SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Biểu tượng kép trong ca dao Việt Nam - Pdf 26

Biểu tượng kép trong ca dao Việt Nam
(Nhân đọc Một biểu tượng kép về sự thuỷ chung trong ca dao)

Con người ta đang sống trong một thế giới biểu tượng. Hay nói cách khác, một
thế giới biểu tượng đang sống trong mỗi chúng ta. “Biểu tượng là cái gì ngoài ý nghĩa
vốn có của nó còn hàm chứa một ý nghĩa khác, tức là ngoài nghĩa đen còn có nghĩa
bóng”( K.G. Jung) . Nghiên cứu về biểu tượng là lĩnh vực đã và đang được các nhà khoa
học thuộc nhiều ngành khác nhau quan tâm. Các biểu tượng góp phần làm nên bộ mặt
của một nền văn hóa ở những đường nét cơ bản nhất. những ý nghĩa hàm ẩn mà biểu
tượng khơi gợi ra như một quy ước thẩm mỹ của cộng đồng…
Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao là những kí hiệu ngôn ngữ được lặp đi lặp lại
nhiều lần, có khả năng biểu hiện những ý nghĩa sâu xa; là những hình ảnh đã được dân
gian chọn lọc trong sử dụng và được thử thách qua nhiều năm tháng, thể hiện đậm nét
những đặc trưng truyền thống của VHDG.
Trong hệ thống biểu tương văn học dân gian, “Muối mặn-Gừng cay” thuộc biểu
tượng mang tính dân tộc. Tác giả Khải Nguyên đã rất tinh tế khi đưa ra những phân tích
lý giải :" Không phải ngẫu nhiên mà các từ có yếu tố “cay” đều có chung nét nghĩa bất
ổn, không lành (cay cú, cay cực, cay đắng, cay độc, cay nghiệt, chua cay, sâu cay…), còn
các từ có yếu tố “mặn” thì lại thể hiện sự thân thiết, gắn kết (mặn mà, mặn mòi, mặn
nồng…). Trong các vị thông thường, thì cay, đắng thuộc dương; mặn, ngọt, chua thuộc
âm. “Cay” gây ra bứt rứt, nóng nảy, “cay như hớt”, “cà cuống chết đến đít vẫn còn cay”,
quả là khó quên. “Mặn” hầu như không có tác dụng ngay, mà âm ỉ theo thời gian “ăn
mặn, khát nước” (đời cha ăn mặn, đời con khát nước) hoặc phải rút kinh nghiệm “mặn
mất ngon, giận mất khôn”, cũng không phải dễ quên.
Xét mặt “mùi đời”, có thể coi đây là hai “vị chủ”, tiêu biểu cho mặn nồng và cay
đắng, hai trạng thái của con người hay hai cách cư xử về một con người. Nhấn mạnh
“cay”, “mặn”; hai mặt đối lập của một chỉnh thể (“đĩa muối chấm gừng”) như vậy, cho
thấy sự nhìn nhận vấn đề hôn nhân rất khách quan: cay đắng hay mặn nồng là hai trạng
thái, tình huống song song tồn tại trong quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa người khác với
vợ chồng…
Muối mặn - gừng cay

Cất trong dải yếm mở ra mời chàng
- Đàn ông đóng khố đuôi lươn
Đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh
- Yếm trắng mà vó nước hồ
Vó đi vó lại anh đồ yêu thương…

Hình ảnh chiếc cầu trong ca dao được nhắc đến rất nhiều:
cầu tre, cầu ván,
cầu đá, cầu xây…cầu mùng tơi, cầu sợi chỉ, cầu cành hồng
… Chiếc
cầu dải yếm
không có
trong thực tế nhưng lại là chiếc cầu đẹp nhất, nên thơ và gợi cảm nhất trong ca dao.
Bản "thiết kế" của "kiến trúc sư" trong bài ca dao này chắc chắn là của một người con
gái ở độ tuổi mười tám, đôi mươi… tình yêu vừa chớm nở. Người con gái nghĩ ra chiếc
cầu này là để "bắc" riêng cho một người "sang chơi". Ý nghĩ đó thật táo bạo, tinh nghịch
nhưng cũng rất đằm thắm và đầy nữ tính, thể hiện ước muốn được gần nhau. Người con
gái đã nghĩ thật và nói thật, nhưng là cái thật của ước mơ, khát vọng chứ không phải là
cái thật trong hiện thực cuộc đời. Trong trường hợp này, chiếc yếm trở thành biểu
tượng cho khát vọng tình yêu mãnh liệt của những chàng trai, cô gái lao động trong xã
hội xưa.
Yếm là mảnh vải hình vuông (hoặc hình thoi) đeo trước ngực, phía trên khoét tròn
làm cổ, hai góc bên đính với dải để buộc ra sau lưng. Khi trời nóng bức, người ta mặc váy
yếm, hai tay và lưng để trần. Yếm có nhiều mầu sắc: yếm nâu mặc đi làm đồng, yếm
trắng mặc thường ngày. Yếm thắm, yếm đỏ, yếm hồng, yếm đào mặc trong dịp lễ hội…
Trang phục lễ hội cổ truyền, người thiếu nữ không thể không có hình ảnh cái yếm (Xem
thêm:
Ý nghĩa nhân văn trong trang phục truyền thống
- Trần Ngọc Dung).
Như vậy, chiếc yếm cũng đã trở thành một biểu tượng kép:

Bài viết của Khải Nguyên là một sự tìm tòi, nghiên cứu nghiêm túc. Với một người làm
công tác sưu tầm, nghiên cứu VHDG, đi tìm những "biểu tượng kép" trong ca dao là một
công việc thú vị. Từ bài viết này, mong tác giả Khải Nguyên có thể phát triển, mở rộng ra
thành một đề tài lớn hơn "Đi tìm những biểu tượng kép trong ca dao Việt Nam" thì sẽ
thú vị và có ý nghĩa lớn lao hơn.
Có thể là như thế.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI Ở TRƯỜNG THPT KHÔNG CHUYÊN
1. Đặt vấn đề
1.1. Bàn về chuyện dạy văn trong không khí văn chương buồn
tẻ như ở nhà trường THPT hiện nay đã khó, nói đến chuyện bồi
dưỡng học sinh giỏi (HSG) môn văn lại càng khó hơn. Với tôi,
chuyện người thầy phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi cũng như
người trồng hoa. Bông hoa đẹp bởi bàn tay người chăm bón, nâng
niu. Nhưng đâu phải khi nào hoa cũng khoe sắc rực rỡ. Chỉ cần
một cơn trở gió, một sự thay đổi tiết trời, một sự lãng quên, bất
cẩn của người là hoa kém sắc, cây không trổ bông.
Có đồng nghiệp nói với tôi rằng, giỏi văn chỉ là "thiên bẩm".
Là người trực tiếp giảng dạy môn văn đã nhiều năm ở phổ thông,
tôi không nghĩ như vậy. Với tôi, người thầy dạy văn trong trường
học không phải là chất xúc tác trong quá trình biến đổi chất!
Năng khiếu và tri thức văn chương nói riêng, tri thức văn hoá nói
chung được bồi đắp theo năm tháng, gắn liền với sự nhạy bén của
tố chất cá nhân đã làm nên hồn văn ở học sinh.
1.2. Trong nhà trường THPT, nhất là ở những trường không
chuyên, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi như thế nào để
đạt kết quả tốt, quả là một vấn đễ không đơn giản. Trường Huỳnh
Thúc Kháng chúng tôi, việc bồi dưõng HSG đã có sự quan tâm và
đầu tư nhất định. Hằng năm, qua các kỳ thi HSG tỉnh chúng tôi đã

sẽ giúp các em chịu khó tìm tài liệu để mở mang kiến thức. Và
quan trọng hơn là nó giúp học sinh phát huy được trí tưởng
tượng, sự liên tưởng để sống sâu sắc hơn với những cái mình đã
đọc, đã học.
HSG văn là những học sinh có những tư chất bẩm sinh,
như tiếp thu nhanh, có tri nhớ bền vững, có khả năng phát hiện
vấn đề và có khả năng sáng tạo (có ý tưởng mới trong bài làm).
HSG văn phải có vốn tri thức phong phú và hệ thống,
thuộc nhiều thơ văn trong và ngoài chương trình qua sự tìm đọc,
tích luỹ; phải có sự hiểu biết càng nhiều càng tốt về con người và
xã hội.
Chẳng hạn nhờ có sự say mê tìm đọc mà một học sinh đã biết
thêm ý kiến của thầy giáo Mai Văn Hoan về cách hiểu câu thơ:
"Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng" là phải dựa vào đặc điểm
cây bồ đề - một loại cây cao chừng15m, búp non, phủ lông mịn
màu vàng, hoa nhỏ mọc thành chùm. Bồ đề có hai loại : loại hoa
trắng gọi là cánh kiến trắng, loại hoa vàng gọi la cánh kiến vàng.
Loại cánh kiến hoa vàng thường mọc trên vùng sỏi sạn ở độ cao
300-700 m. Nhựa của nó vừa là loại thuốc quí , vừa để chế ra chất
keo gắn kết rất chặt. Phải chăng vì những phẩm chất đó mà nhà
thơ Chế Lan Viên so sánh "Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng" -
một tình yêu đẹp được ươm mầm trong gian khổ, khó khăn và
khăng khít keo sơn mãi mãi.
Một trong những biểu hiện không thể thiếu và thường khó
giấu của HSG văn là rất giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước
mọi vấn đề, trước cuộc sống. Biểu hiện thường thấy ở những học
sinh này là dễ vui nhưng cũng rất dễ buồn trước những vấn đề đặt
ra trong tác phẩm và nhất là do sự tác động qua lời giảng của giáo
viên. Thường thì đây là những học sinh sống rất tình cảm, thích
gần gũi với thầy cô, bạn bè và với mọi người, hay bộ lộ quan

trọng. Khi chấm bài, thầy cô không chỉ chú trọng những bài chu
đáo, khuôn mẫu, đầy đủ mà còn quan tâm đến những bài có thể
có chỗ chưa sâu, nhưng có chỗ độc đáo, sâu sắc… phải sửa kỹ,
phê kĩ, thật sự nghiêm khắc khi đánh giá và có nhật kí chấm bài.
Dĩ nhiên, một bài viết không thể đánh giá được quá trình nhưng
đó là sự khởi đầu để định hướng phát hiện, bổ sung ở những bài
viết tiếp theo vì việc tuyển chọn HSG không chỉ dừng lại ở một
số bài viết mà phải theo dõi cả quá trình học tập.
3. Bồi dưỡng HSG văn
3.1. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG
Theo phân phối chương trình môn văn, số tiết dạy chính
khoá trong tuần của giáo viên ở trường THPT không chuyên, chỉ
bằng 1/2 số tiết dạy của giáo viên trường chuyên. Thời lượng để
dạy một tác phẩm cũng ít hơn rất nhiều. Vì vậy, giáo viên không
có điều kiện đi sâu, giảng kỹ tác phẩm; học sinh ít có cơ hội để
được ôn luyện bài bản như học sinh ở các trường chuyên. Đây là
một thực tế hết sức bất lợi cho cả thầy và trò trường không
chuyên trong những kì thi HSG tỉnh vì cả học sinh trường chuyên
và không chuyên đều cùng thi chung một đề (dĩ nhiên, những học
sinh trường chuyên là những học sinh đã được tuyển chọn kỹ
lưỡng lúc vào trường lại được học tập, bồi dưỡng có hệ thống sẽ
có lợi thế hơn nhiều so với các em ở trường không chuyên).
Những khó khăn đó chính là bài toán nan giải đối với những giáo
viên giảng dạy ở trường không chuyên như chúng tôi. Tuy nhiên,
dù khó khăn bao nhiêu chúng tôi cũng phải tìm được một cách
giải, một lối thoát cho mình.
Sau khi đã phát hiện và thành lập được đội ngũ HSG
công việc tiếp theo là xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch
bồi dưỡng HSG (Bao gồm cung cấp kiến thức, hướng dẫn tự học
và rèn luyện kỹ năng). Các khâu trên càng thực hiện chu đáo bao

Nhìn chung, tinh thần nhất quán của đề thi HSG là theo sát
chương trình. Từ nhận thức đó, trong quá trình ra đề rèn luyện kỹ
năng cho học sinh, tôi thường tập trung vào một số dạng đề cơ
bản sau:
a. Đề kiểm tra khả năng cảm thụ tác phẩm văn học
Dạng đề này phải gắn với những tác phẩm hay có trong chương
trình.
Ví dụ:
+ Nhận xét về nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình"của Nguyễn Du trong
Truyện Kiều , có ý kiến cho rằng:
" Thiên nhiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là thiên nhiên
biết xúc động, biết cảm nhận được mọi tâm trạng con người. Nó
hiện lên như một người bạn tri kỷ, cùng chịu đựng nỗi đau, cùng
chia sẻ niềm vui với con người. "
Dựa vào những hiểu biết của em về Truyện Kiều, hãy làm sáng tỏ
ý kiến trên.
+ Kết thúc tác phẩm "Đời thừa", nhân vật Hộ tự xỉ vả mình:
-Anh …anh…chỉ là …một thằng…khốn nạn!…
Còn nhân vật Từ nói:
-Không!…Anh chỉ là một người khổ sở chính vì em mà anh
khổ!
Từ kết thúc trên, anh (chị) phân tích và bình luận về tình cảm
nhân đạo sâu sắc của nhà văn Nam Cao được thể hiện trong tác
phẩm.
+ Phân tích vẻ đẹp của dòng sông Bạch Đằng trong bài Bạch
Đằng giang phú của Trương Hán Siêu
Qua dạng đề này có thể kiểm tra được kiến thức cơ bản của học
sinh về tác phẩm: nắm hệ thống chi tiết, hình ảnh; hiểu khái quát
giá trị nội dung- nghệ thuật của tác phẩm; năng lực chọn lựa và
cảm thụ tác phẩm nghệ thuật ở nhiều cấp độ khác nhau: chỉnh thể

có cơ hội để phát huy năng khiếu và sở trường riêng của một
HSG. Nó đòi hỏi học sinh vùa nắm được những vấn đề cụ thể, chi
tiết, vừa biết khái quát tổng hợp và lý giải vấn đề. Có thể so sánh
tác phẩm cùng đề tài, cảm hứng trong một giai đoạn văn học, của
một tác giả hoặc khác giai đoạn, khác tác giả…
Ví dụ:
+ Có ý kiến cho rằng, "Mời trầu" và "Tự tình", hai bài thơ, hai
giọng điệu khác nhau nhưng cùng một "chất" Xuân Hương. Hãy
phân tích và làm sáng tỏ ý kiến trên.
+So sánh sự giống và khác nhau giữa bài thơ "Thu vịnh" của
Nguyễn Khuyến và " Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu.
+ So sánh bức tranh mùa thu trong thơ Xuân Diệu qua bốn câu
mở đầu bài "Thơ duyên" và "Đây mùa thu tới".
+ Vẻ đẹp hình tượng người lính qua hai bài thơ "Đồng chí " của
Chính Hữu và "Tây Tiến" của Quang Dũng.
+ Phân tích đặc sắc riêng về cảm hứng đất nước ở bài thơ "Đất
nước" của Nguyễn Đình Thi và "Đất nước" ( Chương V -Trích
Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.
+ Những tương đồng và khác biệt trong cách cảm nhận và thể
hiện số phận người nông dân nghèo qua hai tác phẩm Vợ chồng
A Phủ (Tô Hoài) và Vợ nhặt (Kim Lân).
3.2.2. Rèn luyện kỹ năng phân tích đề
Xét đến cùng, việc dạy HS làm bài, rèn luyện kỹ năng nghị luận
văn học là một trong những khâu quan trọng, ảnh hưởng quyết
định đến kết quả thi HSG. Đây là khâu yếu nhất của HS (kỹ năng
phân tích đề, lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết đoạn, đưa dẫn chứng,
phân tích dẫn chứng ).
Trước hết, trong thời gian bồi dưỡng, giáo viên cần cho học sinh
làm quen với nhiều dạng đề thi HSG, đặc biệt là những dạng đề
có cách diễn đạt có thể gây ngộ nhận hoặc có thể hiểu yêu cầu đề

mỗi luận điểm trong việc thể hiện các yêu cầu của bài;
+ sắp xếp các luận điểm theo trình tự chặt chẽ, khoa học.
Để giúp học sinh thực hiện được yêu cầu trên, tôi thường hướng
dẫn các em đặt hệ thống câu hỏi và tự trả lời: + câu hỏi tìm luận
điểm: Yêu cầu trọng tâm của đề là gì? Vấn đề cần giải quyết có
thể triển khai ở những khía cạnh, phương diện nào? + Câu hỏi xác
định quan hệ và vai trò của luận điểm: Những khía cạnh, phương
diện ấy quan hệ với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện
tập trung và rõ nét các yêu cầu trọng tâm của đề? + Câu hỏi sắp
xếp luận điểm: Các khía cạnh, nội dung cần nghị luận được trình
bày như thế nào là tối ưu nhất?
Những nội dung này học sinh được suy nghĩ trong vòng 25-30
phút, sau đó học sinh sẽ trình bày ngắn gọn bằng hình thức nói
(yêu cầu phải nói rõ căn cứ để nhận thức đề, đề xuất luận điểm và
sắp xếp ý). Cuối cùng giáo viên mới chữa hoàn chỉnh.
Chẳng hạn, với đề văn: Trong kiệt tác TKiều, Nguyễn Du viết:
"Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng".
Anh (chị) hiểu như thế nào về câu thơ trên? Bằng sự hiểu biết về
Truyện Kiều và bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của ND , hãy làm sáng
tỏ ý thơ trên./.
ở đề trên, học sinh cần đề xuất được các luận điểm chính sau:
- Giải thích ý nghĩa câu thơ của ND ( "những điều trông thấy"?
"Đau đớn lòng"? )
- "Nỗi đau đớn lòng" trước "những điều trông thấy" của ND được
thể hiện như thế nào trong Truyện Kiều và ĐTTK?
- Đánh giá về giá trị của Truyện Kiều, về nỗi niềm ND được thể
hiện qua tác phẩm của mình về sức sống của tác phẩm ND
Ở bước này, phần làm việc của học sinh ở nhà là tiếp tục viết
thành văn phần mở, kết bài và các câu, đoạn chuyển ý.

loát rõ ý; chữ viết sạch sẽ, dễ đọc, không mắc lỗi chính tả, dùng
từ, viết câu. Từ đó nâng dần yêu cầu học sinh phải viết được
những đoạn văn hay, có cách dùng từ chính xác, sáng tạo, mới lạ,
có giọng văn riêng, thể hiện được dấu ấn, phong cách của người
viết.
Để đạt được những yêu cầu đó, học sinh phải tham khảo
những bài văn mẫu do giáo viên lựa chọn, định hướng; Có thể
học tập cách viết của các bạn của mình (những đoạn, những ý mà
giáo viên cho là đúng và hay). Hình thức này rất có hiệu quả bởi
đó là những đoạn văn, bài văn hay do chính các em viết; Các em
rất tự hào khi có được bài văn, đoạn văn hay mà được thầy cô và
bạn mình trân trọng.
Kỹ năng viết thành văn phải được tiến hành thường xuyên
bằng hình thức ra đề cho các em làm thêm ở nhà, giáo viên tranh
thủ chấm và chữa kỹ cho các em.
3.2.5. Chấm và chữa bài
Đối với các em HSG, khi chấm bài giáo viên phải chỉ ra
được điểm mạnh, yếu cơ bản của mỗi bài; theo dõi và động viên
kịp thời mức độ tiến bộ của mỗi học sinh trong từng bài viết. Khi
chấm, giáo viên phải chỉ ra các lỗi cụ thể về dùng từ, viết câu, tổ
chức ý… phân tích cho học sinh hiểu nguyên nhân và định hướng
cách chữa để học sinh có thể tự sửa chữa các lỗi của mình. Và để
tạo hứng thú, giáo viên có thể tổ chức hưỡng dẫn ọc sinh đọc và
chữa bài cho nhau.
4. Kết luận
4.1. Thực tế giảng dạy và bồi dưỡng HSG trong nhiều năm qua
giúp tôi nhận ra rằng, "thiên bẩm" hết sức quan trọng. Song trên
thực tế, không có một tài năng thiên bẩm nào tự nó có thể đi đến
thành công. Bởi thế, vai trò người thầy là hết sức quan trọng.
Những hệ thống tri thức, con đường tiếp nhận văn chương, và cả

Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Văn học, gần đây, trên các diễn đàn
nghiên cứu, các hội nghị, hội thảo, người ta đã bàn nhiều đến vấn đề đổi mới phương
pháp dạy học. Mối quan tâm bức xúc đối với những người trực tiếp giảng dạy văn học ở
nhà trường phổ thông là làm thế nào để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh,
nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ, khơi gợi niềm say mê hứng thú học tập bộ môn
Văn học trong tình hình hiện nay.
Giải quyết thực trạng trên đây, theo chúng tôi, cần phải kết hợp đổi mới phương pháp
giảng dạy cả giờ chính khoá lẫn hoạt động ngoại khoá, mà trước hết là phải có một
quan niệm đúng về tầm quan trọng, ý nghĩa của những hoạt động ngoại khoá Văn học.
Theo dõi quá trình đổi mới phương pháp dạy học Văn - tiếng Việt ở nhà trường phổ
thông trong những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy nội dung đổi mới thường tập trung
vào giờ chính khoá, còn hình thức ngoại khóa thì ít được chú trọng triển khai. Phải
chăng hoạt động ngoài giờ của học sinh là không quan trọng, không đóng vai trò trong
việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn? Đã đến lúc cần xác định lại vị
trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá, phát huy cao độ tính năng động sáng tạo, niềm
hứng thú của học sinh.
2. Hoạt động ngoại khoá Văn học theo quan niệm đổi mới phương pháp dạy học là một
hình thức tự học tích cực, bổ ích và có hiệu quả, nối liền bục giảng với thực tiễn đời
sống, mở rộng, kéo dài trường suy tưởng - thẩm định về bài học cho học sinh; phát huy
tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, kiểm tra lại chất lượng dạy học trong
giờ chính khoá. Hoạt động ngoại khoá Văn học, vì thế, vừa là hoạt động giáo dục, vừa
là hoạt động thẩm mỹ, "góp phần tạo ra lối sống văn hoá và khả năng hưởng thụ văn
hoá nghệ thuật cho học sinh. Qua hoạt động ngoại khoá Văn học, học sinh được phát
triển cân đối về trí tuệ, đạo đức, thể dục và mĩ dục" (Phan Trọng luận, Phương pháp
dạy văn, Nxb Đại học Quốc gia 1996, Tr. 381).
Hoạt động ngoại khoá Văn học càng cần thiết và bổ ích khi được áp dụng vào quá trình
dạy học phần Văn học dân gian ở THPT vì những lí do sau:
Thứ nhất: Ngoại khoá Văn học dân gian góp phần làm sáng tỏ những đặc trưng cơ bản
của Văn học dân gian (tính tập thể, tính truyền miệng, tính dị bản, gắn với sinh hoạt xã
hội. . . ) - điều mà giáo viên và học sinh rất khó thực hiện trong giờ chính khoá do hạn

vào tình hình thực tế ở nhà trường phổ thông và nhu cầu học tập của bộ môn, chúng tôi
xin đề xuất một số hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá Văn học dân gian cho đối
tượng là học sinh lớp 10 như sau:
3.1. Ngoại khoá về truyện cổ dân gian.
a. Phần chuẩn bị:
- Sau khi học sinh đã được học bài khái quát về Văn học dân gian, tổ chuyên môn phân
công giáo viên ra và hướng dẫn học sinh viết một số đề tài tìm hiểu về giá trị nội dung,
nghệ thuật của truyện cổ dân gian .
- Giáo viên chọn những bài viết tốt của học sinh để trình bày trong câu lạc bộ. (Bài viết
tốt sẽ lấy điểm thay thế cho một bài kiểm tra hệ số 2), sau đó đưa ra tổ để góp ý, thống
nhất chung.
- Hướng dẫn học sinh đọc thêm những thuyện cổ dân gian ngoài chương trình để chọn
và dựng hoạt cảnh chuyển thể từ truyện cổ dân gian (Ví dụ: truyện về các thầy đồ, thầy
bói, thi nói khoác. . . )
- Phân công trang trí, chuẩn bị loa máy, trang phục cho phù hợp với yêu cầu của câu lạc
bộ Văn học dân gian .
- Định thời gian tổ chức CLB, gửi giấy mời.
b. Phần thực hiện chương trình: (Trong thời gian 90 phút)
+Lời khai mạc: (5 phút)
- Giới thiệu chương trình CLB.
- Mục đích, ý nghĩa, quá trình chuẩn bị cho CLB.
+ Báo cáo của học sinh: ( 15 phút)
- Học sinh đề tài trình bày những hiểu biết về giá trị nội dung, nghệ thuật của truyện cổ
dân gian Việt Nam.
+ Phần minh hoạ: (60 phút)
- Kể chuyện dân gian (chú ý tạo không gian kể chuyện ).
- Các lớp (hoặc nhóm học sinh) thể hiện các hoạt cảnh chuyển thể từ truyện cổ dân gian
.
+ Tổng kết: (Trong thời gian 10 phút)
- BTC đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm, trao quà cho các báo cáo viên và các tiết mục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status