MỤC LỤC
Trang
Lời cam Ðoan
ii
Lời cảm õn
iii
Mục lục
iv
Danh mục các từ viết tắt
vii
Danh mục bảng
viii
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
5
2.1.2 Đặc điểm về sự đóng góp của người dân trong xây dựng nông thôn mới
7
2.1.3 Nội dung nghiên cứu sự hài lòng của người dân về đóng góp cho xây
dựng nông thôn mới
9
2.2 Cơ sở thực tiễn
11
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về đáp ứng sự hài lòng của
người dân trong triển khai xây dựng NTM
11
2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong xây dựng NTM nhằm đáp
ứng nhu cầu và sự hài lòng của người dân ở Việt Nam
2.3 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
3.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
31
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
31
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong đề tài
39
3.3.1 Nhóm chỉ tiêu về kết quả xây dựng nông thôn mới
39
3.3.2 Nhóm chỉ tiêu về phản ánh sự hài lòng của người dân
39
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
40
4.1 Thực trạng sự hài lòng của người dân về đóng góp cho xây dựng nông
thôn mới ở huyện Can Lộc
40
84
4.2.3 Phân tích phương sai (ANOVA)
87
4.3 Giải pháp nâng cao sự hài lòng của người dân về đóng góp cho xây dựng
nông thôn mới ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
89
4.3.1 Nâng cao năng lực của đội ngũ lãnh đạo và cán bộ ban quản lý NTM 89
v
4.3.2 Giải pháp về tăng cường sự tham gia đóng góp của người dân về công
tác quy hoạch
91
4.3.3 Giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân vào cải thiện và bảo
vệ môi trường nông thôn
91
4.3.4 Giải pháp về cải tạo, nâng cấp trạm y tế xã
92
96
TÀI LIỆU THAM KHẢO
97
PHỤ LỤC
99
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu viết tắt
Ý nghĩa
1
CN
Công nghiệp
2
CNH – HĐH
Hài lòng
8
HTX
Hợp tác xã
9
KHHGĐ
Kế hoạch hóa gia đình
10
KTXH
Kinh tế xã hội
11
KM
Kênh mương
12
KTXH
Phát triển nông thôn
18
QH
Quy hoạch
19
QP – AN
Quốc phòng an ninh
20
TM – DV
Thương mại – dịch vụ
21
TH
Trường học
22
TTCN
Số bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Tình hình sử dụng đất đai của huyện Can Lộc (2012 – 2014)
20
3.2
Tình hình dân số và lao động của huyện Can Lộc (2012 – 2014)
22
3.3
Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Can Lộc (2011 – 2013)
24
4.1
Kết quả xây dựng NTM ở huyện Can Lộc
41
4.7
Sự tham gia đóng góp của người dân vào hệ thống kênh mương nội đồng
49
4.8
Sự tham gia đóng góp của người dân vào cơ sở vật chất văn hóa thôn, xã
50
4.9
Sự tham gia đóng góp của người dân cho xây dựng môi trường
51
4.10
Sự hài lòng của người dân về đóng góp trong quy hoạch XDNTM
53
4.11
Sự hài lòng của người dân về việc đóng góp cho phát triển hệ thống
giao thông
Sự hài lòng của người dân về việc đóng góp cho bảo vệ MTNT
66
4.17
Sự hài lòng chung của người dân về đóng góp cho xây dựng NTM
67
4.18
Kiểm định KMO và Bartlett của nhân tố độc lập
69
4.19
Kết quả phân tích các nhân tố của thang đo sự hài lòng của người dân
về đóng góp xây dựng NTM
69
viii
4.20
Bảng tóm tắt nhân tố tương ứng với các tiêu chí quan sát sau khi
76
4.26
Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha nhân tố F4
78
4.27
Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha nhân tố F5
79
4.28
Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha nhân tố F6 (Phát
81
4.29
Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha nhân tố F7
83
4.31
Kết quả phân tích hồi quy biến
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của
người dân về đóng góp cho xây dựng nông thôn mới, từ đó đưa ra giải pháp
nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân về đóng góp xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hài lòng của người dân về
đóng góp cho xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá sự hài lòng của người dân về đóng góp cho xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân về mức
đóng góp cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân về đóng
góp cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá sự hài lòng của người dân
về đóng góp xây dựng nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu.
- Đối tượng khảo sát là người dân, ban phát triển thôn và ban chỉ đạo nông
thôn mới.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu sự hài lòng của người
4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về xây dựng nông thôn mới
Nông thôn mới gần đây không còn là tên gọi mới, xa lạ đối với nước ta,
khái niệm nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ;
thứ hai, là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống. Nếu so sánh
giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống thì nông thôn mới phải bao hàm
cơ cấu và chức năng mới (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát
triển, có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường, đạt hiệu quả
cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tiến bộ hơn so với
mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ tiêu chí và vận dụng trên
cả nước.
Nghị quyết 26-NQ/TW của BCH TW xác định: NTM là khu vực nông
thôn có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức TCSX
hợp lý, gắn NN với phát triển nhanh CN, DV, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông
thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường
sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững, đời sống vật chất và tinh
thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng XHCN.
Có thể quan niệm: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc
tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo yếu tố mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt
ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so
với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt và
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân về cả mặt vật chất lẫn tinh thần”
lòng. Nếu lợi ích thực tế cao hơn kỳ vọng của người đó thì sẽ tạo ra hiện tượng
hài lòng cao hơn hoặc là hài lòng vượt quá mong đợi.
2.1.1.3 Bản chất về sự đóng góp của người dân
Từ trước đến nay chưa có một khái niệm cụ thể về sự đóng góp của người
dân nhưng chúng ta có thể hiểu “Đóng góp của người dân là sự tham gia đóng
6
góp của cộng đồng thể hiện bằng nhiều hình thức như là đóng góp bằng ý kiến,
bằng tiền, bằng hiện vật hay bằng sức lao động nhằm thực hiện những mục tiêu
chung của xã hội”. Cộng đồng được hiểu ở đây là người dân, doanh nghiệp, các
tổ chức dân sự và các tổ chức kinh tế, xã hội khác (Nguyễn Duy Lượng, 2008).
Chương trình xây dựng NTM muốn thành công thì đòi hỏi nguồn vốn rất
lớn mà ở đây không thể chỉ phụ thuộc vào nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước
được vì nguồn vốn từ ngân sách là quá ít không đủ để hoàn thành chương trình
xây dựng NTM. Vì vậy, để thực hiện được mục tiêu của chương trình xây dựng
NTM cần sự chung tay đóng góp rất lớn của cả cộng đồng thì chương trình xây
dựng NTM mới có thể thành công. Nguồn đóng góp của cộng đồng qua nhiều
hình thức sẽ quyết định đến thành bại của chương trình. Qua sự đóng góp ít hay
nhiều của cộng đồng có thể thấy được sự tham gia của người dân là cao hay thấp
hay nói cách khác nếu sự đóng góp của cộng đồng cao thì có thể thấy được người
dân đã hiểu về mục tiêu của chương trình xây dựng NTM, người dân thực sự hài
lòng với sự đóng góp của mình và ngược lại.
2.1.1.4 Bản chất của sự hài lòng của người dân về đóng góp cho xây dựng nông
thôn mới
Sự hài lòng của người dân về đóng góp xây dựng nông thôn mới là trạng
thái tâm lý thoải mái được đáp ứng những nhu cầu, đòi hỏi về vật chất, thể chất,
tinh thần của con người. Sự hài lòng là động lực tinh thần có ý nghĩa to lớn và
không thể thay thế trong quá trình thực hiện hành động, ảnh hưởng đến chất
lượng hiệu quả hành động. Như vậy có thể nói sự hài lòng của người dân về đóng
Những nội dung lập đề án, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, tuyên truyền
vận động, quản lý và sử dụng, kiểm tra và giám sát sẽ được UBND địa phương tổ
chức công khai cho nhân dân biết bằng nhiều hình thức như: thông qua các kỳ
họp HĐND, các cuộc tiếp xúc cử tri, các cuộc họp tổ dân phố, niêm yết trên các
bảng tin tại trụ sở UBND xã - thị trấn, phát tin trên hệ thống truyền thanh huyện
và các xã - thị trấn để người dân có thể biết và người dân đưa ra góp ý, đề xuất
cho cấp có thẩm quyền xem xét và sửa đổi cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng
(Bộ tài chính, 2009).
- Đóng góp bằng công lao động
Đây là cách người dân tham gia trực tiếp bằng cách bỏ chính công sức của
mình để tham gia vào quá trình xây mới cũng như tu sửa lại các công trình đường
giao thông, điện, các trường học, các trạm xá, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông
thôn, kênh mương, trùng tu các di tích lịch sử văn hóa, cải thiện vệ sinh môi
8
trường… hình thức này cũng làm nâng cao tinh thần trách nhiệm đồng thời gắn
kết người dân lại với nhau nhiều hơn (Bộ tài chính, 2009).
- Đóng góp bằng tiền
Đây là một hình thức tham gia đóng góp của cộng đồng vào các hoạt động
phát triển bằng cách đóng góp một phần chi phí cho các hoạt động. Điều này
không những làm giảm bớt gánh nặng tài chính cho ngân sách nhà nước mà còn
làm tăng tính trách nhiệm của người dân khi tham gia vào các chương trình. Việc
đóng góp này phụ thuộc vào quy định của mỗi địa phương và còn phụ thuộc vào
khả năng kinh tế của từng hộ gia đình (Bộ tài chính, 2009).
- Đóng góp bằng hiện vật
Đây là một hình thức tham gia đóng góp của cộng đồng vào các hoạt động
phát triển bằng cách đóng góp hiện vật như hiến đất, đóng góp bằng các nguyên
vật liệu như xi măng, cát, sỏi, gạch, đá để làm đường giao thông, xây dựng các
nhà văn hóa, chợ nông thôn hay trường học (Bộ tài chính, 2009).
ra trong việc đóng góp nguồn vốn cũng như nguồn lực trong xây dựng NTM và từ
đó UBND xã tổng hợp ý kiến đóng góp của người dân và sửa đổi hoàn thành kế
hoạch xây dựng NTM
Quản lý và sử dụng nguồn huy động sự đóng góp của người dân trong xây
dựng nông thôn mới. UBND xã cần có kế hoạch cụ thể để quản lý và sử dụng
nguồn huy động sự đóng góp của cộng đồng trong xây dựng NTM. Tuy nhiên
UBND xã cần lấy ý kiến đóng góp của người dân về quản lý và sử dụng nguồn
vốn huy động của sự đóng góp của cộng đồng, từ đó sửa chữa kế hoạch và công
khai cho cộng đồng. Vì người dân hài lòng thì công tác xây dựng NTM mới thực
sự thành công.
Công tác kiểm tra và giám sát cần đảm bảo công bằng, minh bạch thì như
vậy người dân mới thấy hài lòng và tin tưởng vào công tác xây dựng NTM.
Muốn thực hiện được điều đó thì chúng ta cần lấy ý kiến của người dân về công
tác kiểm tra và giám sát để biết được mong muốn thực sự của người dân và từ đó
đưa ra các giải pháp để đáp ứng mong muốn của người dân.
2.1.3.2 Đánh giá sự hài lòng của người dân về đóng góp bằng ngày công lao
động, tiền, hiện vật trong xây dựng NTM
* Phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội nông thôn
+ Giao thông: đóng góp của người dân vào xây dựng mới các tuyến đường
giao thông cũng như đầu tư nâng cấp đường trục xã, liên xã, đường trục thôn
xóm, đường ngõ xóm; trục đường chính nội đồng.
10
+ Thủy lợi: đóng góp của người dân trong kiên cố hóa mương nội đồng
gắn với hệ thống kênh mương hệ thống thủy lợi; đảm bảo tưới 95% diện tích lúa.
+ Điện: Đóng góp của người dân trong đầu tư xây dựng mới các trạm tiêu chí
áp, đường dây trung thế, đường dây hạ thế; hoàn thiện các công trình phụ trợ đảm
bảo an toàn kỹ thuật ngành điện và đảm bảo 100% hệ thống chiếu sáng công cộng
* Phát triển kinh tế: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản
mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án. Đặc biệt, vì không có quỹ bồi
thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều
do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ
cho phong trào. Chính phủ Hàn Quốc chú trọng phát triển sản xuất để tăng thu
nhập của người dân. Chính phủ Hàn Quốc phát huy dân chủ để phát triển nông
thôn. Hàn Quốc thành lập hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của
Chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo
mức độ cần thiết của địa phương. Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các
nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám
sát công trình. Phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã
thiết lập lại các hợp tác xã kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của người dân, cán
bộ hợp tác xã do dân bầu chọn (Tuấn Anh, 2012).
Kinh nghiệm rút ra từ cách làm xây dựng nông thôn mới của Hàn Quốc là
lấy người dân làm chủ, để người dân là người quyết định quá trình xây dựng
nông thôn mới, các giải pháp phát triển xây dựng nông thôn mới đều dựa vào nhu
cầu, mức độ cần thiết của chính người dân để người dân tự quyết định đóng góp
như thế nào và đóng góp bao nhiêu. Như vậy, có thể thấy Chính phủ Hàn Quốc
đã xây dựng nông thôn mới theo phương châm là thỏa mãn nhu cầu, sự hài lòng
của người dân về việc đóng góp xây dựng nông thôn mới mới và chính điều đó
nên xây dựng NTM ở Hàn Quốc mới thành công được.
b/ Kinh nghiệm của Thái Lan
Chìa khoá thành công của chương trình phát triển vùng nông thôn trong
hơn một thập kỷ gần đây là đóng góp “Mỗi xã một sản phẩm” (One Tambon One
Product) gọi tắt là OTOP do nguyên Thủ tướng Thaksin Shinawatra khởi xướng
năm 2001. Mục tiêu tổng thể của OTOP là: Xây dựng xã, cộng đồng vững mạnh,
phát triển tự lực của nhân dân và xây dựng gia đình hạnh phúc có chất lượng. Cụ
thể hơn là: tạo công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư; xây dựng xã, cộng đồng
vững mạnh; phát triển trí tuệ, truyền thống địa phương; đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực và thúc đẩy sự sáng tạo của cộng đồng. Để triển khai OTOP,
OTOP làng, lễ hội làng du lịch OTOP... Các sản phẩm OTOP không chỉ được
bày bán tại các địa điểm bán hàng truyền thống mà còn được đưa vào cả trụ sở
13
hành chính các cấp, nhà ga, sân bay, các khách sạn, nhà hàng... tạo nên tổng thể
cả xã hội sản xuất, kinh doanh sản phẩm OTOP (Việt Dũng, 2014).
Để có sự thành công của chương trình OTOP, ngoài vai trò chính về chỉ
đạo, tổ chức thực hiện nhất quán, xuyên suốt của Chính phủ là sự tham gia tích
cực với tư duy sản xuất hàng hoá hướng đến xuất khẩu, sự chịu khó học hỏi, tiếp
cận kinh tế thị trường, hợp tác sản xuất của người dân, của chủ doanh nghiệp,
HTX. Qua đó, ta thấy người dân Thái Lan đã hoàn toàn tin tưởng, hài lòng và
tham gia đóng góp tích cực vào các chủ trương xây dựng nông thôn mới của
Chính phủ Thái Lan.
2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong xây dựng NTM nhằm đáp
ứng nhu cầu và sự hài lòng của người dân ở Việt Nam
a/ Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh
Công cuộc xây dựng nông thôn mới ở thành phố Hồ Chí Minh đang được
người dân đồng tình, ủng hộ cao, thể hiện qua tỷ lệ hài lòng trong cuộc khảo sát
mới nhất của thành phố với 1.300 hộ trên địa bàn 5 xã điểm xây dựng nông thôn
mới của thành phố bao gồm: Thái Mỹ, Xuân Thới Thượng, Tân Nhựt, Nhơn Đức
và Lý Nhân. Khi được phát phiếu đánh giá sự hài lòng của người dân thành phố
thì họ phản hồi tốt và rất hào hứng khi được nêu ý kiến của mình về chương trình
xây dựng nông thôn mới. Kết quả thu về về chỉ số hài lòng của người dân về các
công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, kết quả khảo sát cho thấy, có tới 821 ý kiến
(chiếm 63,2%) cho rằng các công trình này đã phát huy tác dụng rất tốt trong
phát triển sản xuất và đời sống dân sinh, 461 ý kiến (35,5%) cho rằng phát huy
tác dụng và 18 ý kiến (chiếm 1,4%) cho rằng chưa phát huy tác dụng. Còn đánh
giá về chỉ số hài lòng của người dân về phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập,
giáo dục, văn hóa – thể thao, giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi, môi trường
nông thôn, nước sinh hoạt, thực hiện quy chế dân chủ, dịch vụ công, dịch vụ sản
xuất, an ninh trật tự nông thôn. Kết quả 12 nội dung lấy ý iến đều đạt trên 90%
đánh giá hài lòng với kết quả đạt được. Còn với xã Yên Bình, thị xã Tam Điệp thì
chỉ có 673 đại diện hộ tham đánh giá (tỷ lệ 63,3% tham gia). Tuy nhiên kết quả 12
nội dung lấy ý kiến đều đạt từ 97% đến trên 99% đánh giá hài lòng với kết quả đạt
được. Qua đó, cho thấy người dân tỉnh Ninh Bình thật sự hài lòng với kết quả đạt
được của đóng góp xây dựng nông thôn mới. Có một số ít người dân không hài
lòng vì họ chưa thực sự tin tưởng vào kết quả của chương trình, nhu cầu, nguyện
vọng của họ cao hơn so với kết quả đạt được, công tác tuyên truyền còn chưa thực
sự hiệu quả đối với họ (Văn phòng điều phối tỉnh Ninh Bình, 2014).
