Báo cáo thực tập tại Trung Tâm Thương Mại số 7 Đinh Tiên Hoàng - Hà Nội. - Pdf 51

LỜI MỞ ĐẦU

Nền kinh tế nước ta từ khi có sự chuyển đổi sang 1 thời kì mới, nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần cùng tồn tại và hoạt động bình đẳng trước pháp luật đã thu được
một số kết quả đáng khích lệ. Do vậy trong cơ chế quản lí mới việc giữ vững và mở rộng
thị trường là một vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh
nghiệp có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh .
Trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lí từ kế hoạch hoá sang quan liêu bao cấp
sang tự tổ chức hoạch toán kinh doanh đã nảy sinh vấn đề cạnh tranh gay gắt giữa các đơn
vi sản xuất với những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng mỹ thuật của khách hàng tiêu
thụ sản phẩm nhưng phải ở mức độ giá cả hợp lý, là những mặt khó khăn đặt ra cho các
đơn vị sản xuất đòi hỏi các doanh nghiệp phải quyết nó theo yêu cầu là một nhiệm vụ trọng
yếu trong họat động sản xuất kinh doanh của mình.
Muốn thực hiện được nhiệm vụ đó một cách có hiệu quả ngoài những công tác phục
vụ cho việc tổ chức quản lý sản xuất ra, đối với các doanh nghiệp công tác taì chính kế
toán cũng là một công tác hết sức quan trọng .Việc tổ chức và thưc hiện tốt công tác kế
toán tài chính sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động tốt trong cơ chế thị trường tạo điều kiện
cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí cũng như giá thành sản phẩm đáp
ứng được yêu cầu của khách hàng.
Bằng kiến thức đã được trang bị ở trường và thời gian thực tập tại Trung Tâm
Thương Mại số 7 Đinh Tiên Hoàng - Hà Nội tôi mong muốn tìm hiểu thực tiễn công tác
tài chính kế toấn của trung tâm thương mại.
1 1
PHẦN THỨ NHẤT
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
I. ĐẶC ĐIỂM VÀ NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
1.Đặc điểm nghiệp vụ bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại.
Doanh nghiệp thương mại thực hiện chức năng tổ chức lưu thông hàng hoá trong
nền kinh tế, các doanh nghiệp thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người sản xuất và

- Giai đoạn 1: Đơn vị bán xuất giao hàng hoá cho đơn vị mua. Giai đoạn này đơn vị
bán căn cứ vào các hợp đồng tiêu thụ đã ký kết để giao hàng cho khấch. Đơn vị bán có thể
giao hàng trực tiếp hoặc có thể giao hàng gián tiếp cho khách hàng. Giai đoạn này phản
ánh một mặt quá trình vận động của hàng hoá. Tuy nhiên nó chưa đảm bảo phản ánh được
kết quả của việc bán hàng, chưa có cơ sở để đảm bảo quá trình bấn hàng đã hoàn tất, bởi vì
hầng hoá gửi đi đó chưa khẳng định là sẽ thu được tiền.
- Giai đoạn 2: Khách hàng trả tiền hoặc xác nhận trả tiền. Đây là giai đoạn đơn vị đã
tiêu thụ được hàng hoá và thu tiền về (hoặc sẽ thu được tiền về). Kết thúc giai đoạn này
cũng là lúc quá trình tiêu thụ được hoàn tất, đơn vị có thu nhập để bù đắp các chi phí đã
bỏ ra trong quá trình kinh doanh và hình thành kết quẩ bán hàng.
Tóm lại, quá trình bán hầng ở các doanh nghiệp thương mại có đặc điểm chính sau:
- Có sự thoả thuận trao đổi giữa người mua và người bán: người bán đồng ý bán,
người mua đồng ý mua, giá bán hàng là giá thoẩ thuận giữa hai bên, trả tiền hoặc chấp
nhận trả tiền.
- Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hoá: người bán mất quyền sở hữu về hàng
hoá, còn người mua có quyền sở hữu về hàng hoá đã mua.
- Trong quá trình bán hàng, đơn vị bán cung cấp cho khách hàng một khối lượng
hàng hoá nhất định và nhận lại được từ khách hàng một khoản tiền gọi là doanh thu bán
hầng. Số doanh thu này là cơ sở để đơn vị xác nhận kết quả bán hầng hoá của mình.
2. các phương thức và hình thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
3 3
Trong nền kinh tế thị trủờng, việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của các doanh nghiệp
thương mại được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, theo đó các sản phẩm hàng
hoá vận động từ doanh nghiệp thương mại đến tay các hộ tiêu dùng cuối cùng. Tuỳ thuộc
vào đặc điểm sản phẩm hàng hoá tiêu thụ mà quá trình bán hàng hai khâu: Khâu bán buôn
vầ khâu bán lẻ. Bán buôn là hình thức bán hàng cho các doanh nghiệp tổ chức kinh tế để
thoả mãn nhu cầu kinh doanh. Đặc trưng của bán buôn là bán hàng hoá với số lượng lớn,
chấm dứt hình thức mua bán hầng hoá vẫn còn trong lưu thông. Gía trị hàng hoá chưa được
thực hiện hoàn toàn. Phương thức thanh toán trong khâu bán buôn chủ yếu không dùng tiền
mặt.

phương thức bán hàng truyền thống thường áp dụng đối với ngành hàng có đặc điểm : tiêu
thụ có định kỳ giao nhận, thời điểm giao nhận hàng không trùng hợp với thời điểm nhập
hàng, hầng cần qua dự trữ để xử lý tăng giá trị thương mại . Khi thực hiện các phương
pháp này doanh nghiệp cần có kế hoạch dự trữ tốt và tiến độ giao nhận bán hàng đúng hạn,
để tránh ứ đọng là gây tốn kém chi phí dự trữ, giảm sút chất lượng và khó khăn cho công
tác bảo quản hàng.
b. Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp ( hình thức giao tay ba)
Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua vầ
giao trực tiếp cho đại diện bên mua tại kho người bấn. Chứng từ bấn hàng là ''Hoá đơn bán
hàng trực tiếp'' do doanh nghiệp lập thành ba liên. Một liên của chứng từ giao cho người
bên mua, hai liên gửi về phòng kế toán để làm thủ tục thanh toán tiền bán hàng.
Sau khi đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiiền hàng hoặc
chấp nhận nợ, hàng hoá được xác nhận là tiêu thụ.
2.2 Các phương thức bán lẻ.
Hiện nay, các doanh nghiệp thương mại thường áp dụng hai hình thức bán lẻ chủ
yếu là: bán hàng thụ tiền trực tiếp và bán hàng thu tiền tập trung .
a. Bán hàng thu tiền trực tiếp:
Theo hình thức bán hàng này, nhân viên bán hàng hoàn toàn toàn chịu trách nhiệm vật
chất về số hàng đã nhận để bán ở quầy hàng bán lẻ. Nhân viên bán hầng trực tiếp thu tiền
của khách hàng và giao hàng cho khách . Nghiệp vụ bán hàng hoanf thành trực diện với
người mua và thường không cần lập chứng từ cho nghiệp vụ bán hàng. Tuỳ thuộc vào các
yêu cầu quản lý hàng hoá bán lẻ ở các quầy hàng , cuối ca, cuối ngày nhân viên bán hầng
kiểm kê lượng hầng bán hiện còn ở quầy hành vầ dựa vào quan hệ cân đối hàng luân
5 5
chuyển (hàng hiện có) trong ca, trong ngày để xác định số lượng hàng bán ra của từng mặt
hàng, lập báo cáo bán hàng làm chứng từ kế toán. Tiền bán hàng ngày nhân viên bán hàng
kê vào giấy nộp tiền để nộp cho thủ quỹ của doanh nghiệp.
Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp phù hợp với qui mô bán lẻ nhỏ. Chứng từ làm
căn cứ ghi sổ kế toán về nghiệp vụ bán hầng trong hình thức này là ''Báo cáo bán hàng'' và
'' Giấy nộp tiền bán hàng'' do ngưòi bán hàng lập.

của khối lượng hàng hoấ luôn chỉ là: thời điểm kết thúc việc giao nhận quyền sở hữu về
hàng đó, doanh nghiệp được quyền sở hữu khoản tiền thu bán hàng hoặc khoản nợ phải thu
với khách hàng mua của mình.
3. Ý nghĩa của bán hàng đối với hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại.
Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu chuyển hàng hoá trong doanh
nghiệp thương mại. Bán hàng có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với mỗi doanh
nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Đối với bản thân các doanh nghiệp thương mại, có bán được hàng hoá thì mới có
thu nhập để bù đắp những chi phí đã bỏ ra và hình thành kết qủa kinh doanh thương mại.
Trong cơ chế thi trường hiện nay, các doanh nghiệp thương mại có thể thu mua hàng hoá
một cách đễ dàng nhưng việc bán nó lại không dễ dàng chút nào. Nếu hoạt động bán
hàng của doanh nghiệp không thông suốt sẽ làm ngừng trệ các hoạt động khác như mua
vào, dự trữ. Còn nếu hoạt động bán hàng của doanh nghiệp trôi chảy sẽ thúc đẩy các hoạt
động khác. Vì vậy có thể ví hoạt động bán hàng là tấm gương phản ánh tình hình hoạt
động chung của doanh nghiệp. Nếu mở rộng thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp, mở rộng
kinh doanh, củng cố và khẳng định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, giúp doanh
nghiệp đứng vững trong kinh doanh.
Đối với tiêu dùng, bán hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Chỉ qua
quá trình bán hàng, công dụng của hầng hoá mới được xác định hoàn toàn. Sự phù hợp
với thị hiếu tiêu dùng của người tiêu dùng đuợc khẳng định. Bên cạnh đó, bán hàng còn
góp phần hướng dẫn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Việc thúc đẩy bán hàng ở doanh
nghiệp là cơ sở để thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ các đơn vị kinh doanh khác có quan hệ
kinh tế với doanh nghiệp.
Bán hàng, xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, là điều kiện để tiến hành
tái sản xuất xã hội. Quá trình tái sản xuất gồm ba khâu: Sản xuất - Lưu thông - Tiêu dùng.
Giữa các khâu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thiếu đi một trong bán khâu quá trình
7 7
tái sản xuất sẽ không thực hiện được. Trong mối quan hệ đó, sản xuất giữ vai trò quyết
định. Tiêu dùng là mục đính, là động cơ thúc đẩy sản xuất phát triển. Lưu thông đóng vai
trò là chiếc cầu nối giữa quan hệ sản xuất và tiêu dùng, từ đó kích thích tiêu dùng và đẩy

Để đáp ứng được những yêu cầu quản lý đó nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh ở
các doanh nghiẹep thương mại, kế toán bán hàng cần phải thực hiện tốt những nhiệm vụ
sau đây:
_ Thứ nhất, ghi chép và phản ánh đầy đủ kịp thời tình hình bán hàng nói chung và của
tưng mặt hàng nói riêng. Cụ thể, kế toán phải phản ánh kịp thời, đầy đủ số hàng đã giao
cho cửa hàng.Đồng thời phải tổ chức tốt kế toán chi tiết hàng hoá trong khâu bán hàng để
đảm bảo hàng hoá trong doanh nghiệp ở đâu cũng có người chịu trách nhiệm, cũng được
phản ánh trên sổ sách kế toán về số lượng, chất lượng và giá trị hàng hoá bán ra.
_ Thứ hai, tính giá muâ thực tế của hàng hoá đã tiêu thụ. Cuối kỳ kế toán xác định đúng
đắn trị giá vốn cuẩ hàng bán, tổng thu nhập, tổng chi phí để từ đó xác định chính xác kết
quả bán hàng của đơn vị,làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả kinh doanh cũng như các
nghĩa vụ đối với nhà nước.
_ Thứ ba, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng. Trước hết là kiểm tra việc thực
hiện các chỉ tiêu về kế hoạch bán hàng, việc thực hiện tiến độ bán hàng. Kế toán cần kiểm
tra việc chấp hành chế độ bán hàng, kỷ luật thanh toán, tính hợp lý hợp pháp của các khoản
chi phí,quản lý chặt chẽ tiền hàng tránh hiện tượng vốn bị chiếm dụng bất hợp lý. Cần
thường xuyên thực hiện kiểm kê hàng hoá nhằm đối chiếu giữa số lượng hàng hoá thực tế
với hàng hoá trên sổ sách, ngăn ngừa những hiện tượng tham ô, lẫng phí, thiếu trách nhiệm
trong bảo quản hàng hoá.
_ Thứ tư, cung cấp thông tin về mọi mặt hoạt động bán hàng. Các thông tin về tình hình
bán hàng được cung cấp kịp thời, chính xác phục vụ cho việc chỉ đạo điều hành hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp; phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát của nhầ nước đối với
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Với những nhiệm vụ quan trọng trên, kế toán bán hàng giúp doanh nghiệp thương mại
phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh một cách chính xác, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động, tăng doanh thu và tối đa hoá lợi nhuận.
9 9
II. phương pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng trong các doânh nghiệp thương mại.
1. Chứng từ ghi chép ban đầu.
Tuỳ theo từng phương thức, hình thức bán hàng kế toán bán hàng sử dụng các chứng từ kế

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán.
Có TK 111,112,331.
_ Các bút toán còn lại (doanh thu, chiết khấu, giảm giá…) hạch toán giống bán hàng qua
kho.
3.2 Hạch toán nghiệp vụ bấn buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng.
_ Phản ánh trị giá mua thực tế của hàng chuyển bán thẳng:
+ Đối với hầng hoá dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
thuế, ghi:
Nợ TK 157 - Hàng gửi đi bán
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 311,11,112.
+ Đối với hàng hoá không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp, ghi:
Nợ TK 157 - Hàng gửi đi bán.
Có TK 111,112,331.
_ Khi hàng được xác định là tiêu thụ, kế toán ghi doanh thu và giá vốn giống trường hợp
bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng.
_ Các bút toán còn lại ( chiết khấu, giảm giá…) hạch toán giống bán hàng quâ kho.
3.3 Hạch toán nghiệp vụ bán lẻ hàng hoá.
_ Kế toán căn cứ vào báo cáo bán hàng và giấy nộp tiền bán hàng, phẩn ánh doanh thu bán
hàng :
+ Đối với hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, ghi:
Nợ TK 111,112,131.
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng ( giá chưa có thuế GTGT).
Có TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp.
+ Đối với hàng hoấ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp, ghi:
11 11
Nợ TK 111,112,131.
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng ( tổng gía thanh toán).

hàng bán ra tạI thời đIểm nhập kho. Chỉ trong trường hợp trong kỳ kinh doanh doanh
nghiệp không có nghiệp vụ bán vận chuỷen thẳng thì lúc đó trị giá vốn hàng xuất bán mới
bằng trị giá vốn của hàng xuất kho đã bán.
Việc tính toán trị giá vốn hàng xuất bán có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi có tính
toán đừng trị vốn hàng xuất bán mới xác định chính xác kết quả bán hàng. Hơn nữa trị giá
vốn của hàng xuất bán thường chiếm tỷ trọng chủ yếu trong trị giá vốn của hàng bán ra
trong kỳ. Do đó nếu không phản ánh đúng trị giá vốn của hàng xuất bán sẽ dẫn tới kết quả
bán hàng sẽ sai lệch nhiều.
Đối với hàng xuất bán thẳng: Do đặc đIểm của phương thức bán vận chuyển thẳng
là các lô hàng bán ra độc lập với nhau, có nghĩa là một lô hàng doanh nghiệp mua rồi bán
thẳng hoàn toàn không liên quan đến lô bán thẳng khác. Vì vậy việc tính toán trị giá vốn
của hàng bán thẳng tương đối đơn giản và đạt được độ chính xác cao.
Đối với hàng xuất kho bán ra: Hàng hoá nhập kho ở mỗi lân khác nhau thì đơn giá
nhập kho của từng mặt hàng cũng thường khác nhau, đặc biệt trong cơ chế thị trường giá
cả hàng hoá thường xuyên biến động. Vì vậy việc xác định trị giá vốn của hàng xuất kho
đã bán phức tạp hơnvà doanh nghiệp vân phảI lựa chọn phương pháp tính toán phù hợp
mới có thể xác định đúng đắn trị giá vốn của hàng xuất kho đã bán. Việc tính toán trị giá
vốn của hàng xuất kho bán ra trong kì trước hết phụ thuộc vào doanh nghiệp ghi kế toán
chi tiết hàng tồn kho theo giá mua thực tế hay theo giá hạch toán
4.1 Phương pháp tính trị giá vốn của hàng bán ra trong trường hợp doanh nghiệp kế
toán chi tiết hàng tồn kho theo giá mua thực tế.
Trường hợp này trị giá vốn của hàng xuất kho bán ra được tính theo 3 bước:
Bước1: Tính trị giá mua của hàng xúat kho bán ra trong kỳ.
Bước 2: Phân bổ chi phí mua hàng cho hàng bán ra tỉ lệ thuận với tri giá mua của
hàng luân chuyển trong kì.
Bước 3: Tính trị giá vốn của hàng xuất kho bán ra trong kỳ.
Bước 1 Tính trị giá mua của hàng hoá bán ra trong kì.
Trong bước này nhân viên kế toán phảI tính trị giá mua của từng mặt hàng xuất kho
bán ra trong kì, sau đó tổng hợp lạI để tính trị giá mua của toàn bộ hàng bán ra trong
13 13

14 14
Mỗi phương pháp tính đều có những ưu nhược đIểm riêng của nó, doanh nghiệp
cần căn cứ vào tình hình kinh doanh cụ thể của đơn vị mình để lựa chọn phương pháp
thích hợp.Tuynhiên nếu doanh nghiệp lựa chọn phương pháp nào thì phảI sử dụng phương
pháp đó trong thời gian dàI (vàI kỳ kế toán ), đồnh thời phảI diễn trình trên báo cáo tàI
chính.
Bước 2 : Phân bổ chi phí mua hàng cho bán ra tỷ lệ thuận với trị giá mua của hàng luân
chuyển trong kỳ.
Trong bước này, nhânviên kế toán phảI tiến hành phân bổ chi phí mua hàng phân bổ
cho hàng còn lạI đầu kỳ và chi phí mua hàng phát sinh trong kỳ này cho hàng xuất kho và
hàng còn lạI cuối kỳ tỷ lệ thuận với trị giá mua của hàng hoá
Ta có công thức:
Chi phí mua hàng + Chi phí mua hàng
Chi phí mua của hàng tồn đầu kỳ phát sinh trong kỳ Trị giá mua
hàng phân bổ = X của hàng xuất
cho hàng bán Trị giá mua của + Trị giá mua của bán trong kỳ
ra trong kỳ hàng tồn đầu kỳ hàng nhập trong kỳ
Bước 3 : Tính trị giá vốn của hàng xuất kho bán ra trong kỳ.
Để tính được trị giá vốn của hàng xuất kho bán ra trong kỳ, kế toán phảI tổng hợp
kết quả của bước 1và bước 2. Ta có công thức:
Trị giá vốn của Trị giá mua của Chi phí mua hàng
hàng xuất bán = hàng xuất bán + phân bổ cho hàng
trong kỳ trong kỳ bán ra trong kỳ
4.2 Cách tính trị giá vốn hàng bán trong trường hợp doanh nghiệp kế toán chi tiết hàng
tồn kho theo giá hạch toán.
Trong trường hợp này, nhân viên kế toán hàng ngày căn cứ vào tình hình nhập xuất
kho hàng hoá đẻ ghi vào bảng kê nhập, xuất, tồn kho theo giá hạch toán. cuối tháng, kế
toán dựa vào trị giá vốn và gía hạch toán của hàng hoá luân chuyển trong tháng tính được
trị giá vốn của hàng xuất kho trong tháng theo phương pháp bình quân.
Ta có công thức:

=
+
x
Giá trị hàng xuất khẩu
trong kỳ
+
Giá trị hàng cuối kỳ
16 16
(Trong đó : trị giá hàng phải được tính theo cùng một loại giá). Trị giá hàng còn lại cuối
kỳ gồm số dư TK155, 157 (đối với DNSC) và số dư TK 151,156,157 (đối với DNTMDV)
Từ đó xác định phần chi phí bán hàng phân bổ cho hàng đã bán trong kỳ theo công
thức sau
CPBH phân bổ cho hàng đã bán trong kỳ
CPBH phân bổ cho hàng còn lại trong kỳ
CPBH phát sinh trong kỳ
CPBH phân bổ cho hàng còn lại cuối kỳ
=
+
-
Tài khoản và phương pháp kế toán chi phí bán hàng
Kế toán sử dụng tài khoản 641- chi phí bán hàng - để phản ánh tập hợp và kết chuyển
các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dv bao gồm các
khoản chi phí như nội dung đã nêu ở điểm trên
Kết cấu và nôi dung phản ánh của tài khoản 641 chi phí bán hàng:
Bên nợ: các khoản CPBH thực tế phát sinh trong kỳ
Bên có: các khoản ghi giảm CPBH
Kết chuyển CPBH để xác định kết quả kinh doanh (cho hàng đã bán hoặc chờ kết
chuyển (cho hàng còn lại)
Tài khoản 641 không có số dư cuối kỳ
Tài khoản 641 có 7 tài khoản cấp 2

(4) Trích khấu hao TSCĐ dùng ở khâu bán hàng trong kỳ, kế toán ghi sổ định khoản
Nợ TK641 - Chi phí bán hàng (6414)
Có TK214 - Hao mònTSCĐ
(Đồng thời ghi đơn bên nợ TK009 - Nguồn vốn khấu hao)
(5) Chi phí bảo hành sản phẩm : Kế toán tuỳ theo từng trường hợp
18 18
a. Trường hợp doanh nghiệp không có bộ phận bảo hành độc lập. Chi phí bảo hành được
tính chung ngay cho CPBH của doanh nghiệp
a1.Nếu doanh nghiệp có trích trước sản phẩm
+ Khi trích trước chi phí bảo hành sản phẩm, kế toán ghi sổ theo định khoản:
Nợ TK641 - Chi phí bán hàng (6451)
Có TK335- Chi phí phải trả
+ Khi phát sinh chi phí thực tế về sửa chữa, bảo hành sản phẩm, kế toán ghi sổ theo định
khoản:
Nợ TK621 - CPNL, VL trực tiếp
Nợ TK622 - Chi phí nhân công trực tiếp
Nợ TK628- Chi phí sản xuất chung
Có cácTK l iên quan (111,334,152 … )
+Cuối kỳ kết chuyển các khoản mục chi phí bảo hành đã tập hợp được , kế toán ghi sổ theo
định khoản
Nợ TK154 - Chi phí SXKD dở dang (Chi tiết : Chi phí bảo hành)
Có T K liên quan (621, 622,627)
+ Khi sửa chữa bảo hành xong bàn giao sản phẩm cho khách hàng, kế toán ghi sổ theo định
khoản "
Nợ TK154 - Chi phí phải trả
Có T K 154 - Chi phí SXKD dở dang (Chi tiết : Chi phí bảo hành)
+Khi hết thời hạn bảo hành so điều chỉnh lại số liệu đã trích theo chi phí bảo hành thực tế kế
toán ghi sổ theo định khoản sau đó đối với số chênh lệch:
Nợ TK641 - Chi phí bán hàng (6451)
Có TK335- Chi phí phải trả

Có T K 154 - Chi phí SXKD dở dang (Chi tiết1 …)
Đồng thời phản ánh số doanh thu về lao vụ này mà cấp trên hay đơn vị có sản phẩm phải
bảo hành phải trả, kế toán ghi sổ theo định khoản
Nợ TK111 - Tiền mặt
Có TK152 - Doanh thu bán hàng nội bộ
b2. Hoạc toán ở bộ phận có sản phẩm phải bảo hành: Chi phí bảo hành là một bộ phận trong
chi phí bán hàng
- Trường hợp trích trước chi phí bảo hành
+ Khi trích trước chi phí bảo hành sản phẩm, kế toán ghi:
20 20
Nợ TK641 - Chi phí bán hàng
Có TK335 - Chi phí phải trả (6451)
+ Số tiền trả cho bộ phận bảo hành độc lập , kế toán ghi sổ
Nợ TK335 - Chi phí phải trả
Có TK111- Tiền mặt
Có TK336 - Phải trả nội bộ
+ Khi hết thời hạn bảo hành, điều chỉnh số trích trước theo chi phí bảo hành thực tế tương tự
như đã trình bày ở điểm a1
- Trường hợp không trích trước chi phí bảo hành
+ Số tiền trả cho bộ phận bảo hành độc lập , kế toán ghi sổ
Nợ TK641 - Chi phí bán hàng
Có TK111- Tiền mặt
Có Tk336 - Phải trả nội bộ
(6) Chi phí bảo hành hàng hoá: Cũng được hoạch tóan tuỳ theo trường hợp cụ thể
a. Trường hợp doanh nghiệp không có bộ phận bảo hành độc lập
a1.Nếu doanh nghiệp không có chi phí bảo hành hh
+ Khi trích trước chi phí bảo hành hàng hoá, kế toán ghi sổ theo định khoản:
Nợ TK641 - Chi phí bán hàng (6451)
Có TK335- Chi phí phải trả
+ Khi phát sinh chi phí bảo hành thực tế, kế toán tập hợp vào sổ đã trích trước, kế toán ghi

Có TK331 - Phải trả cho người bán
Có TK241 - XDCB dở dang
(9) Trường hợp doanh nghiệp không có kế hoạch trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ nhưng
chi phí sửa chữa thực tế phát sinh một lần có giá trị lớn và liên quan đến quá trình tiêu thụ
nhiều kỳ hoạch toán, kế toán tập hợp vào bên Nợ TK141 -- Chi trả trước (1421), định kỳ kế
phân bổ vào CPBH ghi sổ theo định khoản
Nợ TK641 - Chi phí bán hàng
Có TK142 - Chi phí trả trước
(10) Các chi phí bằng tiền khác, ngoài các khoản đã kể trên, như chi tiền mặt cho hội nghị
khách hàng, thông tin quảng cáo sản phẩm, chào hàng, … phát sinh trong kỳ kế toán ghi sổ
theo định khoản
Nợ TK641 - Chi phí bán hàng (6418)
Có TK111 - Tiền mặt
22 22
Có TK112 - Tiền giử ngân hàng
(11) Các khoản được ghi giảm chi phí bán hàng thực tế phát sinh (nếu có) như phế thu
hồi… kế toán ghi sổ theo định khoản
Nợ TK111 - Tiền mặt
Nợ Tk112 - Tiền gửi trong ngân hàng
Có TK641 - Chi phí bán hàng
(12) Cuối kỳ hạch toán xác định kết chuyển CPBH để xác định kết quả kinh doanh, kế toán
ghi sổ theo định khoản
Nợ TK911 - xác định kết quả kinh doanh
Có TK641 - Chi phí bán hàngư
(13) Trường hợp phải phân bổ CPBH cho số sản phẩm hàng hoá còn lại cuối cùng kỳ (chưa
tiêu thụ) trên cơ sở xác định số phân bổ sản phẩm, hàng hoá còn lại, kế toán ghi sổ theo định
khoản
Nợ TK142 - Chi phí trả trước
Có TK641 - Chi phí bán hàng
Đến kỳ kế toán sau, khi có sản phẩm hàng hoá tiêu thụ sẽ kết chuyển bộ phận CPBH

8. Chi phí bằng tiền khác:
Các khoản chi khác bằng tiền ngoài các khoản đã kể trên như chi hội nghị, tiếp
khách, chi công tác phí, chi đào tạo cán bộ, trả lãi cho vay cho SXKD
Chi phí quản lý doanh nghiệp là loại chi phí gián tiếp sc kinh doanh cần được dự tính
(lập dự toán) và quản lý chi tiêu tiết kiệm, hợp lý. Hoạt động quản lý doanh nghiệp liên quan
đến mọi hoạt động trong doanh nghiệp. Do vậy cuối kỳ cần được tính toán phân bổ- kết
chuyển để xác định kết quả kinh doanh. Trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất dài trong
kỳ không có hoặc có ít sản phẩm tiêu thụ hoặc định khoản thương mại có dự trữ hàng hoá
giữa các kỳ có biến động lớn chi phí quản lý doanh nghiệp cũng cần tính toán phân bổ cho
sản phẩm, hàng hoá còn lại chưa tiêu thụ cuối kỳ tương tự như đã trình bày đối với chi phí
bán hàng
Tài khoản và phương pháp kế toán chi phí QLDN
Kế toán sử dụng tài khoản 642 - Chi phí QLDN để phản ánh tập hợp và kết chuyển
các chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí khác liên quan đến hoạt động
chung của doanh nghiệp
24 24
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK642 - COQLDN
Bên nợ : Các khoản chi phí QLDN Thực tế phát sinh trong kỳ
Bên có :Các khoản ghi giảm chi phí QLDN
- Kết chuyển chi phí QLDn để xác định kết quả kinh doanh hay để chờ kết chuyển
Tài khoản 642 không có số dư cuối kỳ
Tài khỏan 642 có 8 tài khoản cấp 2
- TK6421 - Chi phí nhân viên quản lý
- TK6422 - Chi phí vật liệu quản lý
- TK6423 - Chi phí đồ dùng văn phòng
- TK6424 - Chi phí khấu hao TSCĐ
- TK6425 - Chi phí v à lệ phí
- TK6426 - Chi phí dự phòng
- TK6427 - Chi phí dịch vụ mua ngoài
- TK6428 - Chi phí bằng tiền khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status