Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn huyện yên dũng, tỉnh bắc giang - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG VĂN VĨ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ ANH VŨ

Hà Nội, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản thân
tôi, dưới sự hướng dẫn tận tình của TS. Lê Anh Vũ. Các trích dẫn, số liệu trung
thực, chính xác, từ các nguồn thông tin hợp pháp, đảm bảo tính khách quan, khoa
học./.
Trong công trình nghiên cứu này không hề có bất kỳ sự sao chép nào. Tôi xin
cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu toàn bộ trách
nhiệm về lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 03 năm 2018
Tác giả luận văn

Hoàng Văn Vĩ



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nông thôn mới nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn, được xác định trong Nghị quyết số 26 - NQ/TƯ ngày 5/8/2008 của
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Không thể có một nước công
nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân có đời sống văn hóa, vật chất thấp.
Việc xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải có kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội từng bước
hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với
phát triển nhanh công nghiệp và dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh
thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân
ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Muốn thực hiện được nội
dung trên, đòi hỏi nền kinh tế - xã hội phải phát triển bền vững. Một nền kinh tế phát
triển bền vững là cơ sở cho việc thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới.
Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân cư đang
sống ở nông thôn, gần 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân
chiếm hơn 60% lao động xã hội. Các chính sách phát triển nông nghiệp trước đây
thường thiên về thúc đẩy phát triển ngành, có phần xem nhẹ vai trò của nông dân.
Phần lớn các chính sách hầu như chưa thật sự quan tâm xử lý tổng thể và hợp lý
mối quan hệ giữa các vùng, các lĩnh vực trong ngành, giữa nông thôn và thành thị
…. Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn xác định phát triển nông nghiệp nông
thôn đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc
ổn định kinh tế - xã hội đất nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng xác định: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công
bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”.
Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới là: Xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh,

trong xã hội. Quá trình triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ, xây dựng các mô
hình phát triển sản xuất đã có sự chuyển biến tích cực về sản xuất hàng hóa tập
trung, quy mô lớn, đặc biệt đã có sự liên kết giữa người dân, nhà khoa học với các
doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; tạo điều kiện cho người dân yên
tâm sản xuất và nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Chương trình trên địa bàn huyện vẫn còn
những khó khăn, hạn chế dễ nhận thấy như: kinh tế nông thôn chậm phát triển, mức

2


tăng trưởng thấp, sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, làng nghề hoạt
động chưa hiệu quả, việc huy động vốn còn nhiều bất cập... Nguồn lực địa phương
hạn chế, trong khi nguồn vốn hỗ trợ thực hiện của trung ương, tỉnh còn thấp so với
thực tế và phân bổ muộn. Vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại từ các hộ dân về nguồn
vốn ngân sách của nhà nước. Công tác triển khai thực hiện tiêu chí số 1 về Quy
hoạch tại các xã gặp khó khăn do các địa phương chưa bố trí kinh phí thuê đơn vị tư
vấn thực hiện. Nhiều xã lần đầu được phân bổ vốn thực hiện các hạng mục
XDNTM nên việc lập hồ sơ và thực hiện còn gặp khó khăn. Việc tập huấn cho cán
bộ chuyên trách của các xã còn hạn chế…, dẫn đến việc triển khai thực hiện xây
dựng nông thôn mới còn tồn tại những bất cập, không kịp với tiến độ đề ra, năng lực
của các cán bộ chuyên trách một số địa phương không đáp ứng được yêu cầu công
việc. Nhiều địa phương chạy theo thành tích dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản…
Vì những lý do trên cùng với những kiến thức tiếp thu được trong quá trình
nghiên cứu học tập, nên tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn
mới từ thực tiễn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” làm luận văn thạc sĩ ngành
Chính sách công với mong muốn đề tài này góp một phần về định hướng xây dựng
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của huyện Yên Dũng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Đa số các học giả nghiên cứu về phát triển bền vững nông thôn đều thống
nhất cần có một chiến lược xây dựng tầm nhìn dài hạn về phát triển nông nghiệp và
nông thôn. Sự thống nhất này dựa trên đặc trưng vấn đề phát triển nông thôn đảm
bảo tính bền vững cho các hoạt động canh tác nông nghiệp. Phát triển bền vững
nông thôn bao quát một phạm vi rất rộng lớn: Ngoài các vấn đề kinh tế và môi
trường sinh thái, phạm vi của phát triển bền vững nông thôn còn bao gồm các lĩnh
vực liên quan đến xã hội, văn hóa, con người và thể chế, đó là các vấn đề về dân số,
dân cư, di dân, cấu trúc xã hội nông thôn, xung đột xã hội, tình trạng nghèo đói.....
Những nghiên cứu về các yếu tố tác động đến phát triển nông thôn
Trước hết, hầu hết các hộ nông nghiệp thiếu nguồn lực, đặc biệt là đất đai khi
chỉ sở hữu một diện tích đất nhỏ. Họ cũng thiếu vốn cần thiết để mở rộng sản xuất,
chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Ngoài ra, ở các vùng nông thôn, chất lượng lao động cũng
kém do thiếu thốn về y tế và giáo dục. Các điều kiện về nhân khẩu như mật độ dân số
và tỷ suất sinh cao, trong nhiều trường hợp làm trầm trọng thêm những khó khăn này.
Những điều trên dẫn đến năng suất lao động và thu nhập thấp.
Công trình nghiên cứu: “Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến phát
triển nông nghiệp Việt Nam” là một dự án nghiên cứu tập thể do TS. Nguyễn Từ phụ

4


trách. Trong công trình này, các tác giả đã tập trung phân tích các liên kết kinh tế
quốc tế về thương mại và đầu tư trong nông nghiệp; đánh giá chính sách phát triển
nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam; đồng thời khuyến
nghị những giải pháp chủ yếu để phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt các tác giả đã tập trung phân tích những
quy định của WTO về chính sách nông nghiệp của các nước đang phát triển và nêu
những hướng bổ sung, sửa đổi chính sách nông nghiệp của Việt Nam để hội nhập
thành công [20].
Phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể tách rời các nhân tố phát triển

Trong đó nhấn mạnh tới sự tham gia thực sự của nông dân trong quản lý và sử dụng
tài nguyên cũng như vấn đề lồng ghép việc bảo tồn thiên nhiên trong tăng cường
nguồn lực sản xuất. Phát triển kinh tế nông thôn gắn với việc tìm kiếm hệ thống yếu
tố đầu vào bên ngoài thấp, hiệu quả, năng suất và có tính kinh tế thay cho các
phương pháp công nghiệp [14].
* Nghiên cứu nội dung xây dựng nông thôn mới
Trong bài “Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của
Đảng và nhân dân ta” do tác giả Hồ Xuân Hùng đề cập đến nội dung, chức năng
nông thôn mới XHCN Việt Nam; chỉ rõ những nội dung cần có quyết tâm, nguồn
lực và thời gian để thực hiện: Xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại, chuyển dịch cơ
cấu lao động, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân, tổ chức lại sản xuất [5]...
Tóm lại, những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước luận văn đã nêu
trên, là cơ sở quí báu để học viên định hướng nghiên cứu. Tuy đã có nhiều công
trình nghiên cứu về chính sách xây dựng nông thôn mới, nhưng chưa có đề tài nào
nghiên cứu cụ thể nội dung này trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang trong
khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2018 định hướng năm 2020. Do đó, học
viên chọn phạm vi nghiên cứu cụ thể như trên để cung cấp những thực tiễn mới về
chính sách xây dựng nông thôn mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Về mục đích
Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực hiện chính sách xây dựng nông
thôn mới; thực trạng thực hiện chính sách tại huyện Yên Dũng, từ đó đưa ra các
quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn
mới.
- Về nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực hiện chính sách
xây dựng nông thôn mới.

