Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở từ thực tiễn quận Sơn Trà, Thành Phố Đà Nẵng (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CẤP CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CẤP CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Người Hướng Dẫn Khoa Học

nước và cả hệ thống chính trị trong công cuộc cải cách hành chính
1


cũng như phát triển đất nước.
Tuy nhiên, ở cấp cơ sở hiện nay, chất lượng đội ngũ CBCC trong cả
nước nói chung và ở quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng nói riêng còn bộc lộ
những hạn chế, thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, bất hợp lý về cơ cấu;
tư tưởng bảo thủ, ỷ lại, ngại tiếp thu cái mới, kém năng động, sáng tạo còn
phổ biến trong một bộ phận công chức; một số công chức có biểu hiện dao
động, cơ hội, bè phái, tham ô, sách nhiễu nhân dân… đã làm giảm uy tín
trong nhân dân, hiệu quả quản lý cơ sở thấp. Để nâng cao chất lượng
đội ngũ CBCCS, việc thực hiện chính sách ĐTBD cho đội ngũ này là
một trong các giải pháp hết sức quan trọng.
Trong bối cảnh trên, cần có một sự nghiên cứu toàn diện về thực hiện
chính sách ĐTBD CBCCS góp nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực của
đội ngũ cán bộ cơ sở của quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng trong những năm
tới. Từ những lý do nêu trên tác giả lựa chọn đề tài: Chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ cấp cơ sở từ thực tiễn quận Sơn Trà, Thành Phố Đà Nẵng”
đề làm luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác ĐTBD CBCC tuy không còn xa lạ bởi đã có nhiều công trình
khảo sát nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC được xem là
vấn đề then chốt trong thời kỳ đổi mới. Quan tâm ĐTBD cho đội ngũ
CBCC những kiến thức về lý luận chính trị, về lãnh đạo, quản lý, về
khoa học xã hội, nhân văn và những kiến thức chuyên môn phù hợp
với công việc được giao. Công chức, chất lượng CBCC là vấn đề
được sự quan tâm của nhiều tác giả, là đề tài được hội nghị tại nhiều
hội thảo trong và ngoài nước.
Tác giả Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm đồng chủ biên:

chính sách công.

3


Ngoài ra, còn có một số bài viết, nghiên cứu được đăng trên các
Tạp chí Tổ chức nhà nước, Tạp chí Cộng sản như:
Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn Thanh Thủy (2013), “Những kỹ
năng cần thiết của nguồn nhân lực hành chính đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng Sản.
TS Dương Trung Ý (17/7/2013),“Nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức xã, phường, thị trấn”, thông tin điện tử nhà xuất bản chính trị
quốc gia - sự thật.
Đoàn Văn Tình (16/3/2015), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã, góp phần xây dựng chính quyền địa phương
vững mạnh”, Tạp chí Điện tử tổ chức nhà nước.
ThS. Trần Thị Hạnh (3/7/2015),“Chất lượng đội ngũ cán bộ, c á n
b ộ c ấ p c ơ s ở từ sau Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và một số kiến
nghị”, Tạp chí Cộng sản.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh
khác nhau về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và có những đóng góp
nhất định trong việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách và tìm ra một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở nước ta. Tuy nhiên,
các công trình nghiên cứu trên tập trung chủ yếu mặt phương pháp luận hoặc
nghiên cứu trong phạm vi rộng dưới góc độ của quản lý công (cả đội ngũ cán
bộ, công chức nhà nước), chưa đi sâu nghiên cứu dưới góc độ về chính sách
công cũng như cụ thể về thực hiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ, CBCCS.
Dưới góc độ khoa học, các công trình nói trên có giá trị đối với những
người đã và đang nghiên cứu về chất lượng cán bộ, công chức. Tuy nhiên, ở

4.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đề cập đến thực hiện chính sách ĐTBD CBCCS tại quận Sơn
Trà, Thành phố Đà Nẵng và không đề cập đến những vấn đề hoạch định và

5


đánh giá chính sách.
Về không gian: Các phường thuộc quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng.
Về thời gian: số liệu trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2012 –
2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng CBCC nói chung và
CBCCS nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Các phương pháp cụ thể được sử dụng:
* Phương pháp thống kê - phân tích
- Thu thập tài liệu thức cấp: Thập số liệu từ các tài liệu, báo cáo đã
công khai và trên website của UBND quận Sơn Trà.
- Thu thập tài liệu sơ cấp: Toàn bộ số liệu phục vụ cho nghiên cứu luận
văn tác giả thu thập qua khảo sát, điều tra thông qua phiếu điều tra
* Phương pháp tổng hợp - so sánh
- Phương pháp phân tích: phân tích các báo cáo liên quan đến tình hình
hoạt động của đơn vị và các biện pháp thực hiện chính sách ĐTBD CBCCS.
- Phương pháp so sánh: sử dụng so sánh để đối chiếu giữa các
năm hoạt động của đơn vị.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ

1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Cấp cơ sở
Hệ thống 4 cấp của quản lý hành chính nhà nước của nước ta
hiện nay gồm: Trung ương - tỉnh, thành phố - quận, huyện - xã, phường.
Bốn cấp quản lý này được tổ chức theo một hệ thống dọc. Từ trên
xuống sẽ là trung ương - địa phương và cơ sở. Nếu nhìn dưới lên sẽ là
cơ sở - địa phương và toàn quốc. Nói đến cấp xã là nói đến cấp cơ sở,
chính quyền cấp xã là chính quyền cấp cơ sở.
Cơ sở nhìn chiều từ trên xuống, xét về quy mô và cấp độ tổ chức
là cấp thấp nhất, cấp cuối cùng. Cũng có thể coi cấp cơ sở là cấp nhỏ
nhất. Nếu trung ương và toàn quốc được xem là một chỉnh thể, hệ thống
của cái vĩ mô, đứng đầu là nhà nước trung ương. Cơ sở thường được
xem là cái vi mô, là một tế bào, một phần tử hợp thành của cái vĩ mô
- cả nước và toàn quốc như một cơ thể sống.
Xét theo quan hệ quyền lực, quyền hạn, chức trách của tổ chức nhà
nước, cấp cơ sở là thấp nhất, nhỏ nhất. Chính quyền cấp cơ sở cũng như
hệ thống chính trị cấp cơ sở đương nhiên chịu sự chỉ đạo, kiểm soát
của cấp trên, từ huyện, tỉnh tới Trung ương. Cái nhỏ nhất, thấp nhất đó
còn được minh chứng bởi quy mô diện tích, địa giới hành chính và số lượng
dân cư mà xã/phường quản lý.
Cấp cơ sở là nơi gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa cơ quan quản
lý hành chính nhà nước với nhân dân, hàng ngày lắng nghe, nắm bắt và

8


phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Cấp cơ sở có

Theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của
Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối
với CBCC xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không
chuyên trách ở cấp xã:
- CBCCS có các chức danh sau đây:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy
ban nhân dân;
+ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch Hội
Cựu chiến binh Việt Nam; Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Nông
dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm,
ngư, diêm nghiệp và có Tổ chức Hội Nông dân Việt Nam).
+ Trưởng Công an
+ Chỉ huy trưởng Quân sự
+ Địa chính – xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường,
thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với
xã)
+ Văn phòng - thống kê
+ Tài chính - kế toán
+ Tư pháp - hộ tịch
+ Văn hóa - xã hội
- Số lượng CBCC cấp cơ sở được bố trí theo loại đơn vị hành
chính cấp cơ sở; cụ thể như sau:
+ Cấp cơ sở loại 1: không quá 25 người;
+ Cấp cơ sở loại 2: không quá 23 người;
+ Cấp cơ sở loại 3: không quá 21 người.

10




phương. Họ vừa là những người đại diện cho lực lượng sản xuất, vừa
là đại diện quyền lực của nhà nước tại địa phương.
Thứ tư, hoạt động công vụ của CBCCS là hoạt động đa dạng và
phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện thường xuyên và chuyên nghiệp.
Cấp cơ sở là nơi trực tiếp giải quyết các vấn đề của người dân, so với
các cấp quản lý khác trong bộ máy quản lý nhà nước thì quy mô của cấp cơ sở
nhỏ hơn nhưng các vấn đề cần giải quyết thường phức tạp hơn do mỗi người
dân có hoàn cảnh, nhu cầu và lợi ích khác nhau, họ hành động xuất phát từ lợi
ích của họ nhiều hơn lợi ích của hệ thống. Chính vì vậy, CBCCS phải có
chuyên môn sâu, am hiểu thực tế và có kinh nghiệm giải quyết những tình
huống khác nhau.
1.1.4. Đào tạo, bồi dưỡng
Một số nước trên thế giới quan niệm thuật ngữ “tu nghiệp” thay vì
“ĐTBD”. Bồi dưỡng thường diễn ra sau đào tạo, nghĩa là sau khi người
lao động đã có một nghề về một lĩnh vực chuyên môn để có thể lập
nghiệp. ĐTBD CBCC được xác định như là một quá trình có kế hoạch
làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập
rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một
loạt các hoạt động nào đó, theo định nghĩa của Ủy ban Nhân lực của
Anh. Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở tổ chức, là phát
triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại
và tương lai của cơ quan. Trong đạo luật Liên bang của Mỹ, đào tạo
được xác định như là một quá trình cung cấp và tạo dựng khả năng
làm việc cho người học và bố trí, đưa họ vào các chương trình, khoá
học, môn học, hệ thống hoặc nói cách khác là huấn luyện và giáo dục
được chuẩn bị, có kế hoạch, có sự kết hợp trong các lĩnh vực khoa
học, chuyên ngành, kỹ thuật, cơ khí, thương mại, văn phòng, tài chính,



13


thực hiện công việc được giao tốt hơn, hiệu quả hơn; qua đó giúp tổ
chức đạt được mục tiêu của mình.
Mục đích của việc ĐTBD cán bộ:
- Phát triển năng lực làm việc cán bộ và nâng cao khả năng thực
hiện công việc thực tế của họ.
- Giúp cán bộ luôn phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu
nhân lực trong tương lai của tổ chức.
- Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của cán bộ
do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có
đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm.
Nhìn chung, ĐTBD là hoạt động nhằm:
- Trang bị, bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng liên quan đến
công việc.
- Thay đổi thái độ và hành vi.
- Nâng cao hiệu quả thực hiện công việc.
- Hoàn thành những mục tiêu của cá nhân và của tổ chức.
1.1.5. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở
1.1.5.1. Chính sách công
Thông thường người ta hiểu cụm từ “chính sách” khi nó có vai trò, chức
năng của “khu vực công” thì được gọi là chính sách công. Vì vậy, trong thực
tế nhiều nhà nghiên cứu có những định nghĩa khác nhau về chính sách công
với chức năng, vai trò cũng có sự khác biệt.
B. Guy Peter ( 1990) định nghĩa: “ Chính sách công là toàn bộ các
hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián
tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”.
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Quý Thọ cho rằng: “chính sách công là những

Luật CBCC năm 2008 xác định “ nhà nước có chính sách để phát
hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với

