B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T TP.HCM
j
NG HOÀI NHÂN H TR CA NHÀ NC PHÁT TRIN
DOANH NGHIP NH VÀ VA TRÊN A
BÀN TNH BÌNH THUN
Chuyên ngành: Kinh t Tài chính - Ngân hàng
Mã s:60.31.12
LUN VN THC S KINH T
NGI HNG DN: TS. UNG TH MINH L
THÀNH PH H CHÍ MINH – 2009 MC LC
i
1.4.3. Thái Lan 21
1.4.4. Bài hc kinh ngim cho Vit Nam 24
Kt lun chng 1 25
Chng 2: THC TRNG H TR CA NHÀ NC PHÁT TRIN
DOANH NGHIP NH VÀ VA TRÊN A BÀN TNH BÌNH THUN 26
2.1. Khái quát thc trng doanh nghip nh và va trên đa bàn tnh Bình
Thun 26
2.1.1. c đim chung ca các DNNVV tnh Bình Thun 26
2.1.2. S đóng góp ca các doanh nghip nh và va đi vi kinh t tnh Bình
Thun 29
2.1.2.1. DNVVN góp phn thuc đy tng trng kinh t va đy nhanh tin trình công
nghip hoa, hin đi hoa tnh nhà 29
2.1.2.2. DNNVV góp phn gii quyt vic làm, to thu nhp và rèn luyn k nng cho
ngi lao đng 29
2.1.2.3.Góp phn chuyn dch c cu kinh t 34
2.1.2.4. Tng thu hut vn đu t 35
2.1.2.5. ong gop vao ngan sach nha nc ca DNNVV 37
2.1.3. Nhng mt hn ch ca DNNVV tnh Bình Thun 38
2.2. Ch trng ca tnh Bình Thun v h tr cho các doanh nghip
nh và va đ phát trin 41
2.3. Các hình thc h tr ca nhà nc đ phát trin doanh nghip nh và va
trên đa bàn tnh Bình Thun 42
2.3.1. H tr tip cn ngun vn 43
2.3.2. H tr v mt bng sn xut và x l. ô nhim môi trng 44
2.3.3. H tr xúc tin thng mi và xut khu 45
2.3.4. H tr đào to, bi dng phát trin ngun nhân lc 46
2.3.5. H tr thông tin 48
2.3.6. H tr k thut 48
2.3.6.1. H tr nghiên cu, ng dng khoa hc, k thut 48
3.2.3. H tr đu t v mt bng, kt cu h tng 71
3.2.4. Nâng cao hiu qu hot đng ca các th ch tín dng 75
3.2.5. H tr khuyn khích xut khu 76
3.2.6. H tr phát trin công ngh 78
Kt lun chng 3 80
KT LUN 81
Ph lc 1: S DOANH NGHIP PHÂN THEO QUI MÔ LAO NG 83
Ph lc 2: S DOANH NGHIP PHÂN THEO QUI MÔ NGUN VN 84
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước ta đã thể
hiện quan điểm nhất quán là Nhà nước luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa phát huy
tính năng động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực lãnh đạo
và quản lý doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh… để góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người lao
động.
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển, các doanh nghiệp nói chung
nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp rất nhiều khó khăn trở ngại,
những khó khăn trở ngại đó xuất phát từ chỗ quy mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu,
trình độ quản lý thấp, tiếp cận thông tin đa số còn hạn chế, vốn cho sản xuất kinh
doanh thiếu nghiêm trọng… Để giải quyết những vấn đề này, bản thân các doanh
nghiệp nhỏ và vừa không thể tự thực hiện được mà cần phải có sự hỗ trợ từ phía
nhà nước.
Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhằm đảm bảo và nâng cao
khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế. Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa là khu
vực cạnh tranh tự do hơn cả, các doanh nghiệp có quy mô và tiềm lực hạn chế
- Luận văn góp phần hệ thống hóa, làm rõ một số vấn đề về chung về
doanh nghiệp cũng như tiêu thức xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Làm rõ hơn
vai trò của loại hình doanh nghiệp này trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa
phương và sự hỗ trợ của nhà nước để phát triển DNNVV.
- Nghiên cứu kinh nghiệm hỗ trợ của nhà nước để phát triển DNNVV ở
một số nước trên thế giới làm bài học kinh nghiệm cho Việt nam nói chung và
tỉnh Bình Thuận nói riêng.