6


dung phân tích. Qua đó tổng hợp lại sẽ đưa ra những kết luận để chỉ rõ bản chất của
các dữ liệu thu thập được nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cho các kết quả nghiên

7


cứu. Ngoài các phương pháp trên luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu
liên ngành, đa ngành với khoa học chính sách công như: xã hội học, quản trị học...
- Phương pháp so sánh: So sánh số liệu thu thập từ các báo cáo đánh giá kết quả
qua quá trình triển khai, rút ra những nhận định, khẳng định và bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp thống kê mô tả: để mô tả, diễn đạt cụ thể về quá trình thực
hiện xây dựng nông thôn mới và những chính sách xây dựng nông thôn mới tại
huyện cũng như những kết quả đạt được nhằm giúp người đọc có thể hiểu rõ về vấn
đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài cung cấp những nghiên cứu, tư liệu, khảo sát thực tế tại huyện Yên Dũng
qua đó góp phần bổ sung thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách công.
Đề tài vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công để làm rõ vấn
đề khoa học và thực tiễn chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Dũng
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua thực tiễn nghiên cứu chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện
Yên Dũng chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong việc hoạch định và thực
thi chính sách, đồng thời kết quả nghiên cứu giúp cho lãnh đạọ huyên Yên Dũng,
các bộ phận liên quan, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học và thực
tiễn để vận dụng, điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện chính sách xây
dựng nông thôn mới ở huyện Yên Dũng một cách hiệu quả hơn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục
các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn còn được bố trí theo 3

một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa
mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất, về cơ chế kinh tế… vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp,
nông thôn [16].
Đến nay, khái niệm nông thôn được trình bày trong Thông tư số 54/2009/TTBNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể:
"Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,
thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã" [2].
1.1.2. Phát triển nông thôn
Với một nước có bề dày truyền thống trong phát triển kinh tế nông nghiệp, ở
Việt Nam hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Địa

9


bàn nông thôn càng trở nên đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của đất
nước theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Từ các quan điểm về nông thôn, có thể hiểu phát triển nông thôn gồm những
đặc điểm sau:
Một là: Phát triển nông thôn là tập hợp các chính sách, các hoạt động nhằm cải
thiện đời sống cho đại đa số người dân nông thôn, nâng cao thu nhập, nâng cao mức
sống cho người dân nông thôn.
Hai là: Lợi ích mà phát triển nông thôn mang lại phải lớn hơn rất nhiều
những tổn thất mà nó gây ra và tốt hơn hết là tổn hại ở mức thấp nhất.
Ba là: Phát triển nông thôn ít nhất đảm bảo cho người dân có mức sống tối
thiểu hoặc những yếu tố cần thiết cho cuộc sống của họ.
Bốn là: Phát triển nông thôn cần phải phù hợp với nhu cầu của người dân
nông thôn,phải đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các vùng nông thôn.
Năm là: Phát triển nông thôn phải gắn liền với việc gìn giữ và bảo bệ môi trường
sinh thái.
1.1.3. Nông thôn mới

[5],[ 6].
Chính sách xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng, cuộc vận động lớn
để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình
khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu
nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực,
chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ,
văn minh [9].
1.2. Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
1.2.1.

Khái niệm và sự cần thiết thực hiện chính sách xây dựng nông thôn

mới
Chính sách xây dựng nông thôn mới được hiểu là một tập hợp các biện pháp
được thể chế hóa, mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ cùng các bộ, ngành từ Trung
ương đến địa phương xây dựng nên, trong đó tạo sự ưu đãi đặc biệt đối với sự phát
triển của nông nghiệp, nông thôn, kích thích vào động cơ hoạt động về mọi mặt của
nông nghiệp nông thôn nhằm thực hiện một mục tiêu xây dựng nông thôn mới với
19 tiêu chí hết sức cụ thể.
Vì vậy, muốn đạt được những thành quả trong xây dựng nông thôn mới thì

