ĐẶC điểm hệ THỐNG BIỂU TƯỢNG CHIM TRONG CA DAO VIỆT NAM - Pdf 35

Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
“ Muốn biết tinh thần Việt Nam chân chính, muốn tìm hiểu cái nguồn
sống chảy trong máu dân tộc, chúng ta phải tìm đến văn chương của dân
chúng tuy bình dị nhưng bộc lộ được hết những ý nghĩ tình cảm và hoạt động
của mọi người” (Nguyễn Đình Thi)
Ca dao trữ tình Việt Nam đã hấp dẫn người đọc qua bao thời đại, tìm về
với ca dao là tìm về cội nguồn dân tộc, tìm về kho nhân văn có mồ hôi, nước
mắt và nụ cười của bao thế hệ. Trong hành trình trở về với cội nguồn ấy,
không thể nào bỏ qua việc tìm hiểu nghệ thuật thơ ca dân gian.
“Văn học nhận thức thế giới qua hình tượng nghệ thuật”. Thế giới
nghệ thuật trong ca dao cũng phong phú nhờ thủ pháp ẩn dụ và xây dựng biểu
tượng nghệ thuật. Cũng với những thủ pháp nghệ thuật này, trường liên tưởng
ngữ nghĩa được mở rộng đem lại mầu sắc đa dạng trong những lời ca dao dân
ca. Đây cũng chính là thủ pháp nghệ thuật mang nét đặc trưng tiêu biểu của
thể loại thơ ca trữ tình dân gian. Một hệ thống những biểu tượng thiên nhiên
đã ra đời, trong các biểu tượng về các loài vật nổi bật lên hệ biểu tượng chim.
“Ngay từ buổi đầu dựng nước, con người đã luôn nuôi ước vọng được
vượt ra khỏi không gian quanh mình, được tung cánh lên bầu trời, được tự
do như loài chim trong không trung. Hình ảnh loài chim Lạc đã gắn bó với
người VN ngay từ thuở ban đầu ấy”. (Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen
Phillipps, "Chim Việt Nam") Và hình ảnh những cánh chim trời tự do bay


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

trong không trung, hay cặm cụi kiếm mồi dưới mặt đất đã rất quen thuộc với
hình ảnh làng quê Việt Nam xưa, và rất tự nhiên,những cánh chim ấy bay vào
trong những câu ca dao trữ tình, thành những mô tip nghệ thuật đầy ý nghĩa.

hoa, biểu tương gừng cay muối mặn…
Dưới góc độ ngôn ngữ, có rất nhiều nghiên cứu về biểu tượng, trong đó
có một loạt nghiên cứu về sự biến đổi ý nghĩa biểu tượng của Ts Nguyễn Thị
Ngân Hoa.
Ở mảng nghiên cứu văn hóa, PGS. TS Nguyễn Thị Bích Hà đã có bài
viết về Mã văn hóa, trong đó có lấy ví dụ về chim là một biểu tượng văn hóa.
Hay bài viết của quyển "Chim Việt Nam" của Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và
Karen Phillipps / Nhà xuất bản Lao Động - Xã Hội / 2000.
Những nghiên cứu trên đây đã có những đóng góp to lớn trong việc làm
rõ khái niệm, đặc điểm của biểu tượng trong ca dao, tuy nhiên xét về biểu
tượng chim thì chưa có một tác giả nào có sự thống kê, phân loại và phân tích
đầy đủ (chỉ đề cập đến “chim” với tư cách là một hình ảnh quen thuộc trong
ca dao). Chính vì vậy, qua quá trình nghiên cứu này, bài viết muốn bước đầu


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

hệ thống hóa biểu tượng chim trong ca dao, đi sâu vào tìm hiểu ý nghĩa phong
phú của hệ biểu tượng này.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Tìm hiểu số lượng biểu tượng và
khái quát hóa ý nghĩa hệ biểu tượng chim.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh việc sử dụng các biểu tượng
khác nhau và so sánh với văn học trung đại để hiểu sâu hơn về nguồn gốc và
đặc trưng của hệ biểu tượng này trong ca do
- Phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu: Để có sự tiếp thu , bổ sung
và phát triển những nghiên cứu đi trước, tìm ra hướng đi riêng cho mình.
- Phương pháp liên ngành: Biêlinxki khẳng định: Thơ văn là loại hình
nghệ thuật cao cấp nhất…do vậy thơ ca mang trong mình tất cả những yếu tố
của những nghệ thuật khác” Việc nghiên cứu biểu tượng chim trong văn hóa

Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

vô hạn và vô khả tri. Nó vừa phản ánh thực tại, vừa từ thực tại mà tưởng
tượng, suy luận đem lại cho con người một khả năng vô tận: Khả năng trí tuệ,
khả năng tâm linh, để con người có thể tư duy, thông báo với nhau. Như vậy.
bằng cách mô phỏng tự nhiên, con người đã tự sáng tạo một thể giới biểu
tượng đa dạng, phong phú và vô cùng sống động.
Biểu tượng không chỉ tồn tại trong một ngành khoa học riêng mà còn là
đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: Triết học, phân tâm học, mỹ
học, thần học, ngôn ngữ học...Theo phạm vi và mục đích nghiên cứu, bài viết
tập trung làm rõ những khái niệm: Biểu tượng văn hóa, biểu tượng văn học
(nghệ thuật), biểu tượng ngôn từ nghệ thuật.
1.1.1.Biểu tượng văn hóa:
Biểu tượng văn hoá là những khái niệm nằm trong lĩnh vực rộng hơn là
môi trường văn hoá. Khi tìm hiểu vấn đề trên ta không thể không liên hệ tới
khái niệm văn hoá. Văn hoá là phức thể các giá trị vật chất, tinh thần do con
người tác động đến tự nhiên, xã hội và bản thân trong quá trình lịch sử dài lâu
mà tạo nên. Nó tích tụ và thể hiện diện mạo, bản sắc của cộng đồng.
Do khái niệm và nội hàm văn hoá rất rộng nên không ai có thể nói rằng
mình đã tìm hiểu đến tận cùng một nền văn hoá. Vì vậy, việc nghiên cứu biểu
tượng văn hóa cũng là một cách chạm đến các yếu tố văn hoá cụ thể để tìm
hiểu tổng thể. Hàng loạt biểu tượng văn hoá đã hoà nhập cùng tín ngưỡng,
hiển hiện ở phong tục, náu mình trong thần tích, kí thác ở tâm linh, ẩn tàng
trong văn hoá dân gian, trong nghệ thuật truyền thống mà lí giải được nó sẽ


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

tạo ra sự hấp dẫn vô cùng, với những giá trị khoa học và nhân văn to lớn mà
nó đem lại. “ Biểu tượng luôn rộng lớn hơn ý nghĩa được gắn cho nó một

phong tục, lễ hội, nghệ thuật… Biểu tượng văn hóa bao gồm cả những biến
thể vật thể(trong các ngành nghệ thuật như kiến trúc, hội họa, điêu khắc…) và
phi vật thể (tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, văn học).
Biểu tượng phát triển cùng quá trình tiến hóa của loài người: từ tư duy
cổ đại đến tư duy hiện đại. Chính vì thế mà mỗi dân tộc khác nhau trên thế giới
đều có những biểu tượng riêng, mang một ý nghĩa biểu tượng cho cộng đồng
mình. Tác giả Jean Chevalier khi bàn về ý nghĩa của biểu tượng cho rằng: “
mang tính phổ biến, biểu tượng có khả năng cùng lúc thâm nhập vào tận bên
trong cá thể xã hội. Thấu hiểu được các ý nghĩa của biểu tượng cá nhân hay
một dân tộc tức là hiểu được đến tận cùng con người và tộc chủng”.
Chẳng hạn như nền văn hoá lúa nước ở Việt Nam và Đông Nam Á đã
và đang biểu hiện ra khá đậm nét qua một hệ thống biểu tượng về nước, mặt
trời, lúa, gạo... thông qua các công cụ, các trò chơi, qua tín ngưỡng tôn giáo,
phong tục tập quán, văn học nghệ thuật dân gian... Cụ thể như tín ngưỡng
phồn thực cũng là một mã văn hoá thể hiện tính bản địa của các nước nông


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

nghiệp. Phồn: cơ tốt, nhiều; thực: sinh nở con cái, sinh sôi nẩy nở. Tín
ngưỡng này thể hiện ra trong các hoạt động văn hoá theo hai phương thức:
nghi lễ thờ cúng sinh thực khí nam nữ và tôn sùng hoạt động tính giao. Tín
ngưỡng đó thể hiện trong Mã (tín hiệu, biểu tượng) qua các hình thức: tròn –
vuông; âm – dương; chẵn – lẻ; bánh chưng (tét) – bánh giày... Nó đi vào nghệ
thuật bằng hình chạm khắc các ngẫu tượng bằng đá hay bằng gỗ; các trò chơi
như trò trám, rước nõ nường, đánh phết; đi vào văn học dân gian với thần
thoại về các đôi nam nữ thần như Nữ Oa – Tứ Tượng, Ông Đùng – Bà Đà,
Ông Thu Tha – Bà Thu Thiên, Ông Đực – Mụ Cái... mà các sinh thực khí của
họ được đặc tả và phóng đại về kích thước.(trích theo PGS. TS Nguyễn Thị
Bích Hà, tạp chí văn học số 6/2005)

tưởng rộng rãi hơn biểu tượng, số lượng nhiểu hơn nhưng không bền vững
bằng(…) Biểu tượng là hình ảnh ẩn dụ được sử dụng ở mật độ cao mang tính
quy ước” (Phạm Thu Yến)
Có thể thấy, biểu tượng là khái niệm bao quát, bao trùm cả ẩn dụ, biểu
tượng là việc sử dụng ẩn dụ ở mật độ cao có tính quy ước. Mục đích của việc
phân biệt ẩn dụ và biểu tượng là để người tiếp nhận văn học tránh cách hiểu
đánh đồng hai thuật ngữ trên, bởi trong văn học, cụ thể là văn học dân gian,


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

có những hình ảnh ẩn dụ chưa đạt đến biểu tượng hay có biểu tượng lại thâu
tóm cả ẩn dụ vào trong nó.
1.1.2.2. Phân biệt biểu tượng và hình tượng:
Biểu tượng và hình tượng cũng đều có giá trị nhận thức cảm tính và chủ
quan trong việc phản ánh thực tại, có phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ,
nhưng lại khác nhau: Sự tồn tại của hình tượng nghệ thuật không bao giờ
vượt quá giới hạn của hình thức biểu đạt cụ thể (luôn có phương tiện biểu
hiện trọn vẹn nghĩa của hình tượng), còn sự tồn tại của biểu tượng thì lại vượt
quá giới hạn của một sự biểu đạt, biểu nghĩa (nghĩa là không một phương tiện
nào có thể biểu đạt trọn vẹn ý nghĩa của biểu tượng).
Hình tượng bao giờ cũng tách riêng hoặc có xu hướng tách riêng ra
khỏi một hệ thống nào đó để phù hợp với yêu cầu: tự do, hoàn thiện, độc đáo
và khác biệt. Trong khi đó biểu tượng bao giờ cũng nằm trong một hệ thống
nhất định, không thể tách ra đứng độc lập trong nhận thức của con người.
Điểm khác nhau rõ nét nhất là biểu tượng có phạm vi lớn hơn hình
tượng rất nhiều.Với tư cách là khách thể tính thể chứ không phải khách thể
thực tại, hình tượng có một số đặc tính của biểu tượng. Chính yếu tố này
khiến cho biểu tượng trong văn học dân gian có khi chỉ là một nhưng lại có
thể diễn tả được nhiều hình tượng. Từ một biểu tượng chim, chúng ta có thể

Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

riêng có thể gọi là một cách định danh mơ hồ, đòi hỏi một tư duy tưởng
tượng, một cái nhìn khám phá bản thể bị che khuất. Trong văn học, cấu trúc
ngôn từ của thơ ca được xem như một tổng thể các tín hiệu thẩm mỹ, trong đó
vai trò quan trọng thuộc về các từ - biểu tượng với tư cách là những điểm
nhấn trong tổng thể đó.

1.2. Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao Việt Nam:
Ẩn dụ và biểu tượng là hình thức nghệ thuật được sử dụng phổ biến
trong ca dao dân ca. Nhà nghiên cứu văn học Pháp F.Brunettiere với thuyết
tiến hoá luận văn học nhấn mạnh rằng: “Chúng ta có thể thành công trong
việc so sánh các tác phẩm văn học và nghệ thuật với những sáng tạo của
thiên nhiên song chỉ trong ý nghĩa ngôn ngữ hoặc xã hội so sánh với sinh vật,
có nghĩa là không một phút nào được quên rằng đó chỉ là sự so sánh hay
phép ẩn dụ”. Như vậy, xây dựng biểu tượng được coi là một trong những thủ
pháp đắc dụng để con người phát huy tính sáng tạo, tính liên tưởng bay bổng
phong phú của mình tạo giá trị biểu cảm cho những lời ca.
1.2.1.Khái niệm:
Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao là những kí hiệu ngôn ngữ được lặp
đi lặp lại nhiều lần, có khả năng biểu hiện những ý nghĩa sâu xa. Biểu tượng
ca dao là những hình ảnh đã được dân gian chọn lọc trong sử dụng và được
thử thách qua nhiều năm tháng, thể hiện đậm nét những đặc trưng truyền
thống của folklore. Con cò, con bống, hạt mưa, ngọn đèn không tắt, tấm


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

gương mờ..là những biểu tượng quen thuộc trong ca dao. Qua thực tế khảo
sát, có thể tập hợp biểu tượng thành những nhóm khác nhau, mỗi nhóm bao

nghĩa biểu tượng đặc sắc:
- Vẻ đẹp của người con gái được ví như loài hoa:
Con gái Phượng Hoàng như hoa thiên lí
Con trai thiên hạ có ý thì coi.
- Hoa tươi", "cành hoa nở đong đưa", “hoa nở giữa trời" là cô gái đang
thì xuân sắc:
Ra đường thấy cánh hoa tươi
Giơ tay toan ngắt nghĩ thôi lại ngừng.

Thấy cành hoa nở đong đưa
Dang tay ra hái sợ chùa có sư.
- "Bẻ hoa", "hái hoa", "ngắt hoa" được ví von với nghĩa người con gái
mất đi sự trinh trắng:
Dang tay bẻ quặt hoa quỳ
Bốn cành hoa ấy tức thì em trao.
Bởi vì ngắt nhị hoa đào


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

Đang tay nàng nghĩ thế nào cho xong.
- "Hoa một thì" ngầm ẩn về tuổi trẻ ngắn ngủi của người phụ nữ, về
thân phận một đời hoa sớm nở tối tàn. Số phận họ nổi trôi như “bông hoa cúc
biết vào tay ai":
Hoa mơ hoa mận hoa đào
Kìa bông hoa cúc biết vào tay ai.

Đàn bà như hoa một thì
Chàng mà nghĩ lại thiếp thì được ơn.
Người phụ nữ khi đã lấy chồng, bước qua thời con gái phải âm thầm

2.1. Thống kê, phân loại:
2.1.1.Thống kẻ:


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

Phạm vi khảo sát: Cuốn “ Tục ngữ ca dao Việt Nam” (Vũ Trọng Phan)
Đối tượng khảo sát: Hình ảnh chim nói chung và các loài chim xuất hiện
trong ca dao (Không phải các loài chim được gắn liền với các đồ dùng sinh hoạt
hay các vật chất cụ thể như: Hình ảnh phòng loan, gối phượng, gót loan…)
Con số thống kê:
Số lượng khảo sát

1350 câu

100%

Số câu xuất hiện biểu (hơn) 100 câu

7,40 %

tượng chim
Số lần xuất hiện: khoảng 180 lần
Kiểu loài: hơn 20 loại chim các loại
Điều đó cho thấy biểu tượng chim xuất hiện trong ca dao với một tần số
cao. Cùng với các biểu tượng khác trong ca dao, nhóm biểu tượng chim cũng
mang giá trị thẩm mỹ rõ rệt. Bên cạnh những lần xuất hiện với lớp nghĩa đen
thuần túy, trong nhiều trường hợp, các loài chim còn được dân gian khoác
cho lớp nghĩa biểu tượng.
2.1.2 .Phân loại:

tu hú…)


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

- Biểu tượng cho ước mơ khát vọng của con người (bồ câu. Phượng
hoàng, én, nhạn…)
Ngoài ra có thể phân loại theo những biến thể biểu tượng, phần
này sẽ được tập trung trình bày trong chương III.
2.1.3. Nhận xét:
Qua việc thống kê, phân loại ta thấy hệ biểu tượng chim được sử dụng
rất nhiều trong ca dao, đặc biệt là các loài chim đồng nội, gần gũi với đời
sống của người dân Việt Nam. Những điều này có liên quan đến tư duy cổ
xưa của nhân dân ta. Ngoài ra các biểu tượng ước lệ như: loan, phượng, chim
Việt…cho thấy sự ảnh hưởng của văn học Trung đại trong văn học dân gian.
Chính vì thế khi khảo sát biểu tượng chim trước hết phải đi từ nguồn gốc, tìm
hiểu nguyên nhân của việc sử dụng hệ biểu tượng chim trong ca dao.
2.2.Tìm hiểu nguồn gốc của việc sử dụng biểu tượng chim trong ca dao:
Kết quả thống kê phân loại cho thấy hệ thống biểu tượng chim trong ca
dao không chỉ xuất hiện với số lượng khá lớn mà còn có ý nghĩa rất đa dạng
phong phú. Để lý giải điều này có thể xuất phát từ đặc trưng đối tượng của
nghệ thuật, đồng thời trên cơ sở mối liên hệ với lối tư duy, tín ngưỡng, tôn
giáo (đời sống văn hóa nói chung) của người xưa.
2.2.1. Biểu tượng chim đã xuất hiện từ rất lâu đời trong ca dao với tư
cách là sản phẩm của tín ngưỡng, quan niệm, tư duy người Việt cổ.
“Thực tiễn sản xuất, sinh hoạt và chiến đấu của nhân dân ta thời
nguyên thủy đã được phản ánh vào lĩnh vực tinh thần theo một thế giới quan


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

Lao nhao tiếng Mọi (Mường)
Như vậy trong tư duy của người cổ xưa, con chim đã là loài vật thiêng
liêng, quan trọng trong cuộc sống của con người. Là nguồn gốc, cha mẹ loài
người..Chính vì thế mà chim được thờ nhiều trong đền chùa, và biểu tượng
chim xuất hiện trong kiến trúc điêu khắc, hội họa, nghệ thuật:
Một trong bốn con vật linh thiêng (tứ linh) của người phương Đông là
chim Phượng được thờ trong đình chùa. Tranh tượng hạc và công được xem
như biểu tượng của trường thọ, niềm vui, may mắn và hạnh phúc lứa đôi.
Chim hạc còn được coi là con vật đưa linh hồn người vào thế giới bên kia "
cưỡi hạc quy tiên". Trong những điệu nhảy tôn giáo hiện vẫn còn tồn tại trong
đời sống của các dân tộc VN, ta cũng thấy các vũ điệu chim. Tượng chim khá
phổ biến trong các trang trí đình chùa, ví dụ như chùa Phật Tích(Bắc Ninh)
xây dựng vào thế kỷ XI, trên các cột đá chạm ta thấy có hình đầu người mình
chim. Trong các chùa Kh'mer ở Nam Bộ, người ta thờ tượng chim thần Maha
Krút, còn ở các chùa Chăm ở miền Trung thờ chim thần Garuda(là một vị
thần đầu chim mình người). Hoạ tiết ưa thích nhất của người Việt cổ cũng là
các loài chim. Trên các di chỉ khảo cổ tìm được ở các niên đại từ khoảng
2000 đến 4000 năm trước, chúng ta đều thấy có các hình chim. Trên các trống
đồng, thạp đồng hay đồ gốm sứ của các di chỉ Đồng Đậu(Vĩnh Phú), Đình


Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com

Tràng(Hà Nội), Đông Sơn(Thanh Hoá), Miếu Môn(Hà Tây) thường có hình
chim Lạc.
Văn học dân gian với tư cách là sản phẩm của văn hóa tinh thần và tư
duy của người dân từ buổi sơ khai của lịch sử loài người đến nay, nên biểu
tượng chim đã xuất hiện từ rất lâu đời trong ca dao, phản ánh con người và
thế giới tự nhiên xã hội bên ngoài con người: chim được nhân cách hoá để thể
hiện mọi mặt của cuộc sống, từ cái thiện đến cái ác, từ phản diện đến chính

tộc Việt Nam là một dân tộc yêu hòa bình. Nhắc đến tên mỗi làng quê Việt
Nam, người ta nghĩ ngay đến hình cảnh những cánh chim sải cánh trong bầu
trời xanh thanh bình. Đó cũng là lí do khiến hình ảnh trong ca dao có phần
nhiều hình ảnh những cánh chim gần gũi thân thuộc với không gian làng quê.
Với bản chất tâm hồn giàu có phong phú và nhạy bén, nhân dân luôn mở rộng
đón nhận những âm vang của cuộc sống, đó là động lực thúc đẩy họ sáng tạo
và xây dựng một hệ biểu tượng chim sinh động trong ca dao.
Đối với họ, loài chim cũng mang chức năng thẩm mỹ cao cả, hình ảnh
chim trong đời sống là loài vật được tạo hóa ban tặng cho những vẻ đẹp riêng.
Chúng là những loài vật ngày đêm vất vả vì kiếm sống (cò, vạc,…), lại là
những con vật tự do bay lượn phóng khoáng trong không trung (nhạn, én…),



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status