VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ TUYẾT
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƯỜI VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ TUYẾT
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9229020
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Đỗ Việt Hùng
HÀ NỘI, 2018
MỤC LỤC
yêu người Việt............................................................................................................................ 55
2.2.2. Sự chuyển nghĩa của các từ ngữ chỉ cây trong ca dao tình yêu người Việt
......................................................................................................................... 57
2.2.3. Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong ca dao tình yêu người Việt .. 58
2.2.4. Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ quả trong ca dao tình yêu người Việt . 58
2.3. Ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tình yêu
người Việt........................................................................................................................................ 59
2.3.1. Mối quan hệ giữa đặc điểm bản thể và ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ
thực vật trong ca dao tình yêu người Việt....................................................................... 59
2.3.2. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ cây trong ca dao tình yêu người Việt .. 61
2.3.3. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ hoa trong ca dao tình yêu người Việt. 79
2.3.4. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ quả trong ca dao tình yêu người Việt.. 98
Kết luận chương 2..................................................................................................................... 105
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
CHỈ VẬT THỂ
NHÂN TẠO TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƯỜI VIỆT.................................... 107
3.1. Bức tranh tổng quát về từ ngữ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao tình yêu
người Việt...................................................................................................................................... 107
3.2. Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao tình yêu
người Việt...................................................................................................................................... 110
3.2.1. Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ công trình kiến trúc trong ca dao tình
yêu người Việt......................................................................................................................... 112
3.2.2. Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ vật dụng sinh hoạt gia đình trong ca dao
tình yêu người Việt................................................................................................................ 112
Bảng 2.2. Bảng thống kê các từ ngữ chỉ TV được dùng với nghĩa gốc.........................56
Bảng 3.1. Bảng thống kê các từ ngữ chỉ VTNT được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển
trong CDTY người Việt................................................................................................................. 111
HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1. Biểu đồ so sánh sự tương quan của các từ ngữ chỉ TV: cây/ hoa/ quả .......55
trong CDTY người Việt.................................................................................................................... 55
Hình 2.2. Biểu đồ so sánh tương quan của các từ ngữ chỉ cây mang nghĩa biểu trưng
trong CDTY người Việt.................................................................................................................... 62
Hình 2.3. Sơ đồ biểu thị mối quan hệ giữa các giai đoạn phát triển của cây với các
giai đoạn trong cuộc đời người phụ nữ...................................................................................... 66
Hình 2.4. Biểu đồ so sánh sự tương quan của các từ ngữ chỉ hoa mang nghĩa biểu
trưng trong CDTY người Việt........................................................................................................ 81
Hình 2.5. Biểu đồ so sánh tương quan của các từ ngữ chỉ quả mang nghĩa biểu trưng
trong CDTY người Việt................................................................................................................. 100
Hình 3.1. Biểu đồ so sánh từ ngữ chỉ các VTNT có tần số xuất hiện cao nhất thuộc
bốn nhóm (CTKT/ ĐDCN/ VDSHGĐ/ PT&CCSX) trong CDTY người Việt........110
Hình 3.2. Biểu đồ so sánh sự xuất hiện của các từ ngữ chỉ CTKT mang nghĩa biểu
trưng trong CDTY người Việt..................................................................................................... 116
Hình 3.3. Biểu đồ so sánh sự tương quan của các từ ngữ chỉ VDSHGĐ mang nghĩa
biểu trưng trong CDTY người Việt........................................................................................... 124
Hình 3.4. Biểu đồ so sánh tương quan của các từ ngữ ĐDCN
mang nghĩa biểu
trưng trong CDTY người Việt..................................................................................................... 132
Hình 3.5. Biểu đồ so sánh sự tương quan của các từ ngữ chỉ PT&CCSX mang nghĩa
biểu trưng trong CDTY người Việt........................................................................................... 142
VTNT
: Vật thể nhân tạo
CTKT
: Công trình kiến trúc
VDSHGĐ
: Vật dụng sinh hoạt gia đình
ĐDCN
: Đồ dùng cá nhân
PT&CCSX
: Phương tiện và công cụ sản xuất
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Từ là đơn vị căn bản của hệ thống ngôn ngữ, là đối tượng có lịch sử nghiên cứu lâu
dài và phức tạp. Từ có nhiều chức năng khác nhau, trước hết đó là chức năng định danh gọi
tên các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Từ còn biểu hiện nội dung, tình cảm,
sự tình, ý niệm. Từ trong hoạt động hành chức có chức năng tạo lời, tạo câu. Nghĩa của từ
cũng là một khái niệm có nội hàm rất phức tạp, “nghĩa của từ về bản chất là một thực thể
tinh thần được mã hóa, được kí hiệu trong từ. Nghĩa từ vựng của từ phản ánh, phản xạ”
kính của người sáng tác. Hơn nữa, văn chương cũng luôn gắn liền với một bối cảnh văn
hóa nhất định, có những khi từ ngữ trong đó đã vượt ra khỏi ngữ nghĩa thông thường để trở
thành phương tiện tạo nghĩa biểu trưng. Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong phạm vi văn
chương trong tương quan với văn hóa là một hướng nghiên cứu cơ bản hiện nay. Đây được
xem là hướng nghiên cứu khá độc đáo và mang lại cho người đọc những tri thức mang tính
đa chiều. Nghiên cứu theo phương thức này sẽ cho ta thấy được mối liên hệ mật thiết giữa
ngôn ngữ và văn hóa, ngôn ngữ và tư duy đã được khẳng định từ lâu.