11


việc đề ra chính sách rất quan trọng và việc thực hiện chính sách là vai trò tiên
quyết cho thành bại của Chương trình xây dựng nông thôn mới
Như vậy, theo cách hiểu tại luận văn này, thực hiện chính sách xây dựng
nông thôn mới là các biện pháp mà Nhà nước tác động vào vùng nông thôn nhất

+ Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên
tiến;
+ Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du lịch; gắn
phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp
hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;
+ Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống
vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao.
1.2.3. Nội dung thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
Chính sách xây dựng nông thôn mới có nội dung rất rộng, thể hiện trong việc
thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia NTM được ban hành theo Quyết định số 491/QĐTTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1980/QĐ-TTg
ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, gồm 5 nhóm tiêu chí, 19 tiêu chí cụ thể
như sau: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế xã hội; Kinh tế và tổ chức sản xuất; Văn hóa - xã
hội - môi trường; Hệ thống chính trị [17]. Cụ thể:
Nội dung thứ nhất: Về quy hoạch phát triển, xây dựng nông thôn mới: Nội dung
này do UBND cấp tỉnh quy định cụ thể để phù hợp với quy hoạch, điều kiện thực tế,
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tính kết nối của hệ thống giao thông
trên địa bàn.
Nội dung thứ hai: Hạ tầng kinh tế - xã hội bao gồm: (1) Hạ tầng giao thông;
(2) Hạ tầng thủy lợi; (3) Hạ tầng điện; (4) Hạ tầng trường học; (5) Hạ tầng Cơ sở
vật chất văn hóa; (7) Hạ tầng Chợ nông thôn; (8) Hạ tầng Bưu điện; (9) Hạ tầng
Nhà ở dân cư (chi tiết theo quy định của Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày
16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ).
Nội dung thứ ba: Hạ tầng kinh tế và tổ chức sản xuất. Thu nhập bình quân
đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh cần phải đạt tối thiểu 1.2 lần;
Tỷ lệ hộ nghèo (mức chung) dưới 6%, còn tùy theo từng địa phương mà có thể dao
động từ 10 – 3%: Về cơ cấu lao động thì, Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong
độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động phải đạt từ 90% trở lên ở tất cả các
địa phương; Về Tổ chức sản xuất, Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định
của Luật Hợp tác xã năm 2012 và có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông

xây dựng nông thôn mới (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện);
-

Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng, nông thôn theo 19 tiêu chí của

Bộ tiêu chí đã ban hành;
-

Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã;

-

Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã;

-

Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án;

-

Bước 7: Giám sát, tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm và báo cáo về

tình hình thực hiện Chương xây dựng nông thôn mới.

14


1.2.4. Chủ thể và các bên liên quan thực hiện chính sách xây dựng nông
thôn mới
Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta đã khẳng định:



NTM là chương trình mục tiêu quốc gia, chủ thể tham gia xây dựng NTM là toàn
Đảng, Nhà nước và người dân nông thôn cùng thực hiện. Đảng chỉ đạo xây dựng
nông thôn mới, nội dung được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp - Nông
dân - Nông thôn. Thủ tướng Chính phủ ban hành: Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày
16/4/2009 về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, Quyết định
800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010-2020. Các Bộ, ngành ban hành văn bản hướng dẫn
thực hiện các Tiêu chí xây dựng NTM. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện hướng
dẫn và chỉ đạo thực hiện. Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng nội dung cụ thể công
việc, lấy ý kiến của nhân dân và tổ chức thực hiện.
Các nhà tài trợ trong xây dựng nông thôn mới: Chương trình mục tiêu Quốc gia
về xây dựng nông thôn mới cần sự hỗ trợ thực hiện quy hoạch các vùng chuyên canh,
sản xuất nguyên liệu, xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, hỗ trợ nghiên cứu, áp
dụng khoa học công nghệ, áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, đào tạo nghề, hỗ trợ tài
chính, tín dụng, tiếp thị, phát triển thị trường, hỗ trợ các hoạt động nâng cao văn hóa
tinh thần cho dân cư nông thôn để tạo ra nếp sống mới thông qua phát triển, bảo tồn
văn hóa truyền thống... do đó, cần đổi mới về cơ chế, hình thức tổ chức thông qua việc
thu hút đầu tư doanh nghiệp trong và ngoài nước về nông thôn, phát triển liên kết cộng
đồng, đẩy mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, xây dựng hiệp hội các ngành hàng với
sự tham gia của nông dân nhằm huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới.
Nguồn nhân lực tham gia xây dựng nông thôn mới gồm: Cán bộ lãnh đạo các
cấp, các Ban chỉ đạo, văn phòng điều phối, cán bộ chuyên môn các cấp, cán bộ
kiêm nhiệm, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các cơ quan hoạch định chính
sách. Đặc biệt đóng vị trí vai trò trong việc thành bại của công cuộc xây dựng nông
thôn mới. Người dân đóng góp công sức, tiền của do người dân và cộng đồng đầu tư
bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: Xây dựng, nâng cấp nhà ở, nhà
bếp; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu

địa phương trên cả nước.
1.3.2. Môi trường thực thi chính sách xây dựng nông thôn mới
Môi trường thực thi chính sách xây dựng nông thôn mới được hiểu là các
điều kiện để thực thi như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng
giao thông… Những yếu tố này tác động không nhỏ tới việc thực hiện chính sách
kinh tế - xã hội nói chung và chỉnh sách xây dựng nông thôn mới nói riêng.
Điều kiện tự nhiên như khí hậu, thủy văn, địa hình, địa chất quy định kết cấu
nền của các tuyến đường, hệ thống cầu nối ảnh hưởng đến chi phí đầu tư giao

17


thông. Bên cạnh đó, nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến cơ cấu phát triển các ngành nghề
ở nông thôn như: nuôi, trồng, đánh bắt...
Thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội của các địa phương cũng có ảnh hưởng
lớn đến quá trình xây dựng nông thôn mới. Chẳng hạn như, tình trạng thu nhập bình
quân của người dân địa phương, khoảng cách giàu nghèo, mật độ phân bố dân cư,
trình độ dân trí, phong tục tập quán… có ảnh hưởng không nhỏ tới việc triển khai
các chính sách xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Một địa phương phát triển
thường có thu nhập bình quân đầu người cao, thu ngân sách cao, trình độ của người
dân khá hơn nên việc nhận thức về chủ trường, đường lối cũng như việc ủng hộ
công tác chỉ đạo của các cấp tốt hơn, việc huy động người dân tham gia các chương
trình xây dựng nông thôn mới cũng thuận lợi hơn.
Hạ tầng giao thông: Mạng lưới hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tốt thì việc
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông sẽ thuận lợi hơn. Hạ tầng giao thông phát
triển sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển giao lưu, buôn bán giữa các địa phương,
tăng cơ hội học hỏi và giao lưu kinh tế giữa các vùng, miền...
1.3.3. Mối quan hệ giữa các chủ thể và các bên liên quan thực hiện chính
sách xây dựng nông thôn mới
Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới cần có sự tham gia của rất nhiều

Hai là, mối quan hệ tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền cơ sở và nhân dân ở
các địa phương. Tổ chức cơ sở đảng có một vị trí hết sức to lớn trong tiến trình xây
dựng nông thôn mới, vừa đóng vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị, vừa là nhân tố thúc
đẩy tiến trình thực hiện nông thôn mới; chính quyền cơ sở (đặc biệt là chính quyền
cấp xã) là nhân tố chính yếu triển khai thực hiện chương trình, là một nhân tố quyết
định đến chất lượng, nội dung, tiến độ của tiến trình nông thôn mới cơ sở; hơn ai hết,
nhân dân mà cụ thể là người nông dân với địa vị là chủ thể, có vai trò động lực cũng
là người được thụ hưởng những thành quả của Chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới. Thế nhưng, trong quá trình triển khai thực hiện nông thôn mới,
đã và đang phát sinh nhiều tình huống lẫn lộn vai trò của các bên.
Do đó, để Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt được
những mục tiêu đề ra thì cần phải kết hợp hài hòa, nhịp nhàng và giải quyết tốt mối
quan hệ giữa tổ chức cơ sở đảng (vai trò lãnh đạo, chỉ đạo), chính quyền cơ sở (vai
trò quản lý, điều hành) với người dân (vai trò chủ thể).
1.3.4. Nguồn lực tài chính
Nguồn tài chính đầu tư cho xây dựng nông thôn mới được huy động từ sự hỗ trợ
trực tiếp của ngân sách trung ương; ngân sách tỉnh; vốn lồng ghép từ các chương trình,
dự án; nguồn vốn tín dụng được huy động chủ yếu thông qua hệ thống Ngân hàng

