HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THANH TUẤN
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM BẢNG,
TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THANH TUẤN
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM BẢNG,
TỈNH HÀ NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN QUANG HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Trần Thanh Tuấn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục hình
3
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
3
1.1.2 Đặc trưng của nông thôn mới
3
1.1.3 Chức năng của nông thôn mới
4
1.1.4 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới
6
1.1.5 Nội dung xây dựng nông thôn mới
7
1.1.6 Các nguyên tắc của Chương trình xây dựng nông thôn mới
7
1.1.7 Vị trí và phạm vi của xây dựng nông thôn mới
8
15
Page iii
1.3.4 Thái Lan: Nhà nước trợ giúp mạnh mẽ
16
1.3.5 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
19
1.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại Việt nam
20
1.4.1 Trên phạm vi toàn quốc
20
1.4.2 Trên địa bàn tỉnh Hà Nam
27
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29
2.1 Nội dung nghiên cứu
Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu
30
2.2.3 Tổng hợp và xử lý số liệu
30
2.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu
31
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
32
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kim Bảng
32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
32
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
34
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Phong
55
3.3.2 Kết quả xây dựng nông thôn mới tại xã Nhật Tân
62
3.3.3 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch nông thôn mới xã Khả Phong
và xã Nhật Tân
67
3.4 Giải pháp đấy mạnh xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Bảng
70
3.4.1 Đề xuất một số giải pháp để hoàn thành các chỉ tiêu chưa đạt
70
3.4.2 Cần xem xét điều chỉnh một số tiêu chí trong Đề án quy hoạch các
xã đã được phê duyệt theo Bộ tiêu chí nông thôn mới
73
3.4.3 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện quy hoạch xây dựng
nông thôn mới
74
CN
Công nghiệp
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CTCC
Công trình công cộng
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTX
Hợp tác xã
NN
Nông nghiệp
NNPTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTM
Trang
Kết quả xây dựng nông thôn mới (đến 12/2014) huyện Kim Bảng theo
Bộ Tiêu chí Quốc gia
3.2
40
Tổng hợp tình hình thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới
huyện Kim Bảng đến 11/2014
53
3.3
Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Khả Phong
56
3.4
Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Nhật Tân
62
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
61
3.5
Trường THCS xã Nhật Tân
65
3.6
Đường giao thông nông thôn xã Nhật Tân
65
3.7
Nhà Văn hóa xã Nhật Tân
66
3.8
Nghĩa trang Liệt sỹ xã Nhật Tân
66
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
xuất vật liệu xây dựng, các khu du lịch văn hoá và nghỉ dưỡng; Là khu vực nông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
nghiệp, có giá trị sản xuất nông, thủy sản năm sau cao hơn năm trước.
Ngoài ra, trên địa bàn huyện cũng có một số làng nghề truyền thống như chế biến
gỗ, đồ gốm, dệt vải, mây tre đan…
Trong vài năm trở lại đây, đời sống của người dân tại các xã nơi đây đã được
nâng lên một cách rõ rệt. Số hộ nghèo, số nhà không an toàn giảm mạnh; Số nhà
văn hóa cấp xã và thôn xóm đã được đầu tư xây dựng; Các đường liên thôn, liên xã
được bê tông hóa. Song vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chí nông thôn mới trong bộ
tiêu chí do Chính phủ ban hành.
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới trên
địa bàn huyện Kim Bảng thì việc đánh giá hiện trạng, định hướng, lập và thực hiện
quy hoạch xây dựng nông thôn mới là cần thiết. Trước tiên cần đánh giá việc thực
hiện theo 19 tiêu chí nông thôn mới đối với các xã trên địa bàn huyện nói chung và
việc thực hiện cụ thể tại 2 xã đại diện. Từ đó đánh giá được những việc đã làm
được, những vấn đề còn tồn tại và đề ra những giải pháp cho thời gian tiếp theo.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn và thực hiện đề tài “Đánh giá
tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh
Hà Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh
Hà Nam theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
Đánh giá việc thực hiện quy hoạch nông thôn mới ở 2 xã cụ thể là Khả
Phong và Nhật Tân, rút ra được những ưu điểm, những điểm còn tồn tại, từ đó đề ra
những giải pháp để sớm tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới
1.1.2. Đặc trưng của nông thôn mới
Nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 gồm các đặc trưng: Kinh tế phát triển,
đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được nâng cao; Nông thôn
mới phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường
sinh thái được bảo vệ; Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn
và phát huy; Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao; An ninh tốt, dân chủ
được phát huy.
Việc xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của
đất nước trong thời kỳ đổi mới. Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông thôn, nông dân, nước ta đã đạt được thành
tựu to lớn và khá toàn diện; tuy nhiên, những thành tựu đạt được chư tương xứng
với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng; nông nghiệp phát triển còn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp; việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn
chậm; năng xuất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp, chưa thúc đẩy
mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn; đời sống vật chất và
tinh thần của người dân nông thôn còn thấp; chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn
với thành thị, giữa các vùng miền còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc…Vì
vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho người dân ở nông thôn.
1.1.3. Chức năng của nông thôn mới
1.1.3.1. Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của
tính kế tục. Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư
theo dân tộc, dòng tộc mới là môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá
quê hương. Ngoài ra, các cảnh quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình
thành nên màu sắc văn hoá làng xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời
đất giao hoà, thuận theo tự nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hoà
cũng như chú trọng sự kế tục phát triển của các dân tộc.
Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn nên việc
xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực
đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của
nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn. Điều này không những hạn chế tác
dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh
quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
1.1.3.3. Chức năng sinh thái
Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ những tích luỹ trong suốt một
quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên
nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và
cuối cùng là tôn trọng tự nhiên. Trong nông thôn truyền thống, con người và tự
nhiên sinh sống hài hoà với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự
nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Thành thị là hệ
thống sinh thái nhân tạo phản tự nhiên ở mức độ cao nhất. Quá trình mưu cầu cuộc
sống đầy đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên.
Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người
với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng.
Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
ninh trật tự được giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng trong hệ thống chính trị ở nông thôn, củng cố vững chắc liên minh
công nhân – nông dân – trí thức.
1.1.5. Nội dung xây dựng nông thôn mới
Theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ thì
xây dựng nông thôn mới gồm 11 nội dung về: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao
thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ
chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn;
Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hóa,
thông tin và truyền thông nông thôn; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội
trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn.
1.1.6. Các nguyên tắc của Chương trình xây dựng nông thôn mới
Nguyên tắc 1: Các nội dung, hoạt động của Chương trình phải hướng tới mục
tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ban hành tại
Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
Nguyên tắc 2: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là
chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ,
đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện; các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng
người dân ở nông thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
Nguyên tắc 3: Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia,
chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên
địa bàn nông thôn.
việc chăm chỉ trên cơ sở tính gắn kết cộng đồng, đoàn kết và kỷ luật cao, cộng đồng
làng của họ có thể thực hiện được các công việc khó khăn. Từ đó tạo ra sự thay đổi
của bộ mặt làng quê, người nông dân đồng thời cải thiện đáng kể điều kiện đời sống
vật chất và tinh thần. Kết quả thu được từ phong trào Làng Mới được coi là có vai
trò quan trọng, đóng góp đáng kể vào hiện đại hóa, phát triển khu vực nông thôn và
phát triển đất nước Hàn Quốc. Như vậy yếu tố mới vừa là thay đổi tích cực về chất
- tinh thần người nông dân, vừa là thay đổi tích cực về hình thức - bộ mặt làng quê.
Trong đó thay đổi về chất có vai trò quyết định (Nguyễn Quang Dũng, 2010).
Xây dựng nông thôn mới tập trung vào tổ chức thực hiện các nội dung phát
triển nông thôn tại cấp cơ sở. Việc quản lý và thực hiện trên cơ sở cấp quản lý chính
quyền tiếp xúc trực tiếp với cộng đồng dân cư. Nó có giới hạn về phạm vi địa lý với
vùng diện tích tương đối nhỏ, tương ứng với phạm vi sinh sống của mỗi cộng đồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
dân cư nông thôn. Xây dựng nông thôn mới là một quá trình liên tục, lâu dài. Các nội
dung sẽ bao trùm tất cả các hoạt động phát trienr nông thôn tại cấp cơ sở. Có nhiều
bên với vai trò khác nhau sẽ tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới, đó là
người dân, Nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác (Nguyễn Quang Dũng, 2010).