1.4. Nghiên cứu ngữ nghĩa của từ trong văn học dân gian mà cụ thể trong
phạm vi đề tài này là loại hình ca dao tình yêu của người Việt cũng là một trong
những hướng nghiên cứu dùng lí thuyết ngôn ngữ để giải mã văn học. Nghiên cứu
vấn đề này, chúng tôi đi sâu phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ
thuộc một số trường nghĩa tiêu biểu trong ca dao tình yêu. Cụ thể trong phạm vi
nghiên cứu của luận án, chúng tôi tập trung làm rõ phân tích các nghĩa chuyển, sự
chuyển trường cũng như nghĩa biểu trưng của các từ ngữ tiêu biểu thuộc hai trường
nghĩa “thực vật” và “vật thể nhân tạo” trong ca dao tình yêu người Việt. Qua đó góp
phần tìm hiểu sâu hơn về ca dao tình yêu cũng như làm nổi bật những đặc điểm
trong tư duy văn hóa của người Việt xưa. Để chiếm lĩnh được nội dung, ý nghĩa của
các lời ca dao tình yêu cũng như để khám phá được nét độc đáo, tinh tế trong tâm
hồn, những nét đặc trưng trong văn hóa và tư duy của người Việt xưa người đọc cần
có một hệ tri thức phong phú và đa dạng. Trước hết người đọc cần nắm được đặc
điểm ngữ nghĩa của từ ngữ, sự chuyển nghĩa, chuyển trường cũng như nghĩa biểu
trưng của chúng. Điều này, theo chúng tôi, vừa có ý nghĩa về mặt lí luận (góp thêm
tiếng nói minh chứng cho hướng nghiên cứu mới trong ngôn ngữ đang được các nhà
ngôn ngữ học chú ý – mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn học), vừa có ý nghĩa về mặt
thực tiễn (giúp cho những người quan tâm đến từ vựng tiếng Việt, đặc biệt là những
sinh viên nghiên cứu về ngôn ngữ có được cái nhìn toàn diện hơn về bức tranh ngôn
ngữ của người Việt trên bình diện nghĩa của từ).
2
các mẫu gốc. Đồng thời, các kết quả sẽ góp phần khẳng định về mối quan hệ giữa
ngôn ngữ, tư duy và văn hóa của dân tộc Việt Nam.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với số lượng khảo sát là 6102 lời CDTY trên tổng số 11821 lời ca dao trong Kho
tàng ca dao người Việt, chúng tôi tập trung nghiên cứu ngữ nghĩa của từ ngữ thuộc hai
trường nghĩa “thực vật” (là đại diện điển hình cho nhóm từ ngữ chỉ thế giới tự nhiên) và
trường nghĩa chỉ “vật thể nhân tạo”. Các từ ngữ chỉ thế giới tự nhiên vô cùng phong phú.
Trong đó, các từ ngữ chỉ TV là nhiều nhất nên chúng tôi chọn để nghiên cứu như một đại
diện của các từ ngữ chỉ giới tự nhiên được đặt trong tương quan với các từ ngữ chỉ VTNT.
Vấn đề nghiên cứu của đề tài là ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ TV và VTNT trong CDTY người
Việt. Ngữ nghĩa của từ ngữ là một phạm trù rất rộng với nhiều vấn đề khác nhau. Tuy
nhiên, các từ trong CDTY được dùng nhiều với nghĩa chuyển, những ý nghĩa ấy đã vượt
qua khỏi giới hạn nghĩa thông thường để biểu trưng cho những ý nghĩa nào đó trong tương
quan với văn hóa của đời sống xã hội. Luận án không hệ thống hóa các loại ngữ vì nó quá
phong phú. Trong quá trình phân tích ngữ nghĩa của từ, chúng tôi luôn đặt từ trong các ngữ
để làm rõ nghĩa của chúng. Cũng trong các ngữ, từ mới thể hiện được hết các ý nghĩa.
Trọng tâm của luận án là tìm hiểu về sự CN, YNBT của các từ chỉ “thực vật” và “vật thể
nhân tạo” được đặt trong mối quan hệ với các từ khác trong các ngữ với hi vọng làm rõ
một phương diện ngữ nghĩa của từ ngữ trong CDTY người Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Ngữ liệu được chọn nghiên cứu là các lời CDTY trong Kho tàng ca dao người
Việt (do Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật làm chủ biên), NXB Khoa học xã hội
năm 1998. Sự khảo sát và phân tích sẽ tập trung vào các từ ngữ chỉ các loại thực
vật, vật thể nhân tạo xuất hiện trong CDTY người Việt.
4. Phương pháp nghiên cứu
rất lớn của ngữ cảnh.
4.4. Thủ pháp thống kê
Thủ pháp này nhằm xác định số lượng lời và lượt cũng như và tỉ lệ các từ
trong mỗi trường nghĩa, từ đó có thể xác lập được các tiểu trường trong các trường
nghĩa. Bên cạnh đó, thủ pháp này còn dùng để thống kê các từ ngữ được dùng với
nghĩa gốc, nghĩa chuyển, để từ đó xác lập YNBT và mối quan hệ với các loại ý
nghĩa đó.
Ngoài các phương pháp kể trên, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu ngôn ngữ học khác như phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương
pháp phân tích thành tố nghĩa…
5
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
5.1. Ý nghĩa lí luận
Với đề tài này, chúng tôi cho rằng kết quả đạt được sẽ góp phần làm sâu sắc hơn
về tính hệ thống cấu trúc, tính tầng bậc và tính giao thoa trong ngôn ngữ. Do đó, luận
án góp phần vào việc nghiên cứu lí thuyết về trường nghĩa, nghĩa chuyển, chuyển
trường, mối quan hệ giữa nghĩa của từ và YNBT, những giá trị văn hóa trong tiếng Việt.
Đồng thời giúp cho những nghiên cứu tiếp theo có thêm những cơ sở lý thuyết và thực
tiễn trong việc đi sâu hơn nghiên cứu trường nghĩa nói riêng và ngữ nghĩa của từ tiếng
Việt nói chung cũng như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu mà luận án mang lại có thể sử dụng như một tài liệu phục
vụ cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ và văn học trong nhà
trường. Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ thêm một đường
hướng nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cung
cấp cho người làm công tác giảng dạy thêm một công cụ chiếm lĩnh văn chương từ
phương diện ngôn ngữ. Đồng thời, những kết quả này còn được sử dụng để nghiên
Dẫn nhập
Nghĩa của từ và sự chuyển biến ý nghĩa của từ là một trong các vấn đề cơ
bản của ngôn ngữ học. Trong chương này, luận án sẽ điểm lại các xu hướng cũng
như các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ đó xác định cơ sở lí luận
có tính đường hướng cho đề tài.
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về từ và nghĩa của từ
1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu về từ và nghĩa của từ trên thế giới
Có thể nói rằng từ, nghĩa của từ từ lâu đã trở thành vấn đề trọng tâm của ngôn
ngữ học nói chung và ngữ nghĩa học nói riêng. Từ và nghĩa của từ chính là một bộ
phận quan trọng của ngữ nghĩa học. Ngữ nghĩa học với tư cách là một bộ môn khoa
học độc lập được hình thành vào khoảng cuối thế kỉ XIX được đánh dấu bằng công
trình của M. Bréal – Essai de Sémantique (1877). Nhưng có thể thấy rằng, sự quan
tâm đến nghĩa của ngôn ngữ không phải chỉ đến cuối thế kỉ XIX mới xuất hiện mà
được bắt đầu từ rất sớm và kéo dài từ thời kì cổ đại cho đến nay với nhiều xu hướng
Trong thời kì Cổ Trung đại, từ cũng như ý nghĩa của từ đã trở thành một vấn
đề được quan tâm đặc biệt. Trong thời kì cổ đại, ngôn ngữ học, trong đó có vấn đề
về nghĩa khá phát triển ở Ấn Độ và các nhà khoa học châu Âu: Platon (429 – 347),
Aristole (384 – 322 trước CN) qua các công trình như Giải thích (On
Interpretation), Tu từ học (Rhetoric), Thi học (Poetics). Các cuộc tranh luận về sự
tương ứng giữa tên gọi với sự vật được biểu thị kéo dài từ thời kì cổ đại đến thời kì
trung đại. Giai đoạn tiếp theo chính là thời kì Phục hưng, sự phát triển mối quan tâm
về nghĩa tiếp tục trong các tác phẩm thời kì này, đặc biệt là trong thế kỉ Ánh sáng.
Một bước ngoặt quan trọng trong ngôn ngữ học thế kỉ XIX là sự khẳng định và phát
triển của khuynh hướng so sánh - lịch sử,... Từ giữa thế kỉ XX cho đến nay, việc
nghiên cứu ngữ nghĩa của từ ngữ vẫn diễn ra sôi nổi. Sự tranh chấp giữa việc ủng hộ
và phản đối nghiên cứu nghĩa của ngôn ngữ đã nghiêng về việc ủng hộ.
8
trong thời gian này là công trình của V.F. Humboldt (1767 – 1835). Dưới cách nhìn
mới, V.F. Humboldt đặt lại vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Tư
9
tưởng này của V.F. Humboldt được mở ra tiếp tục trong các giả thuyết của Sapir –
Whorf (The Sapir – Whorf Hypothesis) và nhiều trường phái hậu V.F. Humboldt ở
thế kỉ XX. Thế giới quan thể hiện trong cấu trúc ngôn ngữ được gọi là bức tranh
ngôn ngữ về thế giới. Quan niệm bức tranh ngôn ngữ về thế giới của V.F.Humboldt
và những người kế tục tiếp tục trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của
miêu tả ngữ nghĩa học cuối thế kỉ XX.
Ngôn ngữ học cấu trúc đánh dấu sự trở lại vào những năm 20 của thế kỉ XX với
cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F. de Saussure (1916). Giai đoạn này có
rất nhiều các công trình nghiên cứu nổi tiếng của giả G. Stern, S. Uilimann, A.
Schaff… Nghiên cứu ngữ nghĩa đánh một dấu mốc quan trọng xác lập vị trí của mình
với các công trình của Bloomfield và Chomsky. Hai tác giả này đã tạo nên ảnh hưởng
quan trọng trong khuôn mẫu ở một ngôn ngữ học không cần ý nghĩa. Thời kì này, ngữ
nghĩa còn đi cùng với tâm lí thực nghiệm và logic toán. Nghiên cứu ngữ nghĩa gắn liền
với các nhà nghiên cứu như: A. Taski, B. Russell. G. Frege, R. Montague [113, 15].
Thời kì tiền cấu trúc luận và cấu trúc luận, các nghiên cứu đa số đều tập trung
vào vấn đề ngữ nghĩa và sự biến đổi ngữ nghĩa. Các nghiên cứu thời kì này xem xét
ngữ nghĩa của từ tách rời, biệt lập, không chú ý đến văn cảnh, ngữ cảnh. Dù ra đời
sau, với cái nhìn toàn diện và tích cực hơn về nghĩa của từ trong cấu trúc hệ thống
song các luận điểm mà họ đưa ra lại chịu nhiều ảnh hưởng của cấu trúc luận thuần
túy trong khi đó hoạt động hành chức lại là nhân tố đáng chú trọng.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên
thế giới bàn về sự phát triển ngữ nghĩa của từ. Trước hết, phải kể đến tác giả người
Anh Aitchison với cuốn Language change: Progress or Decay? [138] và tác giả
Crowley với cuốn An Introduction to Historical Linguistics [1402], ngoài ra còn có
[142, 149].
Trong lịch sử ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu cố gắng tập hợp và hệ thống hóa
những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển nghĩa của từ. Theo
Aitchison, có hai nguyên nhân chính: “nguyên nhân chủ quan (do đặc điểm thuộc về bản
chất của ngôn ngữ và tâm lí của người sử dụng) và nguyên nhân khách quan (yếu tố xã
hội)” [138, 106]. F. de Sausure nhấn mạnh: “phong tục của một dân tộc có tác động mạnh
đến ngôn ngữ và mặt khác, trong chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân
tộc” [151, 106]. Theo đó, nhiều nhà ngôn ngữ sau này cùng có quan điểm
11
với Saussure và Aitchison. Ngược lại, Fromkin và một số tác giả khác trong cuốn An
Introduction to Language cho rằng: “có hai nguyên nhân chính cho hiện tượng này là
do sự tái cấu trúc ngôn ngữ trong quá trình học tiếng của trẻ và sự thay đổi tâm sinh lí
của người học qua nhiều thế hệ” [153, 366]. Không đồng quan điểm trên, Lyons cho
rằng sự thay đổi xã hội là nguyên nhân chủ yếu của thay đổi trong ngôn ngữ [156, 213].
Tác giả Lê Quang Thiêm [114] đã tổng hợp về các vấn đề nghiên cứu về nghĩa của từ
trên thế giới. Tác giả chỉ ra rằng trong lịch sử ngữ nghĩa học từ khi ra đời, kể từ khi M.
Bréal đến nay, sự chuyển biến nghĩa của từ vẫn là một chủ đề quan trọng được nhiều tác
giả nghiên cứu. Có thể kể ra một vài quan niệm về vấn đề này như: quan niệm của G.
Stern, của S. Ullmann. Trong tác phẩm Nghĩa và sự biến đổi nghĩa (Meaning of Meaning)
với quan niệm “chúng ta có thể nghiên cứu nghĩa với sự thừa nhận nội dung tư tưởng của
nó và những yếu tố khác nhau tạo thành nội dung của nghĩa”. Stern cũng đã chia ra 7 lớp
hạng biến đổi nghĩa, 5 nguyên nhân và điều kiện biến đổi nghĩa. Các lớp hạng biến đổi
nghĩa bao gồm: 1. Sự thay thế (subsitution), 2. Sự loại suy (analogy), 3. Rút ngắn
(shortening), 4. Định danh (nomination), 5. Chuyển đổi (transfer – regular), 6. Sự đổi trật
tự (permutation), 7. Sự tương xứng (adequation). Tác giả cũng cho rằng trong 7 lớp trên thì
có 1 lớp thuộc về ngoài ngôn ngữ (external). Còn 6 lớp còn lại là trong ngôn ngữ (internal),
ở đó sự CN xảy ra do hoạt động nói năng, nó được hình thành như một sản phẩm của sự
cuốn Tiếng Anh cơ sở vào năm 1928. Và nói đến trường nghĩa không thể không nói
đến giả thuyết về “tính tương đối ngôn ngữ” do Sapir (1921) và Whorf (1956) khởi
xướng. Sapir và Whorf đã làm sáng tỏ quan niệm coi ngôn ngữ là cái phản ánh tinh
thần của một dân tộc nào đó. Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống từ vựng riêng. Hệ
thống từ vựng này phản ánh cách chia thực tế khách quan và phạm trù hóa hiện thực
riêng của dân tộc ngay trong bản thân nghĩa của các từ. Năm 1986, nhà nghiên cứu
M.Pokrovxkij đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu từ vựng một cách hệ thống. Ông chia các
trường trên cơ sở sử dụng đồng thời cả ba tiêu chí: 1. Nội dung (các từ có quan hệ
với cùng “một phạm vi biểu tượng” theo lời của M.Pokrovxkij), 2. Sự đồng nhất, 3.
Quan hệ hình thái học. Từ những năm 90 của thế kỉ XIX ông đã có sự phân chia
trường dựa trên ba tiêu chí kể trên. Nhưng lí thuyết về trường ngữ nghĩa chỉ thực sự
được nghiên cứu vào những năm 20 của thế kỉ thứ XX, bắt nguồn từ những lí thuyết
ngôn ngữ học của V.F. Humboldt và F. de. Saussure. Các nhà ngôn ngữ khác như G.
Ipsen (1924), A. Jolles (1934), W. Porzig (1934), Talmy (1981), Langacker (1987)
và Lakoff (1987)… Đặc biệt I. Trier (1934) được coi là người mở ra một giai đoạn
mới trong lịch sử ngữ nghĩa học. I. Trier là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
13
“trường nghĩa (semantic field)” trong ngôn ngữ học. Tác giả không dùng khái niệm
trường ngữ nghĩa mà chỉ nói tới trường khái niệm và trường từ vựng. Lí thuyết
trường nghĩa của ông thường được coi là trường đối vị (dọc).
Theo đánh giá của tác giả Đỗ Hữu Châu thì những giá trị lí thuyết “trường”
của Trier cũng chỉ dừng lại ở mức độ gợi ý. Điều này xuất phát từ nguyên nhân
trong đó có việc Trier không phân biệt ý nghĩa với khái niệm, các lớp ý nghĩa, từ với
khái niệm và quan niệm quá dứt khoát về ranh giới của trường khái niệm và các
“vùng” khái niệm của từ với nhau. Đặc biệt là cách sử dụng các tư liệu cổ thiếu thận
trọng để đối chiếu hai trạng thái khác nhau của cùng một trường khiến cho những
kết luận của Trier dễ bị phản bác và phương pháp của ông không được vận dụng
một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, với những nghiên cứu của mình, Trier đã “mở ra
kỉ XIX đến nay. Ở Việt Nam từ năm 1954, từ vựng học đã trở thành vấn đề rất được quan
tâm nghiên cứu, các giáo trình nghiên cứu về vấn đề này lần lượt ra đời như Từ vựng học
tiếng Việt hiện đại và Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Văn Tu, Từ vựng – Ngữ
nghĩa tiếng Việt, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng,… của Đỗ Hữu Châu, Từ năm 1978 trở đi,
một loạt các cuốn sách, các luận án phó tiến sĩ nghiên cứu về từ vựng tiếng Việt ra đời của
các tác giả như: Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Đức Tồn,
Lê Quang Thiêm, Hà Quang Năng, Phạm Hùng Việt, Đỗ Việt Hùng,…
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới,
ở Việt Nam, vấn đề nghĩa của TH ngôn ngữ được rất nhiều các tác giả quan tâm. Tác giả
Nguyễn Văn Tu trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại đã hệ thống các quan niệm
khác nhau về nghĩa [125, 93 - 97]. Theo đó, tác giả đã chia các quan niệm khác nhau này
theo 7 khuynh hướng chính (1) Nghĩa là đối tượng: Theo quan điểm này thì mối quan hệ
giữa từ và đối tượng là rất khăng khít. Mỗi từ phải có một nghĩa và mỗi sự vật phải có một
tên; (2) Nghĩa là biểu tượng: Nghĩa của từ không quan hệ trực tiếp với đối tượng mà chính
là biểu tượng của nó. Nghĩa được coi một cách máy móc là tổng hợp những biểu niệm; (3)
Nghĩa của từ là khái niệm; (4) Nghĩa của từ là quan hệ giữa TH và đối tượng; (5) Nghĩa là
chức năng của TH – từ; (6) Nghĩa của từ là bất biến thể của thông tin; (7) Nghĩa là phản
ánh hiện thực: Nghĩa của từ được coi là sự phản ánh của vật khách quan vào trong ý thức
của người ta. Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã khẳng
định: “Cái gọi là nghĩa của từ không phải là một khối phân hóa mà được xem là một “vi
hệ thống” chia thành nhiều lớp nghĩa. Thứ nhất là lớp nghĩa bao gồm những yếu tố cố
định, chung cho mọi thành viên trong xã hội và đã đi vào mạng quan hệ ngữ nghĩa của từ
15
vựng tức là đã cấu trúc hóa. Lớp nghĩa này lại được chia thành nghĩa từ vựng và nghĩa
ngữ pháp. Thứ hai là lớp nghĩa xã hội – tâm lí (còn gọi là nghĩa liên hội, nghĩa liên
tưởng) là những nghĩa chưa cố định, mang tính chất lâm thời, cá nhân” [19, 96].
Tác giả Lê Quang Thiêm trong cuốn Sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng Việt từ