng nông
thôn mới Việt Nam.
Nguồn lực về con người- người nông dân là chủ thể tích cực trong xây
67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 về một số chính sách tín dụng ngân hàng
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Nguồn vốn ODA và nguồn vốn vay ưu đãi cũng được ưu tiên sử dụng
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Điều này được khẳng định tại điểm 4,
điều 7, Nghị định 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013.
Các DN đầu tư ở khu vực nông thôn có dự án thuộc danh mục các dự án
vay vốn tín dụng đầu tư hoặc có hợp đồng xuất, nhập khẩu các mặt hàng
thuộc danh mục mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu sẽ thuộc đối tượng
hưởng chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu theo Nghị định
75/2011/ NĐ-CP ngày 30/8/2011 sẽ được hỗ trợ lãi suất.
Bên cạnh đó, một số đối tượng ở nông thôn cũng là đối tượng cho vay
của một số chương trình cho vay theo chính sách của Ngân hàng Chính sách
15
xã hội như: Cho vay hộ nghèo, cho vay vốn đi xuất khẩu lao động, cho vay
nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn, cho vay giải quyết việc làm... Ngoài ra, NSNN hỗ
trợ lãi suất vốn vay thương mại đối với các khoản vay dài hạn, trung hạn,
ngắn hạn bằng đồng Việt Nam để mua máy, thiết bị nhằm giảm tổn thất trong
nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013.
Về huy động nguồn lực từ doanh nghiệp nhằm khuyến khích doanh
nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013. Theo đó, doanh nghiệp đầu
tư vào nông nghiệp, nông thôn được hưởng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư bổ
sung của Nhà nước thông qua chính sách về đất đai như miễn, giảm tiền sử
dụng đất, miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước; được hỗ trợ
thuê đất, mặt nước của hộ gia đình, cá nhân; được miễn, giảm tiền sử dụng đất
khi chuyển mục đích chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, còn được
hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ phát triển thị trường mà trong đó hỗ trợ
dung xây dựng nông thôn mới.
Ngoài ra, huy động nguồn tài nguyên đất đai từ người dân như: phá dỡ
tường bao, các công trình phụ trợ trên đất ở để làm các công trình giao thông,
nhà văn hóa; đóng góp đất ruộng để mở rộng mương máng, bờ vùng, bờ thửa,
góp công chỉnh trang đồng ruộng…
1.1.3. Vai trò và sự cần thiết của việc huy động các nguồn lực phục vụ
chương trình xây dựng nông thôn mới
Hiện nay, đòi hỏi cần phải có sự huy động và gắn kết mạnh mẽ hơn nữa
các nguồn lực để đảm bảo chương trình xây dựng nông thôn mới đạt hiệu quả
cao và thành công theo kế hoạch đã đề ra.
Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới là chủ trương quan trọng,
hết sức đúng đắn, hợp lòng dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Trong
những năm qua, cả nước đã đồng tình, tích cực triển khai thực hiện Chương
17
trình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới và đạt được nhiều quan
trọng, tích cực. Nổi bật là nhận thức về Chương trình ngày càng được nâng
lên trong các cấp ủy đảng, chính quyền, trong nhân dân; các cơ chế chính sách
được ban hành nhìn chung là kịp thời; bộ máy thực hiện Chương trình từ
Trung ương đến cơ sở được tổ chức đồng bộ, thống nhất; công tác quy hoạch
và lập đề án xây dựng nông thôn mới, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội,
phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở địa bàn nông thôn có
nhiều tiến bộ; nguồn lực đầu tư cho Chương trình ngày càng tăng lên; công
tác kiểm tra, giám sát được tăng cường; quyền làm chủ, vai trò làm chủ của
nhân dân được nâng lên; hệ thống chính trị cơ sở được vững mạnh lên; an
ninh trật tự ở nông thôn được đản bảo; đặc biệt, trong 3 năm qua, thu nhập
của người nông dân đã tăng gấp gần 2 lần...
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn tồn tại, hạn chế trong xây dựng
việc đang làm, cụ thể là làm nông nghiệp; thứ hai là đào tạo để chuyển sang
làm ngành nghề khác cho thu nhập cao hơn như làm công nghiệp, làm dịch vụ
trên địa bàn.
Trong bối cảnh nguồn lực có hạn, nhu cầu vốn để thực hiện mục tiêu
xây dựng nông thôn mới rất lớn. Do vậy, nâng cao hiệu quả huy động vốn đầu
tư thông qua các chính sách huy động nguồn lực là rất cần thiết.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực xây dựng NTM
1.2.1. Yếu tố chủ quan
1.2.1.1. Trình độ cán bộ và khả năng tổ chức quản lý huy động nguồn lực để
xây dựng nông thôn mới
Phải có nguồn lực thì mới xây dựng triển khai và thực hiện được các
bước trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Trong đó vấn đề huy động
nguồn vốn để thực hiện chương trình phải được đặt lên hàng đầu. Để nâng
cao được năng lực và trình độ đối với vấn đề huy động nguồn lực, Bộ Tài
chính đã tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý tài chính dự án
19
đầu tư đối với các xã thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới tại khu vực phía Bắc và phía Nam cho cán bộ một số bộ,
ngành liên quan. Hội nghị tập huấn nhằm giúp các cán bộ làm công tác xây
dựng nông thôn mới của cơ quan trung ương và địa phương nắm bắt được cơ
chế tài chính thực hiện chương trình, đồng thời lắng nghe phản ánh những
khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện nhằm giúp các cơ
quan hoàn thiện cơ chế tài chính cho chương trình trong thời gian tới, đặc biệt
là cơ chế tài chính thực hiện chương trình quy định về nguồn vốn, cơ chế
quản lý, thanh toán, quyết toán vốn thực hiện chương trình…
Bên cạnh đó Bộ Tài chính đã hướng dẫn các địa phương và phối hợp với
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, ngành có liên quan để xây dựng, ban hành
thôn mới trong đó có nguồn lưc tài chính. Chính phủ đã xác định thực hiện đa
dạng hóa các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện. Trong đó cùng với
thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia,
các chương trình dự án hỗ trợ trên địa bàn và nguồn vốn ngân sách hỗ trợ trực
tiếp của Chương trình này bao gồm cả trái phiếu Chính phủ thì cần huy động
tối đa nguồn lực của địa phương. Vấn đề huy động nguồn lực rất quan trọng
đối với chương trình xây dựng nông thôn mới tuy nhiên ngân sách cho công
tác huy động nguồn lực này đang rất hạn chế. Kinh phí cấp cho hoạt động này
còn thấp so với yêu cầu thực tiễn nên nhiều địa phương triển khai các hoạt
động còn hình thức, chất lượng chưa cao; hay thể chế về chế độ đãi ngộ, thu
hút cán bộ, viên chức công tác trong vấn đề huy động nguồn lực còn nhiều bất
cập và thấp, từ đó ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới. Việc
tăng cường huy động các nguồn lực tài chính và hỗ trợ xã hội, cho công tác
này là hết sức cần thiết, qua đó các tổ chức xã hội, nghề nghiệp... sẽ đóng góp
sức người, sức của để cùng với nhà nước làm tốt công tác này.
Ngoài ra, cần huy động vốn đầu tư của DN đối với các công trình có
khả năng thu hồi vốn trực tiếp; các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân