Thực hiện chính sách việc làm cho thanh niên từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC THẢO

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC THẢO

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HỒ VIỆT HẠNH


1


cân đối.... Do vậy, việc định hướng nghề nghiệp, tạo việc làm, giảm thiểu tình
trạng thất nghiệp cho TN hiện nay đang là một vấn đề cấp bách, cần phải
được giải quyết, muốn giải quyết tốt vấn đề này đòi hỏi sự quan tâm, cộng
đồng trách nhiệm của các cấp, các ngành, các chủ thể xã hội liên quan.
Từ những khó khăn trong công tác giải quyết việc làm cho TN như đã
nêu ở trên, học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách việc làm cho TN từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành
Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua quá trình tham khảo tài liệu phục vụ cho luận văn, trong thời gian
qua ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vấn đề việc làm, giải
quyết việc làm dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể nêu một số đề tài sau:
- Luận văn Thạc sĩ của Đặng Thị Phương Thảo, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2010) “Việc làm cho TN trong quá trình
CNH, HĐH ở Việt Nam”.
- Bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Thúy Hà (2013) về “Chính sách việc
làm: thực trạng và giải pháp”. Bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng, tình
hình việc làm ở nước ta từ đó đưa ra những giải pháp cơ bản trong quá trình
thực hiện chính sách lao động , việc làm ở nước ta trong những năm tới, đáp
ứng yêu cầu cơ cấu lại và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động xã hội để phát
triển kinh tế nước ta, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh.
- Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của Đinh Nguyên Vũ
(2016) về “Quản lý nhà nước về tạo việc làm cho TN nông thôn tại tỉnh
Quảng Nam”. Luận văn này tập trung nghiên cứu những vấn đề có tính lý
luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tạo việc làm cho TN nông thôn
ở tỉnh Quảng Nam hiện nay, đặc biệt nâng cao khả năng nghiên cứu và phục
2


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quá trình thực hiện chính
sách việc làm cho TN tại tỉnh Quảng Nam từ đó đề xuất được một số giải
pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách việc làm cho TN trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận: khái niệm việc làm, chính sách việc làm,
thực hiện chính sách việc làm cho TN; nội dung các bước trong tổ chức thực
hiện chính sách việc làm cho TN; các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính
sách việc làm cho TN.
- Đánh giá làm rõ thực trạng thực hiện chính sách việc làm cho TN tại
tỉnh Quảng Nam; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, bất cập và những nguyên nhân của
các hạn chế, bất cập.
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
việc làm cho TN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách việc làm cho TN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
+ Về thời gian: từ năm 2011 đến nay
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình làm luận văn, học viên nghiên cứu dựa trên cơ sở lý
luận của Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các nội dung quan
điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác TN, trong đó có
4


1.1. Hệ thống các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm việc làm
Trước tiên muốn hiểu khái niệm cụm từ “việc làm”, chúng ta phải tìm
hiểu khái niệm của cụm từ “lao động” vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết
với nhau.
“Lao động” là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người
bởi vì lao động là một hoạt động không thể thiếu được của con người. Bản
thân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất
định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội
với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất
được gọi là chỗ làm hay việc làm.
Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản
xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao
động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ
thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện
được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm
sau: Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là
những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình,
hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận.
Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộ
luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
6


1.1.2. Khái niệm chính sách việc làm cho thanh niên
1.1.2.1. Khái niệm chính sách việc làm
* Chính sách:
Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ

pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc làm cho lực
lượng lao động đó”.
1.1.2.2. Thực hiện Chính sách việc làm cho thanh niên
* Thanh niên là gì?
Theo Luật Thanh niên Việt Nam năm 2005: “Thanh niên là công dân
Việt Nam từ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”.
* Thực hiện chính sách là gì?
Theo PGS.TS. Nguyễn Khắc Bình: “Thực hiện chính sách là toàn bộ
quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với
các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước".
Từ những khái niệm về việc làm, thanh niên, thực hiện chính sách như
đã nêu ở trên, có thể đi đến một khái niệm chung về thực hiện chính sách việc
làm cho TN như sau: Thực hiện chính sách việc làm cho TN là toàn bộ quá
trình đưa chính sách vào đời sống xã hội theo một trình tự quy định và thống
nhất nhằm giải quyết vấn đề việc làm đang diễn ra đối với TN trong một
phạm vi không gian và thời gian nhất định.
1.2. Chính sách việc làm cho thanh niên ở nước ta hiện nay
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa
X) về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác TN thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa (CNH- HĐH)", trong đó có nội dung:
Nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải
thiện đời sống cho TN, đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ
đạo kịp thời trong thời gian qua với nhiều giải pháp mang tính bền vững và có
8


định hướng như:
Có chính sách tín dụng ưu đãi cho các cơ sở dạy nghề, đặc biệt các
nghề kỹ thuật cao; ưu đãi cho TN vay vốn tạo việc làm; quan tâm đến việc đi
xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài đối với TN, trong đó chú trọng

Nghị định số 27/2016/NĐ-CP ngày 06/4/2016 của Chính phủ quy định
một số chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ, xuất ngũ
và thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ;
Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020;
Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động
góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020;
Quyết định số 121/2009/QĐ-TTg ngày 09/10/2009 của Thủ tướng
Chính phủ về cơ chế hoạt động của các cơ sở dạy nghề thuộc Bộ Quốc phòng
và chính sách hỗ trợ bộ đội xuất ngũ học nghề;
Quyết định số 2474/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 20112020.
Trên cơ sở những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, một số Bộ, cơ
quan ở Trung ương có liên quan xây dựng các đề án tuyển chọn các đối tượng
thanh niên tình nguyện tham gia các chương trình, đề án, dự án như:
Bộ Nội vụ với Dự án tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại
học tăng cường về làm Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã thuộc 64 huyện
nghèo;
Bộ Quốc phòng với Dự án tăng cường trí thức trẻ tình nguyện đến
công tác tại các khu kinh tế quốc phòng giai đoạn 2011 - 2020;
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với Dự án các Làng thanh niên lập nghiệp
tại các địa phương đã đươc phê duyệt.
10


Nhờ có những chính sách việc làm phù hợp với từng đối tượng TN mà
trong thời gian qua vấn đề đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho TN đã đạt
được những kết quả hết sức to lớn như: từ năm 2011 - 2016, hằng năm cả
nước đã giải quyết việc làm cho khoảng 1,5-1,6 triệu lao động, trong đó lao

Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách việc làm cho TN
bao gồm:
+ Kế hoạch tổ chức điều hành.
+ Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực.

+ Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện.
+ Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thời gian thực hiện.
+ Ngoài ra cần phải ban hành nội quy, quy chế về tổ chức điều
hành, khen thưởng, kỷ luật ….
1.3.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách việc làm cho thanh niên
Đổi mới hình thức, phương pháp và thực hiện tốt công tác phổ biến,
tuyên truyền chính sách việc làm cho TN nhằm giúp cho các đối tượng chính
sách và mọi người dân hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách để họ tự
giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước như: tổ chức các chiến dịch
truyền thông nhằm tạo mối quan tâm thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của
toàn xã hội đối với vấn đề việc làm cho TN, nghiên cứu xây dựng, phát triển
các chương trình, sản xuất các sản phẩm truyền thông về việc làm cho TN
thông qua các kênh thông tin đại chúng, các trang mạng xã hội, hoạt động tư
vấn hay tổ chức các hoạt động tư vấn, truyền thông trực tiếp thông qua các
cuộc thi, diễn đàn, hội nghị, hội thảo, mít tinh, tập huấn sinh hoạt chuyên đề,
sinh hoạt ngoại khóa, các câu lạc bộ tại cộng đồng, trường học về việc làm
1.3.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách việc làm cho thanh
niên
Trong việc thực hiện chính sách việc làm cho TN, cấp có thẩm quyền
12


cần phải có sự phân công công việc cụ thể cho các sở, ban, ngành, địa phương
cũng như công tác phối hợp, hỗ trợ của các đơn vị có liên qan đến việc thực
hiện chính sách. Trong quá trình phân công nhiệm vụ cần chú ý đến trình độ

thanh niên
Thông qua việc đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện chính
sách nhằm kịp thời bổ sung, hoàn thiện và chấn chỉnh công tác thực hiện
chính sách ở các cấp, giúp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ở các địa
phương, đơn vị.
Các cơ quan nhà nước ở mỗi cấp là cơ quan kiểm tra, giám sát quá trình
thực hiện chính sách việc làm cho TN ở cấp đó. Bên cạnh đó để đảm bảo tính
khách quan trong công tác kiểm tra, giám sát và tính dân chủ trong quá trình
thực hiện chính sách thì cần có sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội, đặc
biệt là chính đối tượng được thụ hưởng chính sách.
1.3.7. Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách việc
làm cho thanh niên
Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách việc làm cho
TN là khâu không thể thiếu trong quá trình thực hiện chính sách. Có thể dựa
vào các nội dung sau để đánh giá việc thực hiện chính sách việc làm cho TN
như: tính hiệu quả của chính sách; tính hiệu lực của chính sách; kết quả thực
hiện chính sách; kỹ năng tổ chức triển khai thực hiện chính sách của các cơ
quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC); khả năng huy động sự
tham gia của các chủ thể khác vào quá trình thực hiện chính sách. Mục đích
cuối cùng của việc đánh giá thực hiện chính sách việc làm cho TN là những
lợi ích mà chính sách mang lại cho xã hội, đặc biệt là các đối tượng của chính
sách, sự thay đổi về nhận thức, hành động, tình trạng việc làm ….. của các đối
tượng TN trước và sau khi chính sách có hiệu lực thi hành. Đồng thời qua
việc đánh giá các cơ quan có thẩm quyền xây dựng chinh sách sẽ rút kinh
14


nghiệm để đề ra những nội dung phù hợp đối với chính sách việc làm cho TN
trong những giai đoạn tiếp theo.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách việc làm cho

bằng những công cụ quản lý của mình, giúp cho quá trình này luôn bám sát
mục tiêu của chính sách.
1.4.3. Đối tượng chịu sự tác động của chính sách
Đối tượng của chính sách ở đây là TN. Do vậy, việc hiểu và nắm bắt
được đặc tính của TN là việc cần thiết đối với các cơ quan ban hành chính
sách. Độ tuổi TN là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và trí tuệ, đây là độ tuổi
năng động, sáng tạo nhất đối với mỗi con người. Tuy nhiên, hiện nay trong

quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trước tác động tiêu cực bởi mặt trái của
nền kinh tế thị trường, vẫn còn một bộ phận TN sống thiếu lý tưởng, nhận
thức chính trị, ý thức chấp hành pháp luật còn hạn chế, thiếu ý chí rèn
luyện, sống thực dụng, tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong TN có xu
hướng tăng. Tính chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của
TN còn yếu, chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn… Chính vì vậy, họ cần được
sự giúp đỡ, chăm lo, giáo dục của các thế hệ đi trước và toàn xã hội. Do vậy,
chủ thể ban hành chính sách không thể không quan tâm đến đặc tính, tâm lý
của TN để đề ra giải pháp thực hiện chính sách việc làm TN đạt kết quả tốt
nhất.
1.4.4. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội
Lịch sử phát triển cho thấy ở đâu có điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài
nguyên phong phú thì ở đó có điều kiện thuận lợi hơn đối với vấn đề giải
quyết việc làm và cơ cấu việc làm. Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố cơ bản
của quá trình sản xuất vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động,
là cơ sở quan trọng hàng đầu của sản xuất vật chất, tạo ra việc làm cho người
lao động. Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, nhờ đó đã góp
16


phần tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng,
làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội trong những năm qua. Tuy

làm cho TN là trình độ phát triển kinh tế của địa phương, đây là yếu tố quyết
định đến chính sách việc làm cho người lao động nói chung trong đó có lao
động TN. Nếu nền kinh tế địa phương phát triển tốt sẽ kêu gọi được nhiều dự
án, doanh nghiệp vào đầu tư, từ đó tạo ra việc phân ngành trong từng lĩnh vực
làm đa dạng về ngành nghề, đáp ứng nhu cầu lao động ở nhiều trình độ khác
nhau.
Tiến bộ khoa học - công nghệ (KH-CN): sẽ làm tăng yêu cầu việc làm
cho lao động phức tạp, có kỹ thuật và ngược lại, làm giảm việc làm đối với
lao động giản đơn. Quá trình phát triển của mỗi quốc gia ngày nay được cấu
trúc lại dựa trên những lợi thế của nguồn lực con người với hàm lượng trí tuệ
ngày một gia tăng. Nhờ có sự tiến bộ của KH- CN mà phần tỷ lệ lao động chân
tay kết tinh vào sản phẩm ngày một giảm rõ rệt, hàm lượng lao động “chất
xám” kết tinh vào sản phẩm ngày càng cao. Như vậy, sự phát triển của KHCN mang lại nhiều cơ hội tạo ra việc làm, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức.
Xu hướng chung hiện nay là tăng lao động phức tạp, có kỹ thuật cao, giảm lao
động giản đơn. Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới lĩnh
vực KH-CN phát triển như vũ bão, là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất vật chất. Do vậy, đòi hỏi người lao động phải chủ động tiếp thu,
áp dụng những thành tựu của KH-CN tiên tiến vào công việc đảm nhiệm,
thường xuyên học tập, nâng cao tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ để không bị
lạc hậu với thời cuộc.
Chính sách giải quyết việc làm của Đảng và Nhà nước: vấn đề quan
trọng hàng đầu trong việc giải quyết việc làm là Đảng và Nhà nước ta phải có
những chính sách KT-XH cụ thể, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để người lao
động có thể tự tạo việc. Các chính sách tác động đến việc làm có nhiều loại,
18


có loại tác động trực tiếp, có loại tác động gián tiếp tạo thành một hệ thống
chính sách hoàn chỉnh, đồng bộ có quan hệ tác động qua lại, bổ sung cho nhau
hướng vào phát triển cả cung lẫn cầu về lao động; đồng thời làm cho cung và

chính sách việc làm cho thanh niên
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Quảng Nam là một tỉnh ven biển, nằm ở trung độ của cả nước, trong
vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung, phía Bắc giáp thành phố Đà
Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh
Kon Tum và nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía Nam giáp tỉnh
Quảng Ngãi, Diện tích tự nhiên 10.574.74 km2, dân số 1.487.721 người, có
Cảng Kỳ Hà và sân bay Chu Lai, là cửa ngõ ra biển của khu vực Nam Lào
qua hành lang Đông - Tây, trong không gian đường hàng hải và hàng không
quốc tế.
Quảng Nam có 18 huyện, thị xã và thành phố, trong đó có 9 huyện
miền núi là Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Nông Sơn, Hiệp Đức,
Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn; 9 huyện, thị xã, thành phố đồng bằng:
Phú Ninh, Núi Thành, Đại Lộc, Thăng Bình, Quế Sơn, Duy Xuyên, thị xã
Điện Bàn, thành phố Tam Kỳ và thành phố Hội An.
Quảng Nam có địa hình phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình
thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven
biển; nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và
mùa mưa. Nhiệt độ trung bình năm 20 - 210C, không có sự cách biệt lớn giữa
các tháng trong năm, ở Quảng Nam thì mùa mưa trùng với mùa bão, nên các
cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện miền
20


núi và ngập lụt ở các huyện đồng bằng.
Tỉnh Quảng Nam có 2 di sản văn hóa thế giới (gồm khu đền tháp Mỹ
Sơn và đô thị cổ Hội An), vì vậy rất có lợi thế trong phát triển kinh tế du lịch.
Hai di sản văn hoá thế giới là phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn và nhiều địa
điểm di tích lịch sử và văn hoá cùng với nhiều loại hình văn hoá (như hát
tuồng, hát đối, hát bài chòi) và các quần thể kiến trúc khác như chứng tích

tạo, đặc biệt là đào tạo nghề đã đáp ứng yêu cầu lao động có chất lượng cho
các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
* Về cơ sở hạ tầng
Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh ngày càng được quan tâm nâng
cấp, tạo điều kiện giao thông thông suốt giữa các địa phương trong tỉnh, trong
nước và quốc tế. Hệ thống điện, nước sinh hoạt, nước phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp đáp ứng được nhu cầu sử dụng của hầu hết của người dân ở hầu
hết các địa phương trong tỉnh.
Các thiết chế văn hóa phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí của nhân dân
phát triển đa dạng, đều khắp; nhiều công trình có ý nghĩa lớn về văn hóa - xã
hội được xây dựng như: Quảng trường 24/3, Tượng đài Mẹ Việt Nam anh
hùng, Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh, Bảo tàng tỉnh... Đến nay, đã có 100% huyện,
thị, thành phố có đủ các thiết chế văn hóa; 60% số xã, phường, thị trấn có nhà
văn hóa; 80% số thôn, khối phố có nhà văn hóa. Ngoài việc tiếp tục đầu tư
nâng cấp các bệnh viện công, thời gian qua trên địa bàn tỉnh đã có nhiều bệnh
viện tư đi vào hoạt động, làm giảm tải ở các bệnh viện công như bệnh viện Đa
Khoa Minh Thiện, Thái Bình Dương, Vĩnh Đức, Thăng Hoa ... Hạ tầng các
đô thị trung tâm huyện, nhất là các huyện mới chia tách Nông Sơn, Phú Ninh,
Tây Giang, Nam Trà My đã được tập trung đầu tư xây dựng, nhờ đó tạo sự
thay đổi rõ rệt diện mạo đô thị ở các địa phương.

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status