1.1.8. Vị trí, vai trò của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, quy hoạch và thực hiện quy hoạch
có vai trò quan trọng, nhằm bảo đảm cho việc sử dụng đất và xây dựng hạ tầng thiết
yếu, các khu dân cư khu vực nông thôn vừa theo hướng văn minh, hiện đại, vừa giữ
được bản sắc văn hóa làng, xã của địa phương.
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới sẽ góp phần hạn chế và giảm thiểu các
quy hoạch chắp vá, tùy tiện, giữ gìn và phát huy các không gian kiến trúc truyền
thống vốn có của nông thôn Việt Nam, đồng thời đáp ứng yêu cầu của Chính phủ về
nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để thực hiện mục tiêu
sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới”. Ngày 08-6-2011, Thủ
tướng Chính phủ đã chính thức phát động thi đua “Cả nước chung sức xây dựng
nông thôn mới”.
1.2. Cơ sở pháp lý về xây dựng nông thôn mới
- Luật Xây dựng ngày 26/11/2003;
- Luật Đất đai ngày 26/11/2003;
- Luật Đất đai ngày 29/11/2013;
- Luật Thương mại ban hành ngày 14/6/2005;
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 23/6/2014;
- Luật quy hoạch đô thị ban hành ngày 17/06/2009;
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Khoá X về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn;
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới;
- Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính
phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010- 2020;
- Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về Quy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
- Nghị quyết số 04 NQ/TU ngày 11/5/2011 của Huyện uỷ Kim Bảng về xây
dựng nông thôn mới đến năm 2020;
- Căn cứ Nghị quyết của Đảng ủy, HĐND xã Nhật Tân về thực hiện mục tiêu
quốc gia NTM đến năm 2020.
- Căn cứ Nghị quyết của Đảng ủy, HĐND xã Khả Phong về thực hiện mục
tiêu quốc gia NTM đến năm 2020.
1.3. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới
Dù tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa được thúc đẩy thế nào, các nước
có đa phần dân số làm nghề nông cũng bắt buộc phải chấp nhận một thực tế vài
chục năm, thậm chí hàng trăm năm nữa, số dân tiếp tục dựa vào nông nghiệp để
mưu sinh vẫn là số lớn. Bởi vậy, xây dựng nông thôn mới không phải là một quy
hoạch ngắn hạn, mà là một quốc sách lâu dài...
1.3.1. Nhật Bản: Con đường hiện đại hóa nông nghiệp theo mô hình tiết kiệm
đất đai
Bắt đầu từ thời Minh Trị Duy Tân cho đến trước khi công nghiệp phát triển
nhanh chóng sau chiến tranh, lương thực luôn là một trong những vấn đề chủ yếu
mà Nhật Bản phải đối diện. Một mặt, họ mưu cầu có thể tự cung cấp lương thực,
mặt khác lại gặp phải tình trạng nông nghiệp mất dần ưu thế, vấn đề điều chỉnh
nông nghiệp của Nhật Bản lúc này cực kỳ cấp thiết.
Năm 1870, Nhật Bản nhập nông cụ, phân bón và giống từ các nước Âu, Mỹ
nhằm hiện đại hóa nông nghiệp, mô phỏng Âu, Mỹ thiết lập các xưởng chế tạo nông
cụ, bãi ươm giống, ruộng thí nghiệm... Nhưng thực tiễn đã chứng minh, con đường
hiện đại hóa nông nghiệp theo mô hình “tiết kiệm lao động” của Âu, Mỹ không phù
hợp với một Nhật Bản lạc hậu về kinh tế, đất chật người đông, quy mô nông điền
nhỏ. Xuất phát từ thực tế đó, Nhật Bản lựa chọn một phương thức kinh doanh theo
dân khổ cực, thiếu đói triền miên. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp trong
khi lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra. Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 85
USD... Mặc dù đã có nhiều biện pháp để tăng năng suất lương thực nhưng nhìn
chung nông thôn Hàn Quốc còn rất lạc hậu. Xã hội bị phân chia thành hai khối có
đời sống tinh thần khác hẳn nhau. Trong khi một bộ phận dân cư thành thị tích cực
học tập, với quyết tâm đổi đời thì đại bộ phận nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo
nàn, mang trong mình tư tưởng bi quan, ỷ lại, lối thoát duy nhất của họ là rời bỏ quê
hương, di chuyển về đô thị.