- Đánh giá đúng đắn thực trạng hỗ trợ của nhà nước để phát triển DNNVV
trên địa bàn tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua từ đó rút ra những thành tựu và
tồn tại cần hoàn thiện.
- Luận văn đã đề xuất một số giải pháp về sự hỗ trợ của Nhà nước để phát
triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Thuận trong thời gian
tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển chung nhất của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa thuộc các loại hình doanh nghiệp Nhà nước, các doanh
nghiệp hoạt động theo luật Doanh nghiệp, luật Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Bình
Thuận dưới góc độ quản lý Nhà nước và sự hỗ trợ cùa Nhà nước để các doanh
nghiệp trong khu vực này phát triển xứng với tiềm năng của nó nhằm góp phần
vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
4
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, ngoài các
phương pháp truyền thống, luận văn còn cơi trọng sử dụng các phương pháp
khác như kết hợp nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực tiễn, giữa phân tích, so
sánh và tổng hợp, tham khảo ý kiến các chuyên gia trong đánh giá, phân tích các
nội dung liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, mô hình bảng biểu, đồ thị hóa
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận văn được kết cấu gồm có 3 chương như sau:
nên các tiêu chí này ở một số nước cũng không cố định. Thậm chí, trong cùng
một quốc gia, nhiều khi các tiêu chí để xác định doanh nghiệp đủ điều kiện nhận
hỗ trợ của một tổ chức nào đó không phải bao giờ cũng trùng hợp với tiêu chí
quy định chung của Nhà nước.
1.1.1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số nước
trên thế giới
6
Cho đến nay việc phân loại các doanh nghiệp chưa có tiêu chí chung cho
mọi quốc gia. Nhìn chung tiêu chí xác định DNNVV của mỗi quốc gia là không
giống nhau, phụ thuộc vào mục tiêu của việc phân loại và các yếu tố tác động
đến việc phân loại. Có nhiều yếu tố tác động đến việc phân loại DNNVV, tuy
nhiên một số yếu tố sau đây là những nhân tố chính tác động mạnh đến việc phân
loại DNNVV. Đó là:
- Trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia. Tùy theo trình độ phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia mà các tiêu chí được xác định khác nhau. Thông
thường, nếu trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia càng cao thì trị số các
tiêu chí càng tăng lên. Cơ sở của vấn đề này là do qui mô trung bình của các
doanh nghiệp ở những quốc gia này thường cũng tăng lên.
- Tính chất ngành nghề. Do đặc điểm của mỗi ngành khác nhau nên qui
mô sử dụng lao động trong mỗi ngành cũng khác nhau, có ngành sử dụng nhiều
lao động như dệt, may, giầy; có ngành sử dụng nhiều vốn, ít lao động như hoá
chất, điện
- Vùng lãnh thổ. Trong cùng một quốc gia, tuỳ theo điều kiện tự nhiên
kinh tế, xã hội của từng vùng mà trình độ phát triển kinh tế của các vùng khác
nhau, do đó số lượng và quy mô doanh nghiệp trên các vùng cũng khác nhau.
- Tính chất lịch sử. Trong mỗi giai đoạn khác nhau thì trình độ phát triển
cũng khác nhau, vì vậy ở mỗi giai đoạn thì tiêu chí phân loại có thể thay đổi tuỳ
thuộc điều kiện phát triển kinh tế của giai đoạn đó.
Tiêu chí xác định DNNVV của một số nước:
- Đài Loan
nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có lao động từ 6 đến 20 người được coi là doanh
nghiệp vừa.
- Nhật Bản
DNNVV được phân loại theo các khu vực
+ Khu vực sản xuất: doanh nghiệp có dưới 300 lao động và vốn đầu tư là 1
triệu USD.
+ Khu vực thương mại và dịch vụ: doanh nghiệp có dưới 100 lao động
(đối với doanh nghiệp bán buôn) hay 50 lao động (đối với doanh nghiệp bán lẻ
và dịch vụ), vốn đầu tư dưới 300.000 USD (đối với doanh nghiệp bán buôn) hay
100.000 USD (đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ).
- Liên minh châu Âu (EU)
DNNVV là doanh nghiệp có dưới 250 lao động, doanh thu không vượt
quá 40.000 EUR tương đương với 58000USD (1EUR=1,45USD) hoặc tổng số
vốn hàng năm không quá 27 triệu EUR (40 triệu USD), có cổ phần không vượt
quá 25% ở một xí nghiệp lớn.
1.1.2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam
Trước đây tiêu chí xác định DNNVV theo quy định tại công văn số
681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Chính phủ về định hướng chiến lược và chính
9
sách phát triển các DNNVV qui định: “Tạm thời qui định thống nhất tiêu chí xác
định DNNVV ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có
vốn điều lệ dưới 5 tỉ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200
người”.
Hiện nay tiêu chí xác định DNNVV được quy định tại Nghị định
90/2001/NĐ-CP của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa về DNNVV ở Việt Nam,
trong đó đưa ra hai tiêu chí:
DNNVV là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng xấp xỉ
600.000USD (theo tỷ giá liên ngân hàng 1USD khoảng 17000VND) hoặc số lao
động trung bình hàng năm không quá 300 người.
tăng nhanh chóng cả về số lượng và qui mô vốn đầu tư. Chính sự phát triển
mạnh mẽ của các DNNVV đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nhân
dân từ đó góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống nhân dân, giảm tỷ lệ
thất nghiệp trong xã hội.
DNNVV góp phần giải phóng sức sản xuất, thu hút mọi nguồn lực vào
giải quyết việc làm, tăng thu nhập, là nhân tố quan trọng trong tăng trưởng và
phát triển kinh tế đất nước. Khu vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện
thu hút khoảng 30% lực lượng lao động phi nông nghiệp cả nước nhưng triển
11
vọng thu hút thêm lao động rất lớn vì suất đầu tư cho một chỗ làm việc tại đây
thấp hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp lớn, chủ yếu là do chi phí hoạt động
thấp. Đây cũng là nơi thuận tiện nhất để tiếp nhận số lao động ở nông thôn ra
thành phố đang tăng lên mỗi năm và số lao động dôi ra từ các DNNN qua việc
cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê…
1.2.3. Doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Ở các nước có nền kinh tế đang phát triển cũng như ở Việt Nam, các
doanh nghiệp lớn thường tập trung ở các thành phố và các trung tâm công
nghiệp, gây mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội giữa thành thị với nông thôn, giữa các vùng trong một quốc gia. Chính sự
phát triển DNNVV là phương tiện quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối giữa
các vùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các thành phần kinh tế, giữa
các ngành và các vùng lãnh thổ.
1.2.4. Doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu
và tham gia đóng góp vào ngân sách nhà nước
Sự phát triển của các DNNVV đã góp phần nâng cao sản lượng hàng hóa,
đa dạng hóa kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm trên thị trường, kích thích tiêu dung,
do đó thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm từ đó nâng cao thu nhập cho doanh
nghiệp, góp phần đóng góp vào ngân sách nhà nước và địa phương.
Trong điều kiện kinh tế mở, sự phát triển của các DNNVV là con đường
có hiệu quả làm tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần cân đối kim ngạch xuất –
Cũng do quy mô nhỏ nên các chủ doanh nghiệp thường là những nhà vừa quản
lý, vừa tham gia các hoạt động chuyên môn vì vậy mức độ chuyên môn hóa thấp,
điều này ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động và hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh.
1.3.1.3. Về kỹ thuật và năng suất lao động
Nhìn chung các DNNVV do hạn chế bởi tiềm lực vốn, nguồn nhân lực còn
nhiều hạn chế, trình độ tổ chức quản lý còn nhiều hạn chế nên công nghệ sản
xuất còn lạc hậu, qui mô sản xuất nhỏ bé nên năng suất lao động thấp. Do năng
suất lao động thấp nên giá thành sản phẩm cao, sức cạnh tranh của sản phẩm và
của doanh nghiệp yếu, nên hiệu quả kinh doanh thấp.
