Số hóa bởi trung tâm học liệu
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI MINH TÂN
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG
VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN KIM BÔI - TỈNH HÒA BÌNH Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60-62-01-16
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Trọng Bình
đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái nguyên, ngày 19 tháng 10 năm 2013
Tác giả đề tài
Bùi Minh Tân
Số hóa bởi trung tâm học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay em đã hoàn thành
bài luận văn tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên với đề tài “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi - tỉnh Hòa Bình”,.
Có được kết quả này lời đầu tiên em xin gửi lời cám ơn đến các thầy
cô giáo: TS. Vũ Trọng Bình, TS. Bùi Đình Hòa, PGS.TS. Đinh Ngọc
Lan, PGS.TS. Dƣơng Văn Sơn đã hướng dẫn em trong quá trình hoàn
thành luận văn. Các thầy cô đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho em những
kiến thức lý thuyết, thực tế cũng như các kỹ năng trong viết bài, đồng thời
cũng chỉ rõ những thiếu sót và hạn chế để em hoàn thành bài báo cáo với kết
quả tốt nhất. Các thầy cô luôn là người truyền động lực giúp em hoàn thành
tốt giai đoạn thực tập tốt nghiệp và viết luận văn.
Cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các phòng ban của UBND
huyện Kim Bôi, UBND các xã Nam Thượng, Bắc Sơn, Trung Bì đã nhiệt
tình giúp đỡ em, cung cấp cho em các thông tin, số liệu để phục vụ cho bài
báo cáo. Đã tạo mọi điều kiện giúp em hoàn thành luận văn.
1.1.7. Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong
PTNT 13
2.1.8. Các chỉ tiêu để xác định sự tham gia 15
1.1.9. Căn cứ pháp lý để xây dựng nông thôn mới 15
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 16
1.2.1. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
16
1.2.2. Những kết quả bước đầu về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
22
1.2.3. Bài học kinh nghiệm từ xây dựng nông thôn mới 33
Số hóa bởi trung tâm học liệu
iv
Chƣơng 2 ĐỐI TƢỢNG NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 36
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 36
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 36
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 36
2.3. Nội dung nghiên cứu 37
2.4. Phương pháp nghiên cứu 37
2.4.1. Phương pháp điều tra hộ: Gồm các bước sau 37
2.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 39
Chƣơng 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kim Bôi 40
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 40
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 42
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với quá
trình tham gia của cộng đồng 45
3.2. Tình hình xây dựng NTM ở 3 xã nghiên cứu 46
MTQG
: Mục tiêu quốc gia
XĐGN
: Xóa đói giảm nghèo
PTNT
: Phát triển nông thôn
NN&PTNT
: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
LĐ, TB&XH
: Lao động, Thương binh và Xã hội
NTM
: Nông thôn mới
NQ/TW
: Nghị quyết Trung ương
CSHT
: Cơ sở hạ tầng
QĐ - TTg
: Quyết định thủ tướng
NQ-CP
: Nghị quyết Chính phủ
CNH-HĐH
: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CSXH
: Chính sách xã hội
NVL
: Nguyên vật liệu
BQL
: Ban quản lí
BCĐ
: Ban chỉ đạo
ĐBKK
: Đặc biệt khó khăn
VSMT
: Vệ sinh môi trường
USD
: Đôla mỹ
Số hóa bởi trung tâm học liệu
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU Bảng 3.1. Một số thông tin 3 xã điểm thời điểm cuối năm 2012 47
Bảng 3.2. Mức độ đạt các tiêu chí của 3 xã theo 19 tiêu chí của QĐ 491 48
Bảng 3.3. Một số công trình CSHT có sự tham gia của người dân trong
xây dựng NTM 52
Bảng 3.4. Sự tham gia của người dân vào việc ra quyết định trong
chương trình NTM 53
Bảng 3.5. Đánh giá của người dân về sự tham gia xây dựng CSHT trong
mỗi dự án 58
Bảng 3.6. Giá trị đóng góp của hộ cho xây dựng các công trình hạ tầng 61
Bảng 3.7. Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động đóng
góp bằng tiền 63
Bảng 3.8. Đóng góp của hộ cho xây dựng CSHT theo năm 66
Bảng 3.9. Tổng hợp các nội dung tham gia của người dân trong cải thiện
điều kiện ở 69
Bảng 3.10. Đóng góp của hộ gia đình để cải thiện điều kiện ở qua các năm 73
Bảng 3.11. Hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vật trong các dự án phát triển sản xuất 75
Bảng 3.12. Tổng hợp giá trị đóng góp của cộng đồng cho xây dựng
NTM ở 3 xã điểm (tính đến hết tháng 6/2013) 78
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết 26 - NQ/TW ngày 05 tháng 08
năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về Nông nghiệp,
Nông dân, Nông thôn. Thực hiện Nghị quyết 26, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 800/QĐ - TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về xây dựng NTM giai đoạn 2010 –
2020. Đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị
và an ninh quốc phòng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội,
được thực hiện trên phạm vi cả nước.