15
2.3 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Có nhiều công trình nghiên cứu về sự hài lòng của người dân về sử dụng
các loại dịch vụ công, về du lịch có thể kể đến như :
- Luận văn thạc sỹ của Lương Thị Thùy Dương (2012) “Đo lường sự thỏa
mãn của khách hàng đối với dịch vụ y tế tại Phòng khám đa khoa Tín Đức, thành
phố Nha Trang”. Kết quả nghiên cứu với 351 mẫu cho thấy có 7 thành phần ảnh
hưởng đến sự hài lòng của khách hàng: chi phí điều trị, Năng lực phục vụ, đồng
cảm, Phương tiện hữu hình, Thời gian chờ đợi, Sự tin cậy.
- Luận văn thạc sỹ của Đỗ Văn Cường (2012) “Đánh giá mức độ hài lòng
của người nộp thuế đối với chất lượng dịch vụ tuyên truyền hỗ trợ tại cục thuế
tỉnh Kiên Giang”. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ hài lòng của người nộp
thuế đối với chất lượng dịch vụ tuyên truyền hỗ trợ tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
gồm 7 thành phần: 1. Cảm thông, công bằng; 2. Tin cậy; 3. Đáp ứng; 4. Công
khai quy trình; 5. Năng lực phục vụ; 6. Cơ sở vật chất; 7. Công khai công vụ.
- Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Trang (2012) “Nghiên cứu sự hài lòng
PHẦN III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Can Lộc
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Can Lộc là một huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh. Địa giới hành
chính được xác định như sau:
Phía Bắc giáp với huyện Nghi Xuân và thị xã Hồng Lĩnh
Phía Nam giáp với huyện Thạch Hà
Phía Tây giáp với huyện Đức Thọ và Hương Khê
Phía Đông giáp với huyện Lộc Hà
Huyện Can Lộc cách thành phố Hà Tĩnh 20km, cách thị xã Hồng Lĩnh
10km, cách thành phố Vinh (Nghệ An) 30km. Huyện nằm ở vị trí đầu mối giao
thông quan trọng Quốc lộ 1A, Quốc lộ 15... rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế,
mua bán hàng hóa, phát triển văn hóa với các vùng khác.
3.1.1.2 Địa hình
Can Lộc có địa hình lòng chảo, nghiêng từ Tây sang Đông và từ Bắc vào
Nam, phía Tây và phía Bắc là dãy núi cao, kế tiếp là đồi thoải đến dải đồng bằng
nhỏ hẹp. Địa hình huyện Can Lộc bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi và đồi núi.
3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết, thủy văn
Khí hậu của huyện Can Lộc là phân thành 2 vùng rõ rệt: Mùa khô bắt đầu
từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm, đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam thổi
mạnh nên gây nên hạn hán nghiêm trọng; mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng
1 năm sau, mùa này thường xuất hiện bão, mùa này có lượng mưa lớn nên
thường gây ra ngập lụt.
Nhiệt độ: trung bình năm là 23,5oC, cao nhất là tháng 7 (39,7oC), thấp
nhất là tháng 12 (7oC).
19