CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA VÉ SỐ - Pdf 51

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
-----o0o-----

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC QUYẾT ĐỊNH
MUA VÉ SỐ KIẾN THIẾT CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Môn: Nghiên cứu Marketing
GVHD: PGS.TS LƯU THANH ĐỨC HẢI
NHÓM HỌC VIÊN THỰC HIỆN

STT
1
2
3
4
5
6

HỌ VÀ TÊN
Phạm Thị Bình An (nhóm
trưởng)
Phạm Xuân Thanh
Nguyễn Ngọc Phương Thảo
Phan Thanh Trúc
Nguyễn Thị Hoàng Yến
Nguyễn Thị Hồng Nhanh

MSHV
M1417001
M1417029

thu bán vé xổ số có thuế của Vietlott là 1.884 tỷ đồng (đạt 53,07% kế hoạch
năm 2017), nộp ngân sách nhà nước 481,961 tỷ đồng đạt 60% kế hoạch năm
2017 (www.cafef.vn, 2017). Thống kê kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm
2017 của 10 doanh nghiệp kinh doanh xổ số truyền thống có doanh thu lớn
nhất cho thấy tổng doanh thu 10 công ty xổ số truyền thống mang về 14.683 tỷ
đồng doanh thu và gần 2.640 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế; tăng bình quân lần
lượt 3,2% và 0,19% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, có 5/10 doanh
nghiệp bị giảm lợi nhuận, và 3/10 doanh nghiệp có doanh thu sụt giảm so với
cùng kỳ năm trước. Trong đó có Công ty xổ số Kiến thiết Tiền Giang và xổ số
Kiến thiết Vĩnh Long bị sụt giảm ở cả chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận.
(www.vietnambiz.vn, 2017). Trước tình hình trên ta thấy Vietlott đang trên đà
phát triển mạnh làm ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu và lợi nhuận của xổ số
truyền thống.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang có dấu hiệu tăng trưởng và phát
triển mạnh. Trong đó, Cần Thơ là một trong năm Thành Phố trực thuộc Trung
ương, Đô thị loại I của Việt Nam, đầu mối giao thông và phát triển của Đồng
Bằng sông Cữu Long. Cuộc sống của người dân ngày càng cải thiện và thu
nhập ngày càng tăng cao. Vì thế nhu cầu và tâm lý của khách hàng cũng trở
nên khó khăn kén chọn hơn. Khi không làm thỏa mãn khách hàng thì không
những rất khó giữ được khách hàng hiện tại, thu hút người mua vé số, mà còn

Trang 1


đứng trước nguy cơ làm mất đi các khách hàng tiềm năng khác. Từ đó, việc
làm khách hàng hài lòng và quan tâm lựa chọn mua vé số truyền thống đã trở
thành quan trọng đối với các doanh nghiệp và tổ chức trong nỗ lực nâng cao
chất lượng dịch vụ, để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thực tế kinh doanh cho thấy, khi tham gia vào các thị trường ngoài tỉnh các
Công ty xổ số phải xây dựng cơ chế chính sách phù hợp cho từng giai đoạn



1.4 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Vấn đề nghiên cứu: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc
quyết định mua vé số kiến thiết của người dân thành phố Cần Thơ.
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu: người đã từng mua vé số truyền thống.
1.4.3 Phạm vi nghiên cứu: thành phố Cần Thơ.

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Trang 3


Tác giả Vũ Trung Dũng (2008), với luận văn “Hoàn thiện cơ chế tài
chính các công ty Xổ số kiến thiết Miền Nam”. Luận văn thạc sĩ. Đại học kinh
tế Thành Phố Hồ Chí Minh. Nội dung của đề tài là tập trung nghiên cứu thực
trạng hoạt động xổ số Việt Nam, nhận diện những hạn chế phát sinh do môi
trường kinh tế, xã hội đã thay đổi, từ đó hình thành các giải pháp đổi mới
nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính riêng có của những doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh trong lĩnh vực này. Trong suốt quá trình nghiên cứu và tiếp cận bài
nghiên cứu, luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở sử dụng triệt để phương
pháp duy vật biện chứng, và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, còn sử dụng các
phương pháp dự báo, phân tích, so sánh và thống kê các số liệu báo cáo được
sử dụng kết hợp với khảo sát và trải nghiệm thực tế. Đóng góp của nghiên cứu
này giúp cho các công ty XSKT Miền Nam trong việc quản lý và sử dụng tài
sản, vốn nhà nước, và đưa ra nhóm giải pháp nhằm tăng doanh thu, giảm thiểu
chi phí và rủi ro thiệt hại đang dần phát sinh trong hoạt động xổ số Khu vực
Miền Nam nói riêng và của Việt Nam nói chung. Hạn chế của bài nghiên cứu
này chỉ tập trung vào kiểm tra giám sát thực hiện quy chế quản lý tài chính tại
công ty XSKT Khu vực Miền Nam. Do đó cần phải có những nghiên cứu về

tích yếu tố khám phá EFA để đánh giá các thang đo có ảnh hưởng đến quyết
định mua vé số kiến thiết của cá nhân. Kết quả phân tích chỉ ra rằng có 4
nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua vé số kiến thiết của người dân
thành phố Cần Thơ: yếu tố văn hóa, yếu tố xã hội, yếu tố cá nhân, yếu tố tâm
lý. Trong đó, yếu tố tâm lý có vai trò chủ đạo trong việc quyết định mua vé số
của người dân, tâm lý thoải mái, nhu cầu mua hàng càng cao.
BẢNG TỔNG HỢP LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Vấn đề nghiên cứu

Kế thừa từ tài liệu

Tác giả

Hoàn thiện cơ chế - Nghiên cứu này giúp cho các
tài chính các công ty công ty XSKT Miền Nam trong
Xổ số kiến thiết việc quản lý và sử dụng tài sản,
Miền Nam
vốn nhà nước
- Đưa ra nhóm giải pháp nhằm
tăng doanh thu, giảm thiểu chi
phí và rủi ro thiệt hại đang dần
phát sinh trong hoạt động xổ số
Khu vực Miền Nam nói riêng
và của Việt Nam nói chung

Vũ Trung Dũng

Phân tích các yếu tố - Nghiên cứu cho thấy những
ảnh hưởng đến chi khách hàng có độ tuổi càng cao
tiêu mua vé số của có mức chi tiêu trung bình cho

- Có tác động lên tâm lý lựa
chọn mua vé số cùng ngày của
các Công ty xổ số kiến thiết
khác trong cùng khu vực miền
Trung.

Bùi Quang Quý

Nghiên cứu các yếu - Kết quả phân tích chỉ ra rằng
tố ảnh hưởng đến có 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng
quyết định mua vé đến quyết định mua vé số kiến
số kiến thiết của cá thiết của người dân thành phố
nhân trên địa bàn Cần Thơ: yếu tố văn hóa, yếu
Thành Phố Cần Thơ
tố xã hội, yếu tố cá nhân, yếu
tố tâm lý.
- Trong đó, yếu tố tâm lý có vai
trò chủ đạo trong việc quyết
định mua vé số của người dân,
tâm lý thoải mái, nhu cầu mua
hàng càng cao

Nguyễn Phạm
Duy

CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý thuyết
Trang 6



a/ Trách nhiệm: Người tham gia dự thưởng xổ số có trách nhiệm tuân
thủ các quy định của Nhà nước về kinh doanh xổ số, thể lệ tham gia do doanh
nghiệp kinh doanh xổ số công bố và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế đối với
Nhà nước hteo quy định của pháp luật.

Trang 7


b/ Quyền lợi:
- Được doanh nghiệp kinh doanh xổ số thanh toán đầy đủ giá trị các
giải thưởng đã trúng thưởng. Trường hợp vì nguyên nhân khách quan không
thể trực tiếp tham gia lĩnh thưởng thì có thể ủy quyền cho người đại diện hợp
pháp của mình lĩnh thưởng.
- Cá nhân là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam khi trúng thưởng được phép mua ngoại tệ
và chuyển ngoại tệ ra nước ngoài the quy định về quản lý ngoại hối của Nhà
nước.
- Được quyền yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh xổ số giữ bí mật về
thông tin trúng thưởng và các thông tin nhận thưởng của cá nhân.
- Được hưởng các quyền lợi hợp pháp khác theo thể lệ tham gia dự
thưởng do doanh nghiệp kinh doanh xổ số công bố.
3.1.2 Lý thuyết hành vi tiêu dùng
3.1.2.1 Khái niệm hành vi người tiêu dùng
Theo Philip Kotler (2005), hành vi tiêu dùng là hành vi cụ thể của một
cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm
hay dịch vụ.
Hành vi khách hàng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích
thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương
tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Hay nói cách khác, hành vi của
khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và