Xuất phát từ tình hình trên, phong trào “Saemaul Undong” ra đời với mục
đích biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn theo tinh thần:
Mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
hơn và giàu hơn. Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn
dựa trên nền tảng “khuyến khích người dân tự hợp tác để giúp đỡ nhau phát triển”,
theo quan điểm “viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không
nghĩ cách tự giúp mình”. Tinh thần “Saemaul Undong” được xây dựng trên 3 trụ
cột: Chuyên cần – Tự giác – Hợp tác. Đó là những giá trị xuyên suốt quá trình phát
triển nông thôn nói riêng, xã hội Hàn Quốc nói chung, đóng góp lớn đưa GDP bình
quân của Hàn Quốc từ 85 USD lên 20.000 USD sau 30 năm phát triển.
Trong thập niên 70, chính phủ nhìn thấy tiềm lực của Saemaul undong nhưng
do ngân sách hạn hẹp nên không thể đưa các dự án về nông thôn. Những khoản vốn
nhỏ giọt từ ngân sách chỉ đủ gói gọn trong 10 nội dung thí điểm phát triển nông
thôn trong đó tập trung vào việc: Mở rộng và nâng cấp đường giao thông; cải tạo và
nâng cấp nhà ở; chỉnh sửa, làm lại bếp và hàng rào; xây dựng cầu; cải tạo và nâng
cấp hệ thống thủy lợi để cấp nước sinh hoạt và sản xuất; xây dựng các khu vực giặt
giũ công cộng; xây dựng giếng nước; xây dựng cầu; cải tạo và nâng cấp hệ thống
nhân dân với sự hỗ trợ giảm dần của Nhà nước để xây dựng nông thôn mới. Xây
dựng nông thôn mới là quá trình lâu dài nhưng trước mắt tập trung hoàn thiện điều
kiện sống của người dân; xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống,
đồng thời phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông thôn. Nhà nước hỗ trợ
nông dân thông qua hình thức cho vay với lãi suất phù hợp để phát triển sản xuất,
nâng cao thu nhập cho nông dân thông qua các hình thức: tăng năng suất cây trồng;
xây dựng vùng chuyên canh; xây dựng các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm, phát triển chăn nuôi, trồng rừng đa canh...; đào tạo đội ngũ cán bộ
phát triển nông thôn, đặc biệt là người lãnh đạo chương trình ở các xã; thực hiện tốt
dân chủ ở cơ sở để xây dựng nông thôn mới và xã hội hóa công tác bảo vệ, phát
triển môi trường nông thôn... (Tài liệu hỏi đáp về xây dựng nông thôn mới, 2012).
1.3.3. Đài Loan: Từ “nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp” tới “công nghiệp bồi
dưỡng nông nghiệp”
Đến cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Đài Loan đã cơ bản thực hiện tự
cung tự cấp lương thực và có dư. Sau khi giải quyết xong vấn đề lương thực, từ năm
1963 trở đi, Đài Loan bắt đầu dồn sức phát triển công nghiệp nhẹ. Điều đáng nói là
lúc này, một số quan chức chính quyền Đài Loan có dấu hiệu coi thường nông
nghiệp, bởi tới năm 1969, sản xuất nông nghiệp trở nên tiêu điều, kéo theo cảnh tiêu
điều trong sản xuất công nghiệp. Trong hoàn cảnh này, chính quyền Đài Loan buộc
phải điều chỉnh chính sách, tức chuyển từ phương châm “nông nghiệp bồi dưỡng
công nghiệp” sang “công nghiệp bồi dưỡng nông nghiệp”. Chính sách cụ thể chủ yếu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15