Trước giai đoạn 10 năm thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM
đã có 10 năm triển khai các hoạt động thử nghiệm thông qua các chương trình
thí điểm xây dựng NTM ở nhiều địa phương. Giai đoạn 2001 – 2005 là
chương trình thí điểm NTM cấp xã của Ban Kinh tế Trung ương; giai đoạn
2007 – 2009 là chương trình thí điểm NTM cấp thôn bản của Bộ NN&PTNT;
giai đoạn 2009 – 2011 là chương trình thí điểm NTM thời kỳ đẩy nhanh
CNH-HĐH do Ban bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo. Song song với các
chương trình này, nhiều địa phương cũng triển khai các hoạt động xây dựng
NTM theo những chương trình riêng của tỉnh, thành phố.
Các chương trình thí điểm và chương trình MTQG xây dựng NTM đều
thực hiện nguyên tắc chủ đạo trong triển khai các nội dung xây dựng NTM là
phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương, các hoạt động cụ
thể do chính cộng đồng dân cư ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ
chức thực hiện. Nguyên tắc này đã xác định xây dựng NTM là một hoạt động
“dựa vào cộng đồng”, phát huy sự tham gia và đóng góp của cộng đồng là
nguồn lực chính để thực hiện các nội dung xây dựng NTM.
Tuy nhiên, theo đánh giá chung từ các chương trình thí điểm, quá trình thử
nghiệm vẫn chưa khơi dậy hiệu quả nguồn lực từ cộng đồng, người dân chưa
Số hóa bởi trung tâm học liệu hóa
bởi trung tâm học liệu
Số hóa bởi trung tâm học liệu hóa
bởi trung tâm học liệu
3
3. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về các văn bản quy định của địa phương, Trung ương về sự
tham gia của cộng đồng trong quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn nghiên cứu.
- Tìm hiểu sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới ở
huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình, theo các qui định của Trung ương, địa
phương và sáng tạo của cơ sở.
- Trao đổi kết quả với cộng đồng, chính quyền cơ sở để đề xuất một số
giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình.
4.Ý nghĩa của đề tài
4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Thông qua quá trình thực hiện đề tài giúp cho tôi có điều kiện củng cố
và áp dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tiễn đồng thời bổ xung
những kiến thức còn thiếu cho bản thân.
- Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình rất lớn đã và
đang được triển khai trên khắp các tỉnh thành trong cả nước. Do vậy, những
nghiên cứu của tôi trong đề tài này sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Nghiên cứu được mức độ tham gia của cộng đồng trong quá trình xây
dựng nông thôn mới sẽ cung cấp thông tin gốc từ thực địa cho quá trình xây
dựng NTM ở Kim Bôi – Hòa Bình và Trung ương, để chỉ đạo xây dựng NTM
sẽ sát thực tiễn nhu cầu của người dân hơn.
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở, căn cứ để đề xuất một số giải pháp thực
tiễn nhằm xây dựng nông thôn mới thành công và đạt hiệu quả cao tại Kim
mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời
phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn
nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng
khoa học và công nghệ. PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động
có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công
nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường. Nó không thể tiến hành một cách
độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát
triển quốc gia. Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự
nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của đất nước (Phạm
Vân Đình và cs, 1997) [8].
Số hóa bởi trung tâm học liệu hóa
bởi trung tâm học liệu
5
1.1.2. Nông thôn mới
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW [20] đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông
thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc
văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ
thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”.
Trong quyết định Số 800/QĐ-TTg [22] đưa ra mục tiêu trung về xây
dựng mô hình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức
sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ;
gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ,
ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an
ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày
càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn không phải là thị
Bộ NN & PTNT, 2009) [18].
1.1.4. Khái niệm cộng đồng và mức độ tham gia của cộng đồng
Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011) [16], có nhiều khái niệm về cộng
đồng, trong đó nổi bật hai khái niệm: theo Marcia L.Conner “cộng đồng là
các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích và mối quan tâm”. Khái
niệm này đã phản ánh được những đặc trưng mang tính bản chất của cộng
đồng. T.Schouten và P. Moriarty lại cho rằng: “cộng đồng sinh ra và tồn tại
do một nhóm những người đồng sở thích, nhưng cộng đồng không chỉ có
nghĩa chỉ là một nhóm gồm những cá nhân đó mà còn bao hàm cả mối quan
hệ, hành vi, ứng xử và sự tương tác giữa các thành viên”. Trên thực tế, không
có một cộng đồng thuần chất. Trong một cộng đồng có thể bao gồm cả những
người giàu, người nghèo từ các giai tầng xã hội khác nhau, có trình độ kiến
thức và nhu cầu cụ thể khác nhau, nhưng có cùng mối quan tâm và lợi ích
chung. Mặt khác, một cá nhân có thể đồng thời thuộc về vài cộng đồng tại
cùng một thời điểm do bản thân họ có nhiều mối quan tâm, nhiều sở thích và
chia sẻ lợi ích với nhiều nhóm người khác nhau; trong một cộng đồng số
thành viên thường có xu hướng biến đổi. Cộng đồng nông thôn gắn kết với
nhau trên cơ sở tình làng nghĩa xóm truyền thống và quan hệ trong nội bộ
dòng tộc.
Số hóa bởi trung tâm học liệu hóa
bởi trung tâm học liệu
7
Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng”. Từ điển
tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, 1992 giải thích: “cộng đồng là toàn thể những
người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó
thành một khối”. Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1999
giải thích: “cộng đồng là tập hợp những người có những điểm giống nhau
làm thành một khối như một xã hội”. Cộng đồng là một nhóm người có cùng
những đặc điểm chung, ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ
công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao.
(iii) Đóng góp xây dựng các công trình công cộng của làng, xã như:
đường giao thông thôn, xóm; kiên cố hóa kênh mương; vệ sinh công cộng,
Theo giải thích trong cuốn sổ tay này thì “nội lực của cộng đồng” chính là
những đóng góp bằng tiền và công sức của người dân và cộng đồng. Cách hiểu
này chưa thật đầy đủ vì ngoài đóng góp bằng tiền và công sức, người dân và
cộng đồng còn có thể đóng góp cho xây dựng nông thôn bằng các nguồn nội lực
khác như: đất đai và các tài sản khác (nguyên vật liệu của hộ và của cộng đồng:
tre, luồng, cát, sỏi ở địa phương); trí tuệ và năng lực của người dân; hoặc bằng
các mối quan hệ xã hội, quyền được ra quyết định ( Nguyễn Tiến Định và cs,
2010) [15].
Trong nghiên cứu này, nội lực từ người dân được hiểu là những nguồn lực sẵn
có của người dân có thể đóng góp cho phát triển nông thôn, các công việc làm tham
gia của người dân cũng chính là nội lực. Cụ thể nội lực của người dân bao gồm:
- Tiền (vốn tài chính);
- Sức lao động;
- Tài sản sở hữu (đất đai và các tài sản khác);
- Trí tuệ và năng lực (trình độ, kỹ năng);
- Quan hệ xã hội (quyền ra quyết định, mối quan hệ).
a) Nguồn lực cộng đồng:
Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011) [16], một cách khái quát nhất,
nguồn lực từ cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực tế trong cộng đồng giúp
người dân tạo dựng cuộc sống cho chính họ (Gord Cunningham, 2006). Trong
tài liệu tập huấn Kỹ năng phát triển cộng đồng (Đại học An Giang, 2007),
nguồn lực cộng đồng được khái niệm một cách toàn vẹn bao gồm các thành
phần sau:
Số hóa bởi trung tâm học liệu hóa
bởi trung tâm học liệu
9
Số hóa bởi trung tâm học liệu hóa
bởi trung tâm học liệu
10
- Hơn thế nữa, một cộng đồng càng phát triển và năng động, thì càng có
khả năng thu hút người dân ở lại, và giữ họ không di chuyển đi nơi khác
(Nguyễn Ngọc Luân và cs, 2011) [16].
c) Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng
Theo các phân tích ở trên thì vai trò của cộng đồng trong phát triển nông
thôn được xác định là rất quan trọng. Các nguồn lực cộng đồng có thể huy
động cho phát triển nông thôn cũng rất đa dạng. Chính vì thế, những năm vừa
qua, cách tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được thực hiện phổ
biến ở nhiều chương trình, dự án phát triển nông thôn trên thế giới.
Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011) [16]: Phát triển nông thôn dựa
vào cộng đồng (Community-Based Rural Development –CBRD) là phương
pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để phát triển các lĩnh vực khác nhau ở khu
vực nông thôn. Phương pháp tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng
được nhiều chương trình/dự án sử dụng phổ biến. Mỗi chương trình/dự án có
mục tiêu riêng, có thể là nhằm tăng cường vai trò của phụ nữ trong cộng
đồng, phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, quản lý nguồn
tài nguyên rừng, cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn…
Chính vì thế, có rất nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nông thôn
dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên có một điểm chính vẫn còn đang có nhiều
tranh luận, đó là cách hiểu như thế nào là “dựa vào cộng đồng” (community-
based). Có ý kiến cho rằng, ở các nước đang phát triển, vấn đề phát triển nông
thôn là rất quan trọng do phần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn và hoạt
động chính là sản xuất nông nghiệp, vì thế rất nhiều tổ chức khác nhau áp
dụng các biện pháp phát triển cộng đồng khác nhau đã được thực hiện tại các
quốc gia này. Hầu hết những nỗ lực hỗ trợ phát triển này được tạo ra từ phía
bên ngoài cộng đồng (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu –
bất kì mục tiêu nào và không đựơc bỏ qua. Cohen và Uphoff (1979) đã đưa ra
khung phân tích để giám sát vai trò của tham gia trong các dự án và chương
trình phát triển. Họ thấy có 4 lĩnh vực tham gia: (1) ra quyết định, (2) thực
hiện, (3) hưởng lợi, (4) đánh giá (Vũ Trọng Bình) [1].
Trong khi đó, Finsterbusch và Wiclin(1987) nhận thấy dự án có 3 pha và 5
hình thức tham gia là: (1) Lập kế hoạch (nguyên gốc và thiết kế), (2) Thực hiện
(thực hiện và thiết kế lại), và (3) bảo dưỡng. Khung phân tích Cohen và Uphoff có
mục tiêu tham gia và khung phân tích Finsterbusch và Wiclin có mục tiêu dự án,
nhưng chúng tương hợp để phù hợp với thực tế. Trong nghiên cứu sự tham gia
Số hóa bởi trung tâm học liệu hóa
bởi trung tâm học liệu
12
của địa phương về các hoạt động phát triển ở nông thôn Thái Lan, Pong Quan
(1992) quan sát thấy tham gia bao gồm: đóng góp, hưởng lợi, liên quan đến ra
quyết định và đánh giá. Tham gia hưởng lợi trong đánh giá dự án là không đáng
kể nên điều này có thể bỏ qua trong nghiên cứu của chúng ta, điều này cũng thấy
trong nghiên cứu của Finsterbusch và Wiclin ( Vũ Trọng Bình) [1].
Khi áp dụng vào thực tế, sự tham gia dường như thể hiện ở nhiều dạng
khác nhau. Sự tham gia là một khái niệm khó nắm bắt mà sự phân biệt giữa
các dạng khác nhau là không dễ dàng. Tuy nhiên, trong bản tóm tắt của các
dự án phát triển của các quốc gia và các tổ chức phi hính phủ, Oakley (1987)
có gợi ý rằng ba dạng khác nhau của sự tham gia trong thực tế là: đóng góp,
tổ chức và trao quyền (Vũ Trọng Bình) [1].
Tham gia là đóng góp: Theo cách hiểu này, sự tham gia nhấn mạnh
đến sự tự nguyện hay các dạng khác của sự đóng góp của người dân nông
thôn để quyết định trước các chương trình và dự án. Ví dụ như các dự án về y
tế, cấp nước, lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên
nhiên chủ yếu nhằm vào sự đóng góp của người dân nông thôn ẩn trong sự
tham gia và thực sự là cơ sở để thành công ( Vũ Trọng Bình) [1].
hệ xã hội, và vv Trong nghiên cứu khác, W. Alters và các cộng sự (1999)
thấy rằng lịch sử di dân và định cư của hộ gia đình cũng ảnh hưởng tới sự
tham gia.
Feachem (1980) nhấn mạnh 5 vấn đề khó khăn về tham gia của cộng đồng
trong cung cấp nước sạch và công nghệ vệ sinh: khả năng áp dụng trong thực
tiễn, tính thích hợp, giá thành, tiêu chuẩn, và hoàn cảnh chính trị. Các dự án vệ
sinh và cung cấp nước sạch có thể được hoàn thiện nếu: (1) thiết kế hoàn chỉnh;
(2) giảm giá thành công trình; (3) hỗ trợ và giảm giá thành vận hành và bảo
dưỡng.; (4) thực hiện các lợi ích của dự án; và (5) khuyến khích cộng đồng chủ
động phát triển.
Điều kiện môi trường cộng đồng: điều kiện môi trường cộng đồng cũng
ảnh hưởng tới mức độ tham gia của người dân. Các yếu tố môi trường khác nhau
có ảnh hưởng tới việc thammgia vào dự án. (Cohen và Uphoff, 1980; Finterbusch,
1989). Xu thế và sự kiện lịch sử có những hệ quả quan trọng đối với sự tham gia
của người dân. Các sự kiện như: lịch sử di dân và định cư; dòng giống gia đình và
nhóm, lịch sử của các tổ chức chính trị xã hội và các xung đột vv ( Walter và
cộng sự, 1999). Các hoạt động phát triển trong cộng đồng được tổ chức thông qua
Số hóa bởi trung tâm học liệu hóa
bởi trung tâm học liệu
14
hoạt động tập thể, người dân địa phương tụ họp cùng nhau để làm việc. Ở các
cộng đồng nông thôn, ở mức độ nào đó, người dân luôn duy trì một số các hoạt
động tập thể, ví dụ: các hoạt động cộng đồng như xây dựng nhà, lễ hội vv (Vũ
Trọng Bình) [1].
Tính cộng đồng: Ý thức cộng đồng có thể tự thể hiện bằng việc tự
nguyện tham gia vào các hoạt động tập thể của cộng đồng. Trong nghiên cứu
về phong trào làng mới (Saemual Undong) ở Hàn Quốc, Park (2001) nhận thấy,
tính đồng nhất của những nông dân trong khuôn khổ kinh tế - xã hội là yếu tố
quan trọng dẫn tới sự hợp tác chặt chẽ giữa người dân trong thôn khi thực hiện
2.1.8. Cỏc ch tiờu xỏc nh s tham gia
Theo V Trng Bỡnh [1] Trong nghiờn cu phỏt trin tham gia vựng
nụng thụn Nigeria, Okarfor(1997) nhn thy 4 lnh vc tham gia, v do ú 4
yu t o phm vi tham gia l:
(1) tham giam vo cuc hp ca d ỏn;
(2) tham gia vo vic ra quyt nh
(3) tham gia vo giỏm sỏt cỏc d ỏn phỏt trin;
(4) tham gia úng gúp vn;
S tham gia cú th ỏp dng cho rt nhiu cỏc hot ng tng hiu qu ca
cỏc hot ng hoc d ỏn. S tham gia cng c trng cho qun lý ti nguyờn thiờn
nhiờn (Lise 2000; Dupar 2002; Seker 2001;). S tham gia cng úng vai trũ ỏng
k trong xõy dng c s h tng, nh cụng trỡnh thy li, giao thụng, h thng in,
v vv (UNCDF; Feachem, 1980; Jogresen et al., 2001; lam 2001). Nú cng cú vai
trũ tớch cc trong cỏc hot ng vn húa xó hi nh l cỏc d ỏn v y t, giỏo dc
vv.(Rao et al., 2004) (V Trng Bỡnh) [1].
1.1.9. Cn c phỏp lý xõy dng nụng thụn mi
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung
-ơng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
Ngh quyt s 24/2008/NQ-CP, ngy 28/10/2008 ca Chớnh ph ban hnh
chng trỡnh hnh ng thc hin ngh quyt hi ngh ln th 7 Ban Chp hnh
Trung ng ng khúa X v nụng nghip, nụng dõn, nụng thụn [18].
Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 của Thủ t-ớng Chính
phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Quyt nh s 22/Q-TTg ca Th Tng Chớnh ph ngy 05 thỏng 01
nm 2010 Phờ duyt ỏn "Phỏt trin vn húa nụng thụn n nm 2015, nh
hng n nm 2020.
Số hóa bởi trung tâm học liệu hóa
bởi trung tâm học liệu
16