văn hóa và tầng lớp xã hội. (Philip Kotler, 2005).
- Nền văn hóa: Là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và
hành vi của một người. Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích lũy được một số những
giá trị, nhận thức, sở thích và hành vi thông qua gia đình của nó và những định
chế then chốt khác.
- Nhánh văn hóa: Mỗi nền văn hóa đều có những nhánh văn hóa nhỏ
hơn tạo nên những đặc điểm đặc thù hơn và mức độ hòa nhập với xã hội cho
những thành viên của nó. Các nhánh văn hóa tạo nên những khúc thị trường
quan trọng. Hành vi mua sắm của một người sẽ chịu ảnh hưởng của những đặc
điểm của nhánh văn hóa của chính người đó. Chúng sẽ ảnh hưởng đến sở thích
ăn uống, cách lựa chọn quần áo, cách nghĩ ngơi giải trí và tham vọng tiến thân
của người đó. Những người làm tiếp thị thường Văn Hóa thiết kế sản phẩm và
các chương trình tiếp thị theo đúng nhu cầu của chúng. (Phillip Kotler, 2005).
- Tầng lớp xã hội: Hầu như tất cả các xã hội loài người đều thể hiện rõ
sự phân tầng xã hội. Sự phân tầng này đôi khi mang hình thức, một hệ thống
đẳng cấp theo đó những thành viên thuộc các đẳng cấp khác nhau được nuôi
nấng và dạy dỗ để đảm nhiệm những vai trò nhất định. Hay gặp hơn là trường
hợp phân tầng thành các tầng lớp xã hội. Các tầng lớp xã hội là những bộ phận
tương đối đồng nhất và bền vững trong xã hội, được xếp theo thứ bậc và gồm
những thành viên có chung những giá trị, nỗi quan tâm và hành vi. (Philip
Kotler, 2005). Một số đặc điểm cơ bản của tầng lớp xã hội:

Trang 9


+ Thứ nhất là những người thuộc mỗi tầng lớp xã hội đều có khuynh
hướng hành động giống nhau hơn so với những người thuộc hai tầng lớp xã
hội khác.
+ Thứ hai là con người được xem là có địa vị thấp hay cao tùy theo
tầng lớp xã hội của họ.

đến vai trò và ảnh hưởng tương đối của chồng, vợ và con cái đến việc mua

Trang 10


sắm rất nhiều loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau. Vấn đề này sẽ thay đổi rất
nhiều đối với các nước và các tầng lớp xã hội khác nhau.
- Vai trò và địa vị xã hội: Trong đời mình, một người tham gia vào rất
nhiều nhóm như: gia đình, các câu lạc bộ, các tổ chức. Vị trí của người đó
trong mỗi nhóm có thể xác định căn cứ vào vai trò và địa vị của họ. Một vai
trò bao gồm những hoạt động mà một người sẽ phải tiến hành. Mỗi vai trò đều
gắn với một địa vị. Người ta lựa chọn những sản phẩm thể hiện được vai trò
và địa vị của mình trong xã hội. Những người làm Marketing đều biết rõ khả
năng thể hiện địa vị xã hội của sản phẩm và nhãn hiệu. Tuy nhiên, biểu tượng
của địa vị thay đổi theo các tầng lớp xã hội và theo cả vùng địa lý nữa.
3.1.3.3 Các yếu tố cá nhân
Gồm năm yếu tố chính: Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống, nghề
nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, lối sống, nhân cách và ý niệm về bản thân. (Philip
Kotler, 2005).
- Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống: Người ta mua những hàng hóa
và dịch vụ khác nhau trong suốt đời mình. Họ ăn thức ăn cho trẻ sơ sinh trong
những năm đầu tiên, phần lớn thực phẩm trong những năm lớn lên và trưởng
thành và những thức ăn kiêng cử trong những năm cuối đời. Thị hiếu của
người ta về quần áo, thức ăn và cách giải trí cũng tùy theo tuổi tác.
- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến cách
thức tiêu dùng của họ. Người công nhân cổ xanh sẽ mua quần áo lao động,
giày đi làm, bữa ăn trưa đóng hộp và trò chơi giải trí hai người. Chủ tịch công
ty sẽ mua quần áo đắt tiền, đi du lịch bằng đường hàng không, tham gia các
câu lạc bộ và thuyền buồm lớn. Người làm marketing cố gắng xác định những
nhóm nghề nghiệp có quan tâm trên mức trung bình đến các sản phẩm và dịch

thái độ. (Philip Kotler, 2005).
Động cơ: Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người cũng có nhiều
nhu cầu. Một số nhu cầu có nguồn gốc sinh học. Chúng nảy sinh từ những
trạng thái căng thẳng về sinh lý như đói, mệt mỏi, căng thẳng khó chịu. Một số
nhu cầu khác lại có nguồn gốc tâm lý. Chúng nảy sinh từ những trạng thái
căng thẳng về tâm lý, như nhu cầu được thừa nhận, được kính trọng hay được
gần gũi về tinh thần. Hầu hết những nhu cầu có nguồn gốc tâm lý đều không
đủ mạnh để thúc đẩy con người hành động theo chúng ngay lập tức. Một nhu
cầu sẽ trở thành động cơ khi nó tăng lên đến một mức độ đủ mạnh. Một động
cơ (hay một sự thôi thúc) là một nhu cầu đã có đủ sức mạnh để thôi thúc người
ta hành động. Việc thoản mãn nhu cầu sẽ làm giảm bớt cảm giác căng thẳng.
Nhận thức: Một người có động cơ luôn sẵn sàng hành động. Vấn đề người có
động cơ đó sẽ hành động như thế nào trong thực tế còn chịu ảnh hưởng từ sự
nhận thức của người đó về tình huống lúc đó. Tại sao người ta lại có nhận thức
khác nhau về cùng một tình huống? Vấn đề là ở chỗ chúng ta nắm bắt sự vật là
tác nhân thông qua những cảm giác truyền qua năm giác quan của mình: thị
giác, thính giác, khứu giác, xúc giác và vị giác. Tuy nhiên mỗi người chúng ta
lại suy xét, tổ chức và giải thích thông tin cảm giác đó theo cách riêng của
mình. Nhận thức không chỉ phụ thuộc vào những tác nhân vật lý, mà còn phụ
thuộc vào cả mối quan hệ của các tác nhân đó với môi trường xung quanh và
những điều kiện bên trong cá thể đó.

Trang 12


Tri thức: Khi người ta hành động họ cũng đồng thời lĩnh hội được tri thức, tri
thức mô tả những thay đổi trong hành vi của cá thể bắt nguồn từ kinh nghiệm.
Hầu hết hành vi của con người đều được lĩnh hội. Các nhà lý luận về tri thức
cho rằng tri thức của một con người được tạo ra thông qua sự tác động qua lại
của những thôi thúc, tác nhân kích thích, những tấm gương, những phản ứng

Các hành vi
sau khi mua

Hình 3.1: Tiến trình ra quyết định mua hàng (Kotler, 2004)
+ Nhận biết nhu cầu:
Bước khởi đầu của tiến trình mua là sự nhận biết về một nhu cầu muốn
được thoả mãn của người tiêu dùng. Nhu cầu được phát sinh bởi nhiều yếu tố
kích thích cả bên trong lẫn bên ngoài.
Ở giai đoạn này, cần phải xác định xem nhu cầu nội tại của người tiêu
dùng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài, dẫn đến người tiêu dùng nhận
thức rằng mình muốn mua vé số. Việc đó xuất phát từ nhu cầu của bản thân và
các yếu tố bên ngoài tác động đến. Đó chính là nguồn ý tưởng quan trọng,
hình thành những ý tưởng và triển khai các chương trình phát triển một cách
hiệu quả nhằm thúc đẩy nhu cầu mua vé số của người dân.

Trang 13


+ Tìm kiếm thông tin: thông tin về nhu cầu mua vé số rất dễ được tìm thấy từ
nhiều nguồn khác nhau:
- Người bán vé số lẻ.
- Đại lý vé số.
- Hội nghị khu vực xổ số miền Nam.
- Nguồn thông tin cá nhân: bạn bè, gia đình, đồng nghiệp, những người
từng trúng thưởng từ xổ số.
- Nguồn thông tin từ kinh nghiệm thực tế: tiếp xúc, mua vé số.
- Nguồn thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.
+ Đánh giá sự lựa chọn thay thế:
Căn cứ các thuộc tính, đặc điểm của vé số và lợi ích của người dân mua
vé số, đánh giá các Công ty xổ số kiến thiết theo cách riêng của họ, tùy vào sở

1990). Thaler và Ziemba (1988) cho rằng với một đô la đầu tư cho xổ số, kỳ vọng trúng thưởng của
người chỉ có 0,5 đô la và 0,5 đô la còn lại được dùng để trả cho thú vui chơi xổ số. Ngoài ra, Garrett
và Sobel (1999), sử dụng số liệu về người chơi xổ số ở Mỹ, đã chứng minh được ngay cả những người
sợ rủi ro (risk-averse) cũng có thể chơi xổ số do họ thích sự bất đối xứng của kỳ vọng giải thưởng
(giải thưởng rất lớn ứng với xác suất rất nhỏ và giải thưởng nhỏ ứng với xác suất lớn). Một số người
chơi có khả năng dự đoán tốt các con số trúng thưởng nên họ có thể cải thiện xác suất trúng thưởng và
tăng kỳ vọng của việc chơi xổ số. Đây thường là những người chơi thường xuyên và có quan sát kỹ
lưỡng các con số trúng thưởng. Tuy nhiên, một nhà đầu tư sáng suốt sẽ không đưa xổ số vào danh mục
đầu tư của mình (Clotfelter và Cook, 1990).
Như vậy, việc chơi xổ số có thể vì vui hay vì tiền. Những người có thu nhập thấp thường chơi
vì tiền trong khi những người có thu nhập cao lại chơi vì vui. Ngoài ra, một số người chơi xổ số vì
tinh thần xã hội do xổ số được quảng bá như là một kênh huy động vốn của Nhà nước để phục vụ các
công trình xã hội như giáo dục và y tế, giúp đỡ người nghèo (Clotfelter và Cook, 1989, 1990).
Bên cạnh thu nhập, trình độ học vấn có ảnh hưởng rất quan trọng đến xác suất chơi và tổng số
tiền chi tiêu cho xổ số. Các nghiên cứu đều cho thấy lượng chi tiêu cho xổ số giảm cùng với học vấn
của người chơi. Học vấn cao có thể giúp người chơi nhận thức rõ bản chất may rủi của các trò chơi xổ
số nên làm giảm xác suất tham gia cũng như lượng tiền chi cho vé số (Clotfelter và Cook, 1989,
Stranahan và Borg, 1998, Abdel-Ghany và Sharpe, 2001, Wu, 2001, Kearney, 2005).
Các nghiên cứu thực nghiệm còn cho thấy các đặc điểm cá nhân khác của người tiêu dùng và
sự tiếp cận thông tin về xổ số cũng có ảnh hưởng đến nhu cầu chơi xổ số của cá nhân. Các đặc điểm
cá nhân thường được nghiên cứu là tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú dân
tộc và tôn giáo (Clotfelter và Cook, 1989, Stranahan và Borg, 1998, Abdel-Ghany và Sharpe, 2001,
Wu, 2001, Sawkins và Dickie, 2002, Kearney, 2005). Các yếu tố này có ảnh hưởng đến quyết định
chơi và chi tiêu cho xổ số ở các mức độ và chiều hướng khác nhau. Việc chơi xổ số còn bị ảnh hưởng
mạnh mẽ bởi sự quảng bá về xổ số trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình,
pa nô, ... . Những người tiếp cận được những thông tin này có xu hướng tham gia và chi tiêu cho xổ số
nhiều hơn (Stranahan và Borg, 1998).
Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ vận dụng các yếu tố nêu trên để phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định mua vé số kiến thiết của cá nhân trên địa bàn Thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên,
tác giả cũng điều chỉnh và bổ sung những biến giải thích này để phù hợp với hoàn cảnh thực tế của

bàn Thành phố Cần Thơ.
+ Biến độc lập: Nhóm các yếu tố văn hóa, nhóm các yếu tố xã hội, nhóm
các yếu tố tâm lý, nhóm các yếu tố cá nhân.
Nhóm yếu tố văn
hóa

Nhóm yếu tố xã hội

Quyết định mua

Nhóm yếu tố tâm lý

Nhóm yếu tố cá nhân

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Nghiên cứu sử dụng các số liệu sẵn có từ niên giám
thống kê, các trang web và kết quả nghiên cứu từ các nghiên cứu trước đây
trong nước.

Trang 16


- Số liệu sơ cấp: Do thời gian thực hiện hạn chế nên bài nghiên cứu sử
dụng hình thức chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất (chọn mẫu thuận tiện). Sử
dụng hình thức phỏng vấn bằng bảng câu hỏi 300 đối tượng là người mua vé
số truyền thống trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Dựa vào các nhân tố cần điều
tra, nhóm tác giả soạn thảo bảng câu hỏi điều tra và gửi đến cho từng cá nhân.
Với 300 bảng câu hỏi được gửi đi, nhóm tác giả nhận phản hồi về là 300 bảng

nghiên cứu.

Trang 17


Trong bài nghiên cứu này, phương pháp thống kê mô tả được sử dụng đo
lường các biến định lượng ở các giá trị lớn nhất, nhỏ nhất hoặc trung bình để
mô tả những nhận định của cá nhân mua vé số kiến thiết ở Thành phố Cần
Thơ. Suy luận diễn giải đồng thời dựa trên việc tính điểm trung bình các nhận
định của người mua vé số kiến thiết thông qua thang đo 5 điểm của thang đo
Likert.
Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng:
Giá trị khoảng cách = (Max – Min)/n = (5-1)/5 = 0,8
Bảng 3.1: Ý nghĩa của từng giá trị trung bình
Giá trị trung bình
Ý nghĩa
1,00 – 1,80
Rất không đồng ý
1,81 – 2,60
Không đồng ý
2,61 – 3,40
Bình thường
3,41 – 4,20
Đồng ý
4,21 – 5,00
Rất đồng ý
Nguồn: Lưu Thanh Đức Hải, 2006

b) Đối với mục tiêu 2
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua vé số kiến thiết

hệ giữa các biến quan sát và biến tiềm ẩn là không rõ ràng hay không chắc
chắn. Phân tích EFA theo đó được tiến hành theo kiểu khám phá để xác định
xem phạm vi, mức độ quan hệ giữa các biến quan sát và các nhân tố cơ sở
như thế nào, làm nền tảng cho một tập hợp các phép đo để rút gọn hay giảm
bớt số biến quan sát tải lên các nhân tố cơ sở. Các nhân tố cơ sở là tổ hợp
tuyến tính (sơ đồ cấu tạo) của các biến mô tả bằng hệ phương trình sau:
Fi = Wi1 X1 + Wi2 X2 + Wi3 X3 + … + Wik Xk
Trong đó:
Fi: ước lượng trị số của nhân tố thứ i
Wi: trọng số nhân tố
k: số biến quan sát
Xi: biến quan sát
F1: yếu tố văn hoá
F2: yếu tố xã hội
F3: yếu tố cá nhân
F4: yếu tố tâm lý
F5: quyết định mua
Số lượng các nhân tố cơ sở tuỳ thuộc vào mô hình nghiên cứu, trong đó
chúng ràng buộc nhau bằng cách xoay các vector trực giao nhau để không xảy
ra hiện tượng tương quan. Phân tích nhân tố khám phá EFA rất hữu dụng trong
bước thực nghiệm ban đầu hay mở rộng kiểm định.
Trong bài nghiên cứu này, phân tích nhân tố được dùng để tìm ra nhân tố
đại diện nhất. Trong quá trình phân tích ta phân tích chọn lọc các nhân tố ảnh
hưởng đến quyết định lựa chọn mua vé số, những người được phỏng vấn cho
biết mức độ quan trọng của các nhân tố dựa trên thang đo 5 điểm (1: rất không
đồng ý,…,5: rất đồng ý).

Trang 19



3.3.3 Khung phân tích
Vấn đề nghiên cứu
Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua
vé số của người dân TP. Cần Thơ
Cơ sở lý luận
Lý thuyết về xổ số kiến thiết
Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng

Bảng câu hỏi khảo sát
Nghiên cứu định lượng
- Khảo sát n =300
Mã hóa dữ liệu
- Cronbach Alpha
- Phân tích nhân tố EFA
- Phân tích hồi quy

Kết quả nghiên cứu
Giải pháp
Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng
Hình 3.3 Khung phân tích

3.4 Xây dựng thang đo
Thang đo
Thang đo yếu tố văn hoá

Thang đo yếu tố xã hội

Biến quan sát
- Tôi cho rằng tầng lớp xã hội khác nhau thì có
cách lựa chọn vé số khác nhau

- Tôi cho rằng phong cách sống khác nhau thì
có cách nhìn nhận mua vé số khác nhau
- Tôi cho rằng yếu tố thuận tiện từ những người
bán vé số dạo ảnh hưởng đến quyết định mua
vé số
- Tôi cho rằng một số người thích mua những
tờ vé số cuối cùng của những người bán vé số
- Tôi chỉ mua vé số khi tôi vui vẻ
- Tôi tin rằng may mắn sẽ mỉm cười với tôi nên
tôi mua vé số
- Tôi chỉ mua vé số khi tôi thấy thích một con
số nào đó
- Tôi chỉ mua vé số khi thấy người thân (bạn
bè, đồng nghiệp, người quen) mua vé số
- Tôi sẽ tiếp tục mua vé số phù hợp với mục
đích của tôi
- Tôi sẽ tiếp tục mua vé số phù hợp với thu
nhập của tôi
- Tôi sẽ tiếp tục mua vé số ở những người bán
dạo mà tôi thích

Trang 22


CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Mô tả cơ cấu mẫu (Đặc điểm khách hàng)
Hiểu rõ đặc điểm của khách hàng là rất cần thiết đối với các nhà hoạch
định chiến lược kinh doanh sản phẩm, dịch vụ. Vì khách hàng có những đặc
điểm khác nhau sẽ có những nhu cầu khác nhau. Để xác định khách hàng mục
tiêu, nghiên cứu xem xét một số thông tin liên quan đến khách hàng như: độ

2017

Hình 4.2 Giới tính của khách hàng được khảo sát
Về giới tính, khách hàng mua vé số kiến thiết trên địa bàn thành phố Cần
Thơ là nam chiếm 55% và là nữ chiếm 45%. Như vậy, các khách hàng mua vé
số kiến thiết trên địa bàn thành phố Cần Thơ theo khảo sát tỉ lệ nam mua nhiều
hơn nữ và chêch lệch khoảng 10%.
Bảng 4.1 Thu nhập và trình độ học vấn
Thu nhập

2-4 triệu
4-6 triệu
6-8 triệu
8-10 triệu
10-12 triệu
Trên 12
triệu
Tổng

Dưới
trung
học
1,3%

THPT

Trung
cấp

Cao


3,0%
1,0%
1,7%
0,1%

4,0%
4,7%
3,0%
0,7%

16,0%
9,7%
3,3%
3,0%

1,3%
2,7%
0,7%
0,7%

29,3%
19,3%
9,3%
5,3%

0,0%

1,0%


tham gia mua vé số vì họ có thu nhập ổn định và tương đối cao hơn so với các
nhóm khác; kế đến là cao đẳng chiếm 20,0%; trung cấp chiếm 12,0%; sau đại
học chiếm 8%; trung học phổ thông chiếm 7,3%; và sau cùng là trình độ dưới
trung học chỉ chiếm 3,3%.
Trang 24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status