1.3.2. Các hình thức hỗ trợ của nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa
1.3.2.1. Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn
Nhà nước tạo khung pháp lý và ban hành quy chế hoạt động của các quỹ
hỗ trợ DNNVV. Đây là công cụ chính sách quan trọng và cần thiết để thúc đẩy
sự phát triển của DNNVV. Các quỹ này được hình thành từ nguồn hỗ trợ của
Nhà nước, nguồn tín dụng của các ngân hàng, các nguồn tài trợ khác, kể cả của
nước ngoài. Ngoài việc cung cấp các khoản tín dụng chung với thời gian vay trả
dài hơn phù hợp với chu trình sản xuất có hiệu quả, các quỹ đó còn cấp các
14
khoản tín dụng đặc biệt, như tín dụng mua sắm máy móc, nghiên cứu chế tạo sản
phẩm mới, áp dụng công nghệ mới tin học công tác quản lý,…
Ngoài ra nhà nước cần phải thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV.
Quỹ này sẽ bảo lãnh cho các khoản vay của các DNNVV tại các ngân hàng và
các tổ chức tín dụng. Nguồn tài trợ cho hoạt động của Quỹ là từ Ngân sách nhà
nước và tài trợ quốc tế. Quỹ bảo lãnh không chỉ phục vụ lợi ích của các
DNNVV, mà còn tạo điều kiện các ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoạt động tốt
hơn trong lĩnh vực cung cấp tài chính vì họ được chia sẽ rủi ro.
1.3.2.2. Hỗ trợ về mặt bằng sản xuất
Các DNNVV gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận đất làm mặt bằng
Nhằm cũng cố và thúc đẩy các DNNVV phát triển có hiệu quả, lâu dài bền
vững, thông qua nghiên cứu thực trạng và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, thực tiễn đang đòi hỏi cần một hệ thống tổ chức hỗ
trợ xúc tiến phát triển các DNNVV. Hệ thống này bao gồm 1 cơ quan đầu mối và
mạng lưới các tổ chức hỗ trợ có liên quan. Cơ quan đầu mối không làm thay thế
việc của các hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước hiện hành, chức năng của
nó là tham mưu giúp Chính phủ tạo môi trường thuận lợi cho phát triển
DNNVV, điều phối cấp hoạt động giúp các DNNVV từ việc đào tạo, tiếp thị,
16
làm cầu nối giữa DNNVV với cơ quan quản lý của Nhà nước các ngành, các
hiệp hội với các nhà khoa học,…nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và chuyển
giao công nghệ mới có hiệu quả.
1.4. Kinh nghiệm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước trên
thế giới
Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số
nước trên thế giới cho thấy sự hỗ trợ của nhà nước đối với các DNNVV thường
rất được coi trọng, luận văn đã chọn lọc nghiên cứu một số nước trong khu vực
có những điểm tương đồng nhất định về văn hóa truyền thống và đặc điểm kinh
tế - xã hội với Việt Nam làm bài học kinh nghiệm để phát triển các DNNVV ở
Việt Nam nói chung và Tỉnh Bình Thuận nói riêng, cụ thể như sau:
1.4.1. Nhật Bản
Sự hỗ trợ DNNVV của Nhật Bản tập trung vào các mục tiêu chủ yếu sau:
thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của các DNNVV; tăng cường lợi ích kinh
tế và xã hội của các doanh nhân và người lao động tại các DNNVV; khắc phục
những bất lợi mà các DNNVV gặp phải; hỗ trợ tính tự lực của các DNNVV. Bao
gồm:
- Hỗ trợ về pháp lý: việc cải cách môi trường pháp lý được coi là ưu tiên
hàng đầu của Nhật Bản. Luật Cơ bản về DNNVV được ban hành năm 1999 trợ
giúp cho việc cải cách cơ cấu để tăng tính thích nghi của DNNVV với những
thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội, tạo thuận lợi cho việc tái cấu trúc công
- Trợ giúp về quản lý: hoạt động tư vấn quản lý kinh doanh thực hiện
thông qua hệ thống đánh giá DNNVV. Mỗi quận, huyện và chính quyền của 12
thành phố lớn đánh giá các điều kiện quản lý của DNNVV, đưa ra những khuyến
nghị cụ thể và cung cấp các hướng dẫn.
- Xúc tiến xuất khẩu: Chính phủ Nhật Bản cung cấp những hướng dẫn và
dịch vụ thông tin cho DNNVV nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh
ở nước ngoài. Chương trình môi giới và tư vấn kinh doanh tạo cơ hội cho các
DNNVV của Nhật Bản cũng như của nước ngoài có thể đăng ký vào các cơ sở
dữ liệu trên mạng internet và quảng cáo các liên kết kinh doanh hoặc liên minh
chiến lược mà các doanh nghiệp đang tìm kiếm.