15


người có tài năng” [ 21, tr21].
Công tác ĐTBD CBCCS được xem là nhiệm vụ then chốt trong công tác
cán bộ. Do vậy, trên quan điểm về chính sách công nói chung và nhiệm vụ
của ĐTBD CBCCS, có thể đưa ra khái niệm về chính sách ĐTBD cho
CBCCS như sau: Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Chính
sách ĐTBD CBCCS là một chính sách trong hệ thống các chính sách nhằm
phát triển đội ngũ CBCCS. Chính sách đó là tập hợp các quyết định
chính trị của Nhà nước tác động đến đối tượng CBCCS bao gồm
nhiều hoạt động từ xây dựng chương trình, kế hoạch ĐTBD, lựa chọn
người đi học, phương pháp tổ chức ĐTBD, chế độ đãi ngộ đối với
người học và công tác kiểm tra công tác cử cán bộ đi học sao cho
công tác đào tạo cán bộ đảm bảo về chất lượng, phù hợp về số
lượng để CBCCS sau khi được ĐTBD đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình mới.
Chính sách ĐTBD cho CBCCS là phương tiện thể chế hóa đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác
ĐTBD cho CBCCS. Dựa vào văn bản quy phạm pháp luật quy định
chính sách ĐTBD đội ngũ CBCCS để xác định rõ chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan về ĐTBD đội
ngũ CBCCS.
1.1.5.4. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng
a) Đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước
(1) Về bồi dưỡng
- Lý luận chính trị: gắn với tiêu chuẩn cán bộ được Đảng xác định mang

Việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ rất cần thiết bởi đây là đội ngũ quyết
định thành bại các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước.
- Đối với cán bộ lãnh đạo cần phải có nội dung đào tạo nhằm phát triển

17


kỹ năng quản lý, điều hành.
b) Đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài:
Đào tạo về khoa học quản lý ở một số ngành kinh tế - xã hội như quản lý
môi trường, quản lý đô thị, quản lý xã hội, quản lý nhân sự…Lĩnh vực quản
lý hành chính công quyền cần phải được tập trung ĐTBD nhằm góp phần
chuyên nghiệp hóa các chính sách ở nước ta.
1.1.6. Các chủ thể thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
- Bộ Nội vụ chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm việc thực hiện quy hoạch, kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở trong nước và ở nước ngoài;
các chính sách liên quan đến CBCC. [9].
- HĐND và UBND thành phố: ban hành các chính sách về CBCCS bên
cạnh các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong Luật tổ chức
chính quyền địa phương năm 2015 [22].
- Sở Nội vụ trực tiếp tham mưu cho UBND thành phố ban hành kế hoạch
ĐTBD cho CBCC và phối hợp với Sở Tài chính thực hiện kinh phí trợ cấp
cho hoạt động ĐTBD của CBCC theo quy định. Đồng thời hướng dẫn, kiểm
tra, báo cáo kết quả hoạt động ĐTBD cho CBCC hằng năm theo quy định của
Bộ Nội vụ. Sở Nội vụ tổng hợp danh sách do phòng Nội vụ quận cung cấp để
trình UBND thành phố phê duyệt. Sau đó, Sở Nội vụ tiến hành mở các lớp
ĐTBD với sự tham gia các cơ sở đào tạo.
- Phòng Nội vụ quận ban hành các văn bản liên quan đến công tác
ĐTBD gửi cho các cơ quan, đơn vị, UBND cấp cơ sở để khảo sát nhu cầu và

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức XII
của Đảng đã chỉ rõ: “Công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị
quyết của Đảng cần được đổi mới mạnh mẽ. Thực hiện nền nếp việc
bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên,
nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp….” [11, tr135].

19


Tổ chức ĐTBD cho đội ngũ CBCCS phải căn cứ vào đặc điểm đối tượng
CBCCS như đã nêu ở trên để có phương pháp giảng dạy phù hợp. Tổ chức
ĐTBD phải mềm dẻo về thời gian mặc dù có kế hoạch từ trước. CBCCS là
những người hàng ngày thường xuyên phải giải quyết các công việc ở địa
phương. Do đó, họ vừa học tập vừa phải trực tiếp có mặt để giải quyết những
vấn đề cụ thể ở cơ sở. Vì vậy, các khóa học phải bố trí thời gian hợp lý cho
các đối tượng này. Ví dụ ngoài các khóa học tập trung, công tác bồi dưỡng có
thể tổ chức vào cuối tuần hoặc sau giờ hành chính.
- Kinh phí ĐTBD cho CBCCS thường được sử dụng phần lớn từ nguồn
ngân sách nhà nước, tùy thuộc vào từng giai đoạn, chính sách đào tạo của
từng địa phương mà mức kinh phí này có thể khác nhau, tuy nhiên điểm
chung là kinh phí đào tạo được sử dụng từ ngân sách nhà nước và không vượt
quá phạm vi ngân sách.
- Xây dựng cơ chế chính sách đặc thù đãi ngộ cho người đi học. Bên
cạnh chế độ theo quy định của Chính phủ, địa phương cử cán bộ đi học cần có
cơ chế chính sách đặc thù cho người đi học. Cơ chế đó phải quy định cụ thể
về nhiều mặt nhằm tạo điều kiện cho người học được ĐTBD theo nguyện
vọng cá nhân và yêu cầu công tác của cơ sở.
1.2.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách ĐTBD
Hoạt động này giúp cho đội ngũ CBCC hiểu rõ chính sách và chủ động
tham gia thực hiện chính sách có hiệu quả. Tuyên truyền, phổ biến chính sách

có vấn đề nóng về khiếu kiện đất đai thì phải để cán bộ đang học tập về địa
phương giải quyết hoặc khi có thiên tai lớn có thể phải dừng học tập để tập
trung sức lực, trí tuệ thực hiện các công tác cấp bách đó.
1.2.5. Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm
Đánh giá kết quả ĐTBD là một phần quan trọng trong quá trình ĐTBD.
Đánh giá kết quả ĐTBD là để xem xét mức độ thỏa mãn các mục tiêu ĐTBD
và đưa ra những điều chỉnh thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả cho các

21


chương trình ĐTBD sau.
Để đánh giá kết quả ĐTBD cần đánh giá chương trình ĐTBD để xác
định nó có đáp ứng được mục tiêu đề ra hay không nghĩa là hiệu quả làm việc
của học viên có thay đổi theo chiều hướng mong muốn hay không và những
thay đổi đó của học viên có thể kết luận là do chương trình ĐTBD mang lại
hay không. Tiêu chuẩn về hiệu quả cần được đánh giá trong và ngay sau quá
trình ĐTBD.
Hiệu quả của khóa ĐTBD được xác định liệu chương trình ĐTBD có
đáp ứng được các mục tiêu ĐTBD hay không?
Để đánh giá hiệu quả ĐTBD thường được thực hiện qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn nhận thức: học viên thích chương trình ĐTBD như thế nào,
tiếp thu, học được gì qua khóa ĐTBD.
- Giai đoạn vận dụng: học viên áp dụng các kiến thức, kỹ năng đã học
vào trong thực tế để thực hiện công việc. So sánh hiệu quả công việc trước và
sau khi được ĐTBD để biết được hiệu quả của chính sách ĐTBD.
Bên cạnh đó, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả ĐTBD bằng một số cách
như: thăm dò ý kiến của tất cả những người quan tâm đến chương trình
ĐTBD; trao đổi trực tiếp với những người mới được ĐTBD để biết ý kiến và
đánh giá của họ về chương trình ĐTBD…

của Đảng và Nhà nước. Đây là một yếu tố khách quan thuận lợi để thực hiện
chính sách ĐTBD CBCCS ở nước ta.
Hai là, đối tượng thực hiện chính sách: việc tuyển chọn đội ngũ cán
bộ ngay ban đầu đóng vai trò quyết định. Phải tuyển chọn đúng đối tượng đi
học để ĐTBD CBCCS đạt hiệu lực, hiệu quả.
Nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ CBCCS sẽ ảnh hưởng đến
thực hiện chính sách ĐTBD. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ yếu sẽ ảnh
hưởng đến việc tiếp thu các kiến thức ĐTBD mới; nhất là kiến thức có tính
hội nhập quốc tế. Tinh thần thái độ học tập cũng ảnh hưởng lớn đến thực hiện

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status