HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐẶNG THU HƯƠNG
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC
ĐỐI
VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA
BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Hoàng Văn Hoan
HÀ NỘI, THÁNG 3 NĂM 2018
MỤC LỤC
2
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
DNNVV
KH&CN
trưởng của nền kinh tế cũng như góp phần tích cực trong việc bảo đảm an
sinh xã hội.... Ở địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, các DNNVV đang có sự
phát triển mạnh mẽ cả về số lượng cũng như lĩnh vực sản xuất, ngày càng có
nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của thành
5
phố. Tuy nhiên, trên thực tế các DNNVV còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế
trong quá trình hoạt động. Hiện nay, DNNVV tuy nhiều nhưng chưa phát huy
được hết tiềm năng, lợi thế. Các DNNVV hiện đang phát triển thiếu định
hướng, mất cân đối. Sự khó khăn trong cạnh tranh trên thị trường của
DNNVV, một phần xuất phát từ năng lực nội tại yếu kém như quy mô vốn
nhỏ bé, thiết bị công nghệ lạc hậu, một phần là do các chính sách hỗ trợ của
nhà nước đối với DNNVV còn hạn chế, bất cập.
Từ thực tiễn trên, để đảm bảo sự phát triển bền vững của khối DNNVV,
khắc phục những yếu kém, phát huy vai trò tích cực trong nền kinh tế, việc
hoàn thiện chính sách hỗ trợ đối với các DNNVV trên địa bàn thành phố Hà
Nội là hết sức cần thiết, học viên chọn đề tài “Chính sách hỗ trợ của nhà
nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội” làm luận
văn tốt nghiệp chuyên ngành quản lý kinh tế.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Một số công trình nghiên cứu trong nước đáng chú ý có thể kể ra:
- Sách chuyên khảo: “Tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa” – tác giả Phạm Quang Trung và cộng sự (2009). Cuốn
sách trình bày những lý thuyết cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp cũng như gợi ý các giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh trong
điều kiện hội nhập quốc tế.
- Sách chuyên khảo:” Chính sách kinh tế và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp” – tác giả Đinh Thị Nga (2011). Cuốn sách trình bày một số vấn
góc độ về chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với DNNVV. Tuy nhiên, hiện
nay chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quát về công tác chính sách hỗ
trợ của nhà nước đối với các DNNVV trên địa bàn Hà Nội. Do vậy, đây chính
là khoảng trống để xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
3. Mục tiêu nghiên cứu
7
Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa
bàn Hà Nội.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung thực hiện
các nhiệm vụ chính sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa, các
chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các DNNVV. Nghiên cứu kinh nghiệm
thực tiễn chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của
một số địa phương có điều kiện tương đồng Hà Nội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2012 - 2017. Từ đó
tìm ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân tồn tại những hạn chế đó.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ
của nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu chính sách hỗ trợ
của nhà nước đối với các DNNVV.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: nghiên cứu về chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các
doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó chủ thể của các chính sách là các cơ quan
9
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ
và
vừa
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Các DNNVV là một tập hợp không đồng nhất, hoạt động trên một diện
rộng từ thợ thủ công sản xuất nông cụ, các quán bán hàng tạp phẩm ở góc phố
đến các công ty phân phối hàng nhập khẩu cho thị trường trong nước hay các
doanh nghiệp quy mô trung bình sản xuất phụ tùng ô tô để bán cho các hãng
sản xuất ô tô đa quốc gia trong nước và quốc tế. Người chủ sở hữu DNNVV
có thể giàu hoặc nghèo. Thị trường hoạt động của các DNNVV cũng rất đa
dạng từ thành thị đến nông thôn, mang tính địa phương, trên toàn quốc, trong
khu vực hay toàn cầu. DNNVV có thể là các doanh nghiệp hoạt động phi
chính thức hoặc hoàn toàn chính thức.
Định nghĩa mang tính thông kê về DNNVV khác nhau theo từng nước
nhưng nhìn chung có 3 tiêu chí định lượng thường được sử dụng để định
nghĩa về DNNVV. Tiêu chí được sử dụng nhiều nhất là số lượng lao động
doanh nghiệp sử dụng. Tiêu chí thứ hai là các số liệu về tài chính của doanh
nghiệp như quy mô doanh thu, thu nhập hoặc tổng giá trị tài sản doanh
nghiệp. Tiêu chí thứ ba liên quan đến sự độc lập về sở hữu của một DNNVV.
Nhiều quốc gia cho rằng quy mô của một doanh nghiệp có thể nhỏ
nhưng nếu nó thuộc sở hữu của một tập đoàn lớn nào đó hoặc thuộc sở hữu
Đầu thập kỷ 1990
Đầu thập kỷ 1990
Đầu thập kỷ 1990
Đầu thập kỷ 1990
Đầu thập kỷ 1990
1997
2002
2003
OECD
Đầu thập kỷ 1990
1994
Đầu thập kỷ 1990
1991
1991
1994
Định nghĩa DNNVV
Nhìn chung, định nghĩa về DNNVV do mỗi quốc gia đưa ra trên cơ sở
điều kiện phát triển cụ thể của quốc gia đó bao gồm trình độ phát triển của
khu vực DNNVV và điều kiện về số liệu thống kê có thể có được đối với khu
vực doanh nghiệp này.
Ở Việt Nam, theo định nghĩa tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP [3], DNNVV
được định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định
pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (Tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (Tổng nguồn
vốn là tiêu chí ưu tiên). Có thể thấy cụ thể hơn qua bảng sau:
Bảng 1.2: Định nghĩa về DNNVV ở Việt Nam
12
Quy mô
Doanh
nghiệp
siêu nhỏ
Số lao
động
Doanh nghiệp nhỏ
Tổng
nguồn vốn
Số lao
động
tỷ đồng
200 người
200 người đến 100 tỷ
đến 300
đồng
người
III.
10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50
Thương
trở xuống trở xuống người đến
tỷ đồng
người đến
mại và
50 người
đến 50 tỷ 100 người
dịch vụ
đồng
Nguồn: Lưu Khánh Cường (2008), “Để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển
bền vững”, Tạp chí Kinh tế quản lý (8), tr.23
- Các doanh nghiệp siêu nhỏ là các doanh nghiệp có số lao động bình
quân năm không quá 10 người, không phân biệt khu vực kinh doanh hay
ngành nghề kinh doanh.
- Các doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ là những
doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng hoặc quy mô lao động từ 10
đến 50 người; trong các lĩnh vực khác thì doanh nghiệp nhỏ là những doanh
nghiệp có quy mô vốn dưới 20 tỷ đồng hoặc có quy mô lao động từ 10 đến
200 người.
- Các doanh nghiệp quy mô vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ là
những doanh nghiệp có quy mô vốn từ 10 đến 50 tỷ đồng hoặc quy mô lao
với chính phủ và giới báo chí cũng như thiếu sự ủng hộ của đông đảo công
chúng. Do không có lợi thế kinh tế theo quy mô nên các DNNVV thường bị
phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp lớn trong quá trình phát triển, đặc biệt
là phụ thuộc về thương hiệu hàng hóa, thị trường, công nghệ, tài chính…
Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động, các DNNVV dễ dàng bị các DN lớn
thâu tóm hoặc chịu sự cạnh tranh mạnh, dễ bị thua thiệt dẫn đến phá sản.
- Các DNNVV phải chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh hơn các doanh
nghiệp lớn. Do hạn chế về nguồn vốn và lao động, các DNNVV khó tiếp cận
và thực hiện các cơ hội đầu tư lớn; trong quá trình đầu tư và hoạt động sản
xuất kinh doanh, nếu gặp những điều kiện không thuận lợi sẽ không tránh
khỏi những tổn thất nhất định và thậm chí có thể phá sản nhanh chóng.
Ngoài các nội dung trên, các DNNVV ở Việt nam còn có những điểm
hạn chế sau:
- Giá thành sản phẩm của DNNVV còn cao hơn so với sản phẩm tương
tự trong khu vực và thế giới, do năng lực sản xuất còn hạn chế, chi phí sản
xuất cao,chất lượng sản phẩm còn thấp và thiếu ổn định, mẫu mã hàng hoá thường lạc hậu.
- Khả năng tiếp cận các nguồn lực đầu vào còn hạn chế. Hầu hết các
DNNVV đều gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn vay ngân
hàng do thiếu tài sản thế chấp. Các DNNVV cũng gặp khó khăn khi chuẩn bị
các hồ sơ vay vốn, kế hoạch kinh doanh, báo cáo tài chính... Ngoài ra, việc
xác định giá trị tài sản thế chấp còn nhiều hạn chế, nguyên nhân là do tài sản
thế chấp của các doanh nghiệp này thường được định giá thấp hơn nhiều so
với giá thị trường. Mặt khác là do tâm lý của các nhà đầu tư.
16
- Khả năng mở rộng thị trường đầu ra, đặc biệt là thị trường quốc tế có
nhiều hạn chế. Hàng hoá của Việt Nam đã có mặt tại thị trường trên 200 nước
và vùng lãnh thổ song khả năng chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước của
các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự vững chắc.
Đơn vị tính: %
Tên quốc gia
Indonesia
Nhật Bản
Hàn Quốc
Philippines
Singapore
Đài Loan
Năm
1980
1970
34
19
37
1990
23
52
33
24
18
46
30
52
44
27
Hàn Quốc đều có mức tăng trưởng đáng kể, đặc biệt là tỷ trọng đóng góp của
khu vực kinh tế này trong tổng sản phẩm công nghiệp của nền kinh tế.
Góp phần xây dựng một thể chế kinh tế thị trường hoàn chỉnh
Do đặc thù của hoạt động sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, các DNNVV
góp phần quan trọng trong việc phá vỡ thế độc quyền của các doanh nghiệp
nhà nước quy mô lớn, đưa thị trường trở lại với xu thế cân bằng thông qua việc
tham gia rộng rãi vào cả hai lực lượng “cung” và “cầu” của thị trường. Bên
cạnh đó, với đặc tính sáng tạo và khả năng phát hiện các thị trường ngách, hoạt
động của các DNNVV cũng làm cho cấu trúc phân bổ các nguồn lực kinh tế
của đất nước được vận hành tốt hơn theo cơ chế thị trường và do vậy, hiệu quả
hơn. Với một lượng lớn doanh nghiệp thành lập mới, bắt đầu những hoạt động
kinh doanh mới và cũng ngần đó doanh nghiệp chấm dứt các hoạt động kinh
doanh không hiệu quả, khu vực DNNVV luôn duy trì được một động lực năng
động cho nền kinh tế, đồng thời cho phép loại bỏ dễ dàng các doanh nghiệp
không còn hiệu quả, góp phần duy trì cân bằng các lực lượng cung và cầu
hàng hoá, dịch vụ trên thị trường một cách liên tục, bền vững.
19
1.1.2. Tính tất yếu của sự phát triển DNNVV ở Việt Nam
Sự phát triển của các DNNVV ở Việt Nam là tất yếu bởi:
Thứ nhất, các lý thuyết kinh tế học đã chỉ ra sự tồn tại khách quan của
khu vực DNNVV trong mỗi nền kinh tế. Lý thuyết về tính phi kinh tế của quy
mô (Coase 1937, Williamson 1975) đã chứng minh rằng khi sản lượng tăng
lên một mức nào đó thì chi phí trung bình cho một đơn vị sản phẩm sẽ tăng lên.
Nguyên nhân là do hiệu quả của quản lý, công nghệ, mạng lưới phân
phối,...thường giảm đi khi quy mô tăng lên, quá trình ra các quyết định quản lý
trong tổ chức lớn thường bị chậm chễ và không sâu sát do bộ máy cồng kềnh,
thông tin nội bộ hạn chế. Người quản lý trong các nhà máy lớn hiếm khi hiểu
quy mô lớn; trong khi đó các nước khác lại có lợi thế so sánh trong việc sản
xuất một sản phẩm khác một cách hiệu quả nhất ở mức quy mô nhỏ.
Có thể nói rằng, số lượng của mỗi loại doanh nghiệp: Nhỏ-Vừa-Lớn ở
mỗi quốc gia sẽ phụ thuộc vào sự phân công lao động, chuyên môn hoá của
nền kinh tế nước đó theo hướng công nghiệp nặng hay công nghiệp nhẹ. Nhìn
chung, sự tồn tại của các DNNVV bên cạnh các doanh nghiệp lớn là tuyệt đối
cần thiết, nó đảm bảo cho sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực của đất nước
cũng như sự vận hành của nền kinh tế.
Thứ hai, nền kinh tế một quốc gia là tổng hợp các doanh nghiệp lớn, bé
tạo thành. Phần đông các doanh nghiệp lớn trưởng thành, phát triển từ các
DNNVV. Quy luật đi từ nhỏ đến lớn là con đường tất yếu của sự phát triển bền
vững mang tính phổ biến của đại đa số các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường . Đồng thời, sự tồn tại đan xen và kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp
21
làm cho nền kinh tế của mỗi nước khắc phục được tính đơn điệu, xơ cứng, tạo
nên sự đa dạng, phong phú, linh hoạt, vừa đáp ứng những nhu cầu phát triển đi
lên lẫn những biến đổi nhanh chóng của thi trường trong điều kiện của cuộc
cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại, đảm bảo tính hiệu quả chung của nền
kinh tế.
Thứ ba, đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam. Với những đặc điểm của một nền kinh tế chuyển đổi như xuất phát
điểm thấp, tính cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều hạn chế, trình độ và năng
lực của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường còn nhiều bất cập,
nếu loại trừ sự tác động chủ quan của nhà nước trong việc thành lập các tổng
công ty, các tập đoàn kinh tế nhà nước, hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh có quy mô lớn hiện nay như: Cà phê Trung Nguyên, tập đoàn FLC,
Trường Hải group, FPT, Vingroup,…đều đi lên từ các DNNVV. Với những
đặc điểm riêng có của loại hình DNNVV, cùng với những minh chứng rõ ràng
và giải pháp mà các quốc gia sử dụng nhằm hỗ trợ cho sự phát triển các
DNNVV hướng tới mục tiêu chung là đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của quốc
gia đó.
Mục đích của chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các DNNVV là
nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, qua đó nâng cao vị thế cạnh tranh
của quốc gia.
23
1.2.2. Các yếu tố cơ bản của chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa
Các yếu tố cơ bản của một chính sách nói chung và chính sách hỗ trợ của
nhà nước đối với DNNVV thường bao gồm: các yếu tố đầu vào, các hành
động, đầu ra, kết quả và tác động của chính sách:
- Đầu vào (Inputs): đây là các nguồn lực của chính sách; trong chính
sách nhà nước hỗ trợ DNNVV gồm: nhân lực, tài lực, vật lực và thông tin liên
quan tới hoạt động của các doanh nghiệp.
- Hoạt động (Activities): là những hành động thực hiện chính sách; đối
với chính sách nhà nước hỗ trợ DNNVV đó là (i) xây dựng thể chế như ban
hành các văn bản pháp luật, tổ chức bộ máy QLNN đối với DNNVV, (ii) xác
định đối tượng doanh nghiệp thụ hưởng và các mức ưu đãi đối với DNNVV
như ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ trực tiếp và (iii) xác định phương thức
đào tạo, thông tin, tuyên truyền nhằm thúc đẩy sự phát triển của DNNVV.
- Đầu ra (Outputs): là các sản phẩm/dịch vụ được tạo ra bởi chính sách;
đối với chính sách nhà nước hỗ trợ DNNVV đó là các văn bản quy phạm pháp
luật, những ưu đãi (về thuế, tín dụng, hỗ trợ trực tiếp, v.v.), thông tin, những
hỗ trợ khác nhằm thúc đầy sự phát triển của DNNVV.
- Kết quả (Outcomes): là những ảnh hưởng/thành tựu của hành động và
Thực tế của nhiều nước cho thấy, sự hỗ trợ không chỉ có lợi đối với các doanh
nghiệp mà còn có lợi cho cả Nhà nước và xã hội. Lợi ích đó thể hiện trên các mặt:
Nuôi dưỡng các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước: Các DNNVV thường
chiếm một tỉ lệ rất lớn trong nền kinh tế của các nước. Do vậy, đóng góp cho ngân
25
sách Nhà nước của các DNNVV không phải là nhỏ. Đặc biệt khi Nhà nước có
những chính sách hỗ trợ để các DNNVV phát triển cả về số lượng và quy mô thì
lượng tiền mà các DNNVV đóng góp cho ngân sách Nhà nước càng không phải là
nhỏ.
Là một cách đầu tư gián tiếp của Nhà nước: Thay vì phải đầu tư trực tiếp để thành
lập các doanh nghiệp Nhà nước (như mô hình kinh tế hiện vật trước đây ở Việt Nam)
Nhà nước có thể đầu tư gián tiếp thông qua việc hỗ trợ cho các DNNVV với số lượng
lớn trong nền kinh tế.
Tăng hiệu quả của việc đầu tư sản xuất: Thông qua các chính sách phát triển
DNNVV Nhà nước vừa huy động được mọi tiềm năng sáng tạo và tiềm lực trong dân,
vừa thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước.
Góp phần giải quyết những vấn đề xã hội: Khi các chính sách hỗ trợ DNNVV có
hiệu quả thì các vấn đề như thất nghiệp sẽ giảm. Bởi lẽ, khi các DNNVV phát triển sẽ tạo
nhiều việc làm. Điều này rất hiệu quả với nguồn vốn hạn hẹp của Nhà nước( thay vì
thành lập các doanh nghiệp mới Nhà nước, thì với số vốn đó có thể hỗ trợ cho rất nhiều
doanh nghiệp đã sẵn có).
Định hướng phát triển các DNNVV: Thông qua các chính sách, Nhà nước có thể
điều tiết khá dễ dàng sự phát triển của các DNNVV. Đối với những ngành cần phát triển
đầu tư, Nhà nước tạo nhiều ưu đãi và thuận lợi cho các DNNVV. Ngược lại, những
ngành, vùng cần thu hẹp thì Nhà nước cũng có thể hạn chế sự tham gia của các DNNVV.
Như vậy, các chính sách phát triển DNNVV là rất cần thiết.
1.2.4. Phân loại các chính sách hỗ trợ nhà nước đối với doanh nghiệp