19


chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; Ngân
hàng phát triển Việt Nam; vốn huy động từ doanh nghiệp; nguồn vốn từ trong dân cư...
trong đó, chủ yếu là: Nguồn vốn đóng góp của cộng đồng 10%. Vốn đầu tư của doanh
nghiệp, hợp tác xã, hộ tư nhân và các loại hình kinh tế khác khoảng 20%. Vốn tín dụng
khoảng 30%. Vốn ngân sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước 40% và vốn tài trợ khác.
Trong quá trình thực hiện chính sách xây dựng NTM cần có sự kế thừa, lồng
ghép các chương trình, dự án đang và sẽ triển khai trên địa bàn. Các công trình xây
dựng phải trên cơ sở chỉnh trang, nâng cấp là chính để giảm thiểu nguồn lực trong điều

trợ từ ngân sách nhà nước là cần thiết. Ðặc biệt, trong quá trình triển khai tại các xã

21


phải luôn bảo đảm sự công khai, minh bạch, tuân thủ chủ trương “dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra”. Ngoài tuyên truyền dưới nhiều hình thức, Tiền Hải còn đẩy mạnh các
cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”; cuộc
vận động vì người nghèo; phong trào thi đua “Chùa cảnh 4 gương mẫu; xứ họ đạo
gương mẫu”... từ đó củng cố thêm niềm tin để mọi tầng lớp nhân dân xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân cùng nhau xây dựng nông thôn mới vững chắc [27].
1.5.2. Kinh nghiệm của huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Tính đến hết năm 2017, huyện Nghi Xuân đã có 14/17 xã hoàn thành các tiêu
chí nông thôn mới, chiếm 82% số xã của huyện. Có được kết quả này, ngoài việc hỗ
trợ cơ chế từ phía tỉnh, còn có sự nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị huyện,
trong đó, không thể không nhắc đến vai trò của người dân. Đến nay, diện mạo
huyện Nghi Xuân đã có những đổi thay đáng kể, quan điểm xây dựng NTM gắn với
tái cơ cấu ngành nông nghiệp được coi là mũi nhọn trong phát triển kinh tế và là
nhiệm vụ trọng tâm [29].
Ngay từ đầu năm, Ban Chỉ đạo xây dựng NTM đã hoàn thiện khung kế
hoạch 3 cấp (huyện, xã, thôn), đề ra từng phần việc cụ thể, thời gian ấn định cho
từng hạng mục. Đồng thời, thành lập các tổ công tác dưới sự chỉ đạo của một đồng
chí thường vụ huyện ủy, thường xuyên theo dõi, hướng dẫn thực hiện từng phần
việc được giao; đôn đốc kiểm tra tiến độ. Cuối năm, Ban Chỉ đạo chấm điểm bình
xét thi đua từng tổ công tác, từng thành viên, từ đó, khích lệ tinh thần làm việc của
mỗi người… Bên cạnh công tác giải phóng mặt bằng, việc tạo ra nguồn nội lực để
triển khai xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng (đường, trường, trạm…) có ý nghĩa hết
sức quan trọng. Nhưng làm thế nào để người dân tham gia lại là vấn đề không đơn
giản. Nhiều địa phương ở Nghi Xuân lại hóa giải bài toán này với cách làm là lựa
chọn những hộ buộc phải phá bỏ nhà cửa để tập trung làm trước, lựa chọn những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status