1.4.2. Đài Loan
Đài Loan đã ban hành và thực hiện một hệ thống chính sách DNNVV
tương đối toàn diện và có hiệu quả. Hiện nay, điểm được nhấn mạnh trong chính
sách hỗ trợ các DNNVV của Đài Loan là hoàn thiện khung pháp lý và tạo dựng
môi trường cạnh tranh thuận lợi cho các DNNVV. Sau đây là một số chính sách
chủ yếu được Chính phủ Đài Loan hỗ trợ các DNNVV:
- Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý trợ giúp cho sự phát triển của các
DNNVV: trong các năm gần đây, Đài Loan đang xúc tiến sửa đổi một số luật
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV. Trong đó, phải kể đến việc năm
1997 bổ sung một điều khoản về DNNVV vào Hiến pháp Đài Loan, sửa đổi luật
Lao động vào năm 1998 nhằm mở rộng việc thuê mướn lao động nước ngoài,
sửa đổi Luật Quy chế phát triển DNNVV vào năm 1999, sửa đối Luật Đất đai
19
cho phép DNNVV tiếp cận dễ hơn đến đất đai, sửa đổi các văn bản pháp lý về
bảo vệ môi trường vv…
Như vậy Đài Loan coi trọng việc rà soát và sửa đổi các luật lệ để tạo điều
kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV là một
biện pháp thường xuyên và có tầm quan trọng hàng đầu trong việc trợ giúp các
DNNVV.
- Các biện pháp hỗ trợ tài chính: các thể chế quan trọng có chức năng hỗ
Ngoài ra còn có các Trung tâm dịch vụ DNNVV ở các địa phương, Trung
tâm giải pháp nhanh, Trung tâm đào tạo DNNVV vv…
- Hệ thống doanh nghiệp trung tâm - vệ tinh (CSPS): hệ thống doanh
nghiệp trung tâm - vệ tinh là một trong những chính sách trợ giúp DNNVV quan
trọng của Đài Loan nhằm giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm bằng
cách phát triển những quan hệ hữu cơ giữa các công ty lớn và các công ty nhỏ.
Chính sách này bắt đầu khởi xướng từ năm 1984, với một cơ quan chuyên trách
của Chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện.
Tóm lại: Với sự hỗ trợ từ Chính phủ, các DNNVV của Đài Loan đã hoàn
thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình trong việc đưa nền kinh tế thuần nông
sang một nền kinh tế công nghiệp - dịch vụ hiện đại và mở cửa. Với tính chất
21
linh hoạt và sáng tạo, cùng với hệ thống chính sách trợ giúp thích hợp của Chính
phủ, các DNNVV Đài Loan đang từng bước tiếp cận và thích nghi với một nền
kinh tế sử dụng nhiều vốn và tri thức.
1.4.3. Thái Lan
Ngay từ đầu những năm 1960, Thái Lan đã có một số chính sách dành cho
các DNNVV. Văn phòng tài chính doanh nghiệp nhỏ đã được thành lập năm
1963, sau đó chuyển thành Tập đoàn tài chính doanh nghiệp nhỏ. Tuy nhiên, các
chính sách hỗ trợ DNNVV của Thái Lan không được duy trì một cách thường
xuyên và có hệ thống. Từ đầu những năm 1970 đến giữa thập kỷ 1990, Thái Lan
không có chính sách hỗ trợ đối với các DNNVV mà chỉ hỗ trợ gián tiếp bằng
những văn bản pháp lý khác nhau.
Trong bối cảnh các chính sách cải cách kinh tế toàn diện sau cuộc khủng
hoảng tài chính năm 1997, Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách và
biện pháp nhằm phát triển các DNNVV được coi là ưu tiên chính sách hàng đầu
trong chiến lược khôi phục kinh tế của Thái Lan sau khủng hoảng.
Trọng tâm của các chính sách hỗ trợ DNNVV của Thái Lan là phát triển
mạng lưới trợ giúp công nghiệp phục vụ xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.
Sau đây là một số nội dung chính: