Luận văn Thạc sỹ Luật học
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Trong những năm qua, cùng với chủ trương đổi mới nền kinh tế, pháp
luật về đầu tư ngày càng được hoàn thiện` đã thu hút sự quan tâm của các nhà
đầu tư trong và ngoài nước nên số lượng các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
ngày càng tăng dẫn đến số lượng lao động tham gia các hoạt động kinh tế có
mối quan hệ chủ- thợ ngày phong phú, đa dạng. Theo số liệu của cơ quan có
thẩm quyền, hiện nay nước ta có khoảng 20 vạn doanh nghiệp thuộc các loại
hình kinh tế với trên 10 triệu lao động trong các doanh nghiệp đó.
Cùng với sự gia tăng về số lượng các mối quan hệ lao động theo hình
thức làm công ăn lương giữa người lao động và người sử dụng lao động là sự
gia tăng về mức độ phức tạp của quan hệ lao động. Bộ luật Lao động được
ban hành và có hiệu lực từ 01/01/1995, được sửa đổi bổ sung năm 2002 về cơ
bản đã góp phần tạo sự ổn định và quan hệ lao động tại các doanh nghiệp, góp
phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, có một thực tế là tại
hầu hết các doanh nghiệp đều tồn tại những mâu thuẫn về quyền lợi giữa
người sử dụng lao động và người lao động mà trong quá trình thực hiện quan
hệ lao động, do không có tác nhân điều hoà dẫn đến xung đột lao động, tranh
chấp lao động, đình công.
Việc giải quyết tranh chấp lao động ở nước ta theo cơ chế mới mà Bộ
luật Lao động, Bộ luật tố tụng dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp
lao động và các văn bản khác có liên quan quy định đã phần nào giải quyết
được các tranh chấp. Tuy nhiên, hiệu quả của nó so với yêu cầu của việc duy
trì sự ổn định quan hệ lao động nói chung, trong từng doanh nghiệp nói riêng
của cả nền kinh tế là chưa cao. Việc giải quyết tranh chấp lao động còn gặp
rất nhiều khó khăn, nhất là sự hình thành và tham gia của các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền, trong đó có tổ chức công đoàn. Cho đến nay, hầu hết các vụ
Nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của tổ chức công đoàn trong
giải quyết tranh chấp lao động, tôi quyết định nghiên cứu vấn đề: "Giải quyết
tranh chấp lao động và vấn đề nâng cao vị trí của tổ chức Công đoàn trong giải
quyết tranh chấp lao động" và chọn làm đề tài của luận văn thạc sỹ luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về cơ chế giải
quyết tranh chấp lao động nhưng chưa tập trung vào vị trí của tổ chức công
đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động. Một số bài viết hoặc luận văn
nghiên cứu về tổ chức công đoàn như: Địa vị pháp lý của tổ chức công đoàn,
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
2
Luận văn Thạc sỹ Luật học
công đoàn với chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
động trong nền kinh tế thị trường… nhưng chủ yếu chỉ tập trung nghiên cứu
cơ chế giải quyết tranh chấp lao động; địa vị pháp lý của tổ chức công đoàn
dưới góc độ tổng quát mà chưa tập trung chủ yếu vào vị trí của tổ chức công
đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động. Do vậy, luận văn của tác giả có thể
nói là công trình xem xét một cách tập trung, có vấn đề nâng cao vị trí của tổ
chức công đoàn trong giải quyết vấn đề tranh chấp lao động.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Mục đích của luận văn nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận những vấn đề
cơ bản thuộc về giải quyết tranh chấp lao động và vị trí của tổ chức công đoàn
trong giải quyết tranh chấp lao động dưới góc độ quy định của pháp luật. Trên
cơ sở xem xét quy định pháp luật về vị trí của tổ chức công đoàn trong giải
quyết tranh chấp lao động và thực tiễn thực hiện, đề xuất các giải pháp nhằm
trong giải quyết tranh chấp lao động.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Giải quyết tranh chấp lao động và vấn đề nâng cao vị trí của tổ chức
công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động là một vấn đề mới mẻ. Bởi vì
vấn đề tranh chấp lao động, đình công thực tế chỉ mới xảy ra trong những
năm gần đây do quá trình chuyển đổi nền kinh tế, mặt khác vị trí của tổ chức
công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động củng chỉ mới được thừa nhận
và quy định cụ thể trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, lần đầu tiên trong
khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, chúng tôi không thể giải quyết một cách
trọn vẹn tất cả các vấn đề có liên quan tới việc giải quyết tranh chấp lao động.
Đề tài chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về giải
quyết tranh chấp lao động và quy định pháp luật về vị trí của tổ chức công
đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động, đưa ra các giải pháp nhằm tháo gỡ
bước đầu những bất cập của pháp luật hiện hành liên quan đến vị trí của tổ
chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động và các giải pháp tổ chức
thực hiện nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề này trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, so sánh,
điều tra xã hội học… cũng được sử dụng ở mức độ phù hợp để hoàn thành
mục tiêu của đề tài.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
4
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
5
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Luận văn Thạc sỹ Luật học
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN
VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
1.1. Những vấn đề chung về tổ chức Công đoàn:
1.1.1.Tính chất, vị trí của tổ chức Công đoàn
Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đã dẫn đến sự ra
đời của các tổ chức Công đoàn đầu tiên trên thế giới. Các tổ chức đó ban đầu
có ít thành viên, hình thức hoạt động còn hạn chế, chủ yếu là tổ chức các cuộc
bãi công nhằm mục đích đấu tranh bảo vệ một số quyền lợi thiết thực hàng
ngày của giai cấp công nhân. Qua một quá trình phát triển tương đối dài, đến
nay tổ chức Công đoàn thực sự trở thành một tổ chức rộng lớn về mọi mặt, có
cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, số lượng thành viên tương đối lớn. Nhiều nước
đã thừa nhận và khẳng định vai trò, vị trí cũng như nhiều quyền năng của tổ
chức Công đoàn. Qua đó, chức năng của tổ chức Công đoàn vì thế cũng thay
đổi, nó không chỉ bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động
hiện ngay trong vị trí, vai trò của nó. Công đoàn được thừa nhận là thành viên
của hệ thống chính trị và chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Vai trò của
Công đoàn đối với Đảng là nối liền Đảng với giai cấp công nhân, người lao
động. Còn trong mối quan hệ với nhà nước, Công đoàn là “ chỗ dựa”, là
người cộng tác đắc lực của nhà nước, cùng tham gia quản lý nhà nước, quản
lý kinh tế xã hội. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, Công đoàn với chức năng
chủ yếu là điều hoà lợi ích giữa chủ - thợ để cùng đi đến sự thống nhất nhằm
bảo vệ hài hoà quyền và lợi ích của cả hai phía.
Sự ra đời của Công đoàn Việt nam không nằm ngoài quy luật chung
của sự ra đời các tổ chức Công đoàn trên thế giới. Giai cấp công nhân Việt
nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và trưởng
thành nhanh chóng trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1918-1930).
Chế độ bóc lột phong kiến hà khắc kết hợp với chế độ bóc lột tàn bạo của Tư
bản thực dân đã làm cho công nhân và người lao động Việt Nam bị đẩy vào
đường cùng buộc họ phải đứng lên đấu tranh. Do yêu cầu này và ảnh hưởng
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
7
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Luận văn Thạc sỹ Luật học
của phong trào công nhân quốc tế, đặc biệt phong trào công nhân Pháp và
Luận văn Thạc sỹ Luật học
chống Mỹ cứu nước. Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Công đoàn cùng nhà
nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa.
Trong điều kiện hoàn cảnh mới, đất nước độc lập hoàn toàn thống nhất
và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Công đoàn rất khó khăn trong việc xác
định vị thế của mình. Tuy vậy, Công đoàn vẫn thể hiện rõ tính quần chúng,
tính giai cấp của mình. Song với tư cách là một tổ chức xã hội, Công đoàn lại
chưa thể hiện rõ tính xã hội của tổ chức mình mà nhiều khi lại nghiêng về tính
hành chính nhà nước. Ở cấp vĩ mô, Công đoàn như một bộ phận trong bộ máy
nhà nước. Ở cấp cơ sở Công đoàn tham gia nhiều vào việc quản lý cơ quan,
đơn vị, tổ chức, hoạt động của Công đoàn chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý
quan liêu - mệnh lệnh hành chính. Trong giai đoạn này, Công đoàn không có
vị trí độc lập nhất định, không có một lĩnh vực hoạt động đặc thù mà chủ yếu
chỉ ở vai trò người “tham gia”, đồng thời lúc này do quan niệm sự “thống nhất
lợi ích” tuyệt đối giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích nhà nước nên
vai trò bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp công nhân cũng không được coi
trọng. Mặc dù nhà nước đã ban hành những văn bản pháp luật quan trọng quy
định về Công đoàn như luật Công đoàn 1957, Hiến pháp 1980 (điều10), song
các văn bản này chỉ mới quy định chung chung về vai trò, vị trí, chức năng,
nhiệm vụ của Công đoàn chưa có quy định cụ thể về quyền hạn và trách
nhiệm của Công đoàn, chưa quy định rõ quan hệ phối hợp giữa Công đoàn
với các cơ quan, đơn vị, tổ chức. Vì vậy, Công đoàn trong giai đoạn nàychưa
thực sự phát huy được vai trò to lớn của mình.
Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi căn bản
quan niệm về vai trò, vị trí, tính chất của tổ chức Công đoàn.
Với quan niệm mới về Công đoàn, các chính sách, quy định pháp luật
của nhà nước về Công đoàn có nhiều thay đổi theo hướng ngày càng nâng cao
tích cực vào cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Công
đoàn Việt Nam đã thể hiện vai trò của mình thông qua hệ thống tổ chức từ
trung ương đến địa phương, ngành, cơ sở thông qua các phong trào, các hành
động cách mạng của đoàn viên, trong quần chúng lao động.
1.1.2. Lược sử pháp luật về Công đoàn ở Việt Nam
Trước cách mạng tháng Tám, dưới ách đô hộ của chính quyền thực dân
Pháp, giai cấp công nhân cũng như toàn thể nhân dân không có bất cứ quyền
tự do, dân chủ nào, chính quyền thực dân cấm người lao động lập hội. Do
vậy, quyền công đoàn của công nhân và người lao động vì thế cũng không
được thừa nhận, và đương nhiên pháp luật về Công đoàn không tồn tại.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
10
Luận văn Thạc sỹ Luật học
Đến những năm1936 - 1937, nhờ sự lên cầm quyền của Mặt trận bình
dân, chính quyền Pháp ở Việt Nam tỏ vẻ nhân nhượng đôi chút với giai cấp
công nhân và người lao động bằng cách ban hành một bản tổng quy lao động
vào ngày 27-1-1937. Trong đó có một vài quy định về Công đoàn. Nhưng sau
đó Mặt trận bình dân Pháp đổ, những quy định của bản tổng quy lao động hầu
như không được áp dụng.
Vào năm 1945, sau khi chính quyền Pháp tại Đông Dương bị Phát xít
Nhật đảo chính, Chính phủ bù nhìn Nam Triều Trần Trọng Kim ban hành Dụ
số 73 (5/7/1945) quy định thể lệ cho công nhân thành lập nghiệp đoàn. Tuy
nhiên chỉ một tháng sau Nhật đầu hàng quân đồng minh, chính phủ thân Nhật
bị lật đổ, Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà ra đời. Phong trào công nhân và Công đoàn bước sang một giai đoạn mới.
Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
gia nhập Công đoàn và quy định quyền đại diện Công đoàn trong xí nghiệp,
cơ quan nhà nước tham gia các Hội đồng ttrong đơn vị để bảo vệ quyền lợi
cho người lao động.
Sau khi Miền Bắc được giải phóng, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược
là xây dựng Miền Bắc xã hội chủ nghĩa và giải phóng Miền
Nam,
ngày
14-9-1957 Quốc hội khoá I đã thông qua Luật Công đoàn đầu tiên ở nước ta.
Sau khi có Luật Công đoàn, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số
188/TTG ngày 9-4-1958 quy định chi tiết thi hành luật Công đoàn.
Luật Công đoàn 1957 quy định nhiệm vụ quyền hạn của Công đoàn
trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước, trong xí nghiệp tư doanh; quy định
quyền Công đoàn thay mặt cho công nhân viên chức tham gia các hội nghị
của cơ quan nhà nước, của ban lãnh đạo xí nghiệp khi bàn về thực hiện kế
hoạch nhà nước, bảo vệ các chính sách, chế độ có liên quan đến quyền lợi của
công nhân viên chức trước Toà án.
Hiến pháp 1980 đã dành hẳn một điều (điều 10) ghi nhận vị trí, vai trò
của Công đoàn. Song do nằm trong khuôn khổ của cơ chế quản lý kinh tế, xã
hội của thời kỳ cũ nên địa vị pháp lý của Công đoàn còn chung chung, mang
tính hình thức, chưa có các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của Công
đoàn cũng như quan hệ phối hợp giữa Công đoàn với các cơ quan nhà nước
và các đơn vị tổ chức khác.
Với cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của tổ chức
Công đoàn trong nền kinh tế thị trường, một đạo luật mới về Công đoàn được
ban hành vào ngày 7-7-1990 thay thế luật Công đoàn 1957. Luật Công đoàn
lần này quy định cụ thể chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của Công đoàn
cũng như các biện pháp đảm bảo hoạt động Công đoàn.
pháp của công nhân lao động.
Trong các chức năng của Công đoàn, chức năng chính vẫn là bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của người lao động, làm ổn định, hài hoà sự phát triển của quan hệ
lao động. Để đảm bảo cho Công đoàn thực hiện chức năng “bẩm sinh” này pháp
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
13
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Luận văn Thạc sỹ Luật học
luật quy định cho Công đoàn nhiều quyền năng trong đó quyền tham gia giải
quyết tranh chấp lao động là một trong những quyền cơ bản, đặc thù.
Điều 10 của Hiến pháp 1992 đã khẳng định tính chất, chức năng, nguyên
tắc mối quan hệ của Công đoàn với các cơ quan và tổ chức khác, làm cơ sở cho
việc quy định các quyền khác của Công đoàn trong các văn bản pháp luật.
Tại Luật Công đoàn 1990, nhiều điều, khoản xác định cho Công đoàn
tư cách độc lập khi tham gia các quan hệ pháp luật như Điều 1 khoản 1, khoản
3; Điều 2 khoản 1; Điều 11 khoản 3 nói về vị trí, tư cách pháp nhân của Công
đoàn, tư cách đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người lao
động, hoạt động của Công đoàn tại Toà án khi xét xử các tranh chấp.
Bộ luật lao động quy định nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động có
sự tham gia đại diện của Công đoàn trong Hội đồng trọng tài tỉnh, Thành phố.
pháp lý, thủ tục hành chính chủ yếu được áp dụng để giải quyết cho những
tranh chấp lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, bởi lẽ những tranh
chấp lao động trong khu vực này trước đây chưa được thừa nhận. Trong khi
đó tranh chấp lao động trong khu vực tư nhân đã được thừa nhận từ rất sớm
và việc giải quyết đã được Sắc lệnh 29 (12-3-1947) chỉ rõ: Đối với loại tranh
chấp cá nhân sẽ do cơ quan lao động hoặc toà án giải quyết. Tranh chấp lao
động tập thể thì theo thủ tục hoà giải và trọng tài. Sắc lệnh 29 (12-3-1949) đã
bước đầu quy định vị trí và vai trò của Công đoàn trong lĩnh vực lao động
như: “Công đoàn có tư cách pháp nhân, có thể tố tụng trước toà án hay đứng
nguyên đơn mỗi khi có việc gì xẩy ra làm tổn hại gián tiếp hay trực tiếp đến
quyền lợi chung của nghề nghiệp mà Công đoàn đứng thay mặt”. (Điều 159)
hay: “Công đoàn có quyền thay mặt công nhân trong Công đoàn mình trước
toà án”. (Điều 160). Như vậy, Sắc lệnh đã quy định vai trò đại diện, tham gia
của Công đoàn trước Toà án khi giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Tháng 9-1947, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong kỳ họp
thứ 7 đã thông qua Luật Công đoàn quy định rõ vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn
của tổ chức Công đoàn, trong đó Công đoàn có quyền thay mặt cho công nhân
viên chức trước Toà án để bảo vệ quyền lợi của công nhân, viên chức (Điều 5).
- Giai đoạn 1986-1994:
Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi
căn bản quan niệm về vai trò, vị trí, tính chất của tổ chức Công đoàn.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
15
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
giải quyết tranh chấp mà vị trí của Công đoàn chưa được đề cao, quyền và
nghĩa vụ của Công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao động chưa được
quy định cụ thể.
- Giai đoạn 1994 đến nay:
Với cái nhìn mới toàn diện hơn, đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của tổ chức
Công đoàn trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước ta đã tiếp tục khẳng định vị
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
17
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Luận văn Thạc sỹ Luật học
trí pháp lý của tổ chức Công đoàn, đặc biệt trong việc giải quyết tranh chấp
lao động thông qua việc ban hành nhiều văn bản pháp luật mới.
Ngày 23/6/1994 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá IX Kỳ họp thứ 5 đã thông qua Bộ luật lao động. Theo quy định của Bộ
luật lao động, sự tham của Công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao
động có tính nguyên tắc. Điều 158 Bộ luật lao động quy định:
Tranh chấp lao động được giải quyết theo nguyên tắc có sự tham gia
của đại diện Công đoàn và của đại diện người sử dụng lao động. Mặt khác,
vai trò của Công đoàn trong giải quyết tranh chấp là đã được quy định cụ thể
hơn trong Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Pháp lệnh
vật chất và tinh thần ngày càng cao theo sự phát triển của xã hội loài người.
Có thể nói rằng con người tham gia vào quan hệ lao động từ rất sớm bởi đây
chính là một trong những phương thức để tồn tại và phát triển.
Dưới bất kỳ một chế độ xã hội nào quan hệ lao động cũng là quan hệ
lợi ích vật chất mang tính độc lập nhưng cũng mang tính hợp tác, nghĩa là
trong quan hệ lao động mỗi bên chủ thể đều có những lợi ích riêng bên cạnh
lợi ích chung mà họ cùng hướng tới. Ở Việt Nam, thời kỳ bao cấp, nhà nước
điều hành nền kinh tế bằng cơ chế kế hoạch hoá tập trung với hai thành phần
kinh tế chủ yêus là quốc doanh và tập thể . Điểm đặc biệt của cơ chế này
trong sản xuất kinh doanh là chế độ cấp phát lớn nhất theo kế hoạch tập trung
mà nhà nước chính là “người sử dụng lao động”. Vì vậy, quan hệ lao động ở
thời kỳ này chủ yếu được hình thành theo các thủ tục hành chính và mang tính
kế hoạch cao độ. Với quan hệ lao động như vậy, tranh chấp lao động chưa
được hiểu theo đúng nghĩa của nó và chưa được thừa nhận.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam (1986)
mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, nhất là trong tư duy kinh tế và
tư duy pháp lý. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng cộng sản Việt
Nam (1991)tiếp tục khảng định đường lối đổi mới tư duy kinh tế và xã hội ở
nước ta, và đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khảng định đường
lối đổi mới của nước ta: "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
19
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
pháp luật lao động) liên quan mật thiết với nhau. Quan hệ lao động được thiết
lập thì đồng thời xuất hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của hai bên chủ thể. Khi
các bên chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, vì những mục
đích khác nhau các bên có thể phá vỡ sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ,
xâm phạm đến quyền lợi của bên kia và lý do này dẫn đến bất đồng hoặc xung
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
21
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Luận văn Thạc sỹ Luật học
đột giữa hai bên chủ thể của quan hệ. Những bất đồng này chính là cơ sở để
phát sinh tranh chấp lao động.Mối quan hệ giữa tranh chấp lao động và quan
hệ lao động còn thể hiện ở chỗ chỉ các bên chủ thể của quan hệ lao động mới
là các bên của tranh chấp. Do vậy, một khi còn tồn tại quan hệ lao động giữa
các chủ thể và quan hệ lao động này không được giải quyết một cách hài hoà,
các quyền và nghĩa vụ của các bên không được xử lý một cách hợp pháp và
hợp lý, không được tôn trọng thì khả năng xẩy ra tranh chấp vẫn còn tồn tại.
- Tranh chấp lao động không chỉ bao gồm những tranh chấp về quyền
và nghĩa vụ chủ thể mà còn gồm cả những tranh chấp về lợi ích giữa hai bên
chủ thể cử quan hệ lao động. Nghĩa là, tranh chấp có thể phát sinh trong
những trường hợp có hoặc không có vi phạm pháp luật.
mô và số lượng tham gia của một bên tranh chấp là người lao động. Tranh
chấp lao động nếu chỉ phát sinh giữa một người lao động, người sử dụng lao
động, hoặc đối tượng tranh chấp chỉ liên quan đến quyền lợi của một người cá nhân người lao động thì tranh chấp đó chỉ đơn thuần là tranh chấp cá nhân.
Sự ảnh hưởng của tranh chấp này đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệpở một chừng mực nhất định. Nhưng nếu tranh chấp xẩy ra giữa
tập thể người lao động và người sử dụng lao động trong phạm vi toàn doanh
nghiệp thì lúc đó tranh chấp sẽ có tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh
doanh và nhiều khi ảnh hưởng đến cả trật tự công cộng và lợi ích xã hội. Vì
thế, hậu quả pháp lý cũng có những biểu hiện khác nhau và vì tính chất ấy các
quy định áp dụng để giải quyết, các cơ chế giải quyết cũng có sự khác nhau.
- Tranh chấp lao động là loại tranh chấp có tác động trực tiếp và rất lớn
đối với người lao động, nhiều khi làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự
an toàn xã hội và đời sống kinh tế.
Đặc điểm này xuất phát từ bản chất quan hệ lao động là quan hệ chứa
đựng nhiều vấn đề mang tính xã hội như thu nhập, đời sống, việc làm...của
người lao động. Khi tranh chấp lao động xẩy ra, quan hệ đó có nguy cơ bị phá
vỡ, người lao động có thể bị mất việc làm, mất thu nhập, và điều đó ảnh
hưỏng trực tiếp đến cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động. Về
phía người sử dụng lao động, họ bị mất nhiều thời gian, công sức vào quá
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
23
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
và người sử dụng lao động. Tranh chấp này có thể xảy ra trong phạm vi một
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thái Thuận
24
Luận văn Thạc sỹ Luật học
bộ phận doanh nghiệp, trong toàn bộ doanh nghiệp hoặc thậm chí ở phạm vi
rộng hơn như trong một ngành. Nội dung tranh chấp lao động tập thể thường
liên quan đến lợi ích của cả một tập thể người lao động, được tập thể lao động
quan tâm và mong được giải quyết. Yếu tố tập thể không chỉ được thể hiện
trong nội dung của tranh chấp mà còn được thể hiện thông qua chủ thể tham
gia tranh chấp. Về phía người lao động, chủ thể tham gia tranh chấp với người
sử dụng lao động bao giờ cũng là tập thể người lao động mà đại diện là Ban
chấp hành Công đoàn cơ sở. Trong tranh chấp lao động tập thể tổ chức Công
đoàn là một bên của tranh chấp, trực tiếp yêu cầu người sử dụng lao động
phải đáp ứng giải quyết kịp thời các yêu cầu của tập thể lao động. Vì vậy, so
với tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể bao giờ cũng
diễn ra phức tạp hơn và có tính tổ chức, quy mô hơn nên khi giải quyết cần
phải có một cơ chế thích hợp. Tranh chấp lao động tập thể nếu không được
giải quyết kịp thời sẽ có nguy cơ bùng nổ thành đình công gây hậu quả
nghiêm trọng, hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng.
* Căn cứ vào tính chất của tranh chấp của tranh chấp, có thể phân chia
tranh chấp lao động thành tranh chấp về quyền và lợi ích.
- Tranh chấp về quyền : Là những tranh chấp phát sinh trong việc thực
hiện các quyền, nghĩa vụ đã được quy định trong pháp luật lao động, thoả ước
lao động tập thể, hợp đồng lao động. Khi giải quyết các tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể căn cứ vào nội dung quy định
của pháp luật, thoả ước lao động tập thể, hợp đồng lao động để đưa ra những
phán quyết cụ thể nhằm thừa nhận các quyền lợi hợp pháp của bên bị vi phạm.