CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ
DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THEO TIẾP CẬN
NĂNG LỰC
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Việc QLDH các môn học ở trường phổ thông là nhiệm vụ
quan trọng của CBQL trong nhà trường. Vì thế, nếu có được
phương pháp quản lí tốt sẽ làm cho cả bộ máy hoạt động với hiệu
quả cao, chất lượng giáo dục được đảm bảo đáp ứng với yêu cầu
và mục tiêu đề ra, góp phần nâng cao chất lượng chung của nước
nhà.
Ở Việt Nam , giáo dục cũng đang đứng trước những xu thế
mới và những thách thức mới. Đã có nhiều công trình nghiên cứu
về hoạt động QLGD trong và ngoài nước, bên cạnh những công
trình nghiên cứu có tính chất tổng quan về QLGD thì các công
trình nghiên cứu về quản lí nhà trường, quản lí các hoạt động giáo
dục ngày chiếm vị trí quan trọng bởi đó là nơi để giáo dục và đào
tạo cho thế hệ trẻ trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Các tác giả, các nhà nghiên cứu, các nhà QLGD như: Đặng
Quốc Bảo, Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Đức Chính, Đặng Bá
Lãm, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Xuân Hải,
Nguyễn Thị Phương Hoa, Vũ Thị Lan Hương…đã có nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề quản lí giáo dục, quản lí nhà
trường,...Các công trình này đi sâu vào lí luận QLGD nói chung,
còn ở phương diện quản lí cụ thể một môn học trong đó có môn
Toán ở cấp THPT thì chưa được nghiên cứu nhiều.
kết hợp với các thành viên trong tập thể cùng hướng tới mục tiêu
chung đã đề ra.
Trong các nghiên cứu khoa học, đã có rất nhiều cách tiếp cận
khác nhau về khái niệm quản lí. Sau đây là một số khái niệm
thường gặp:
Theo tác giả Trần Kiểm:
“Quản lí là những tác động hoạch định của chủ thể quản lí
trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các
nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức( chủ
yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với
hiệu quả cao nhất” [25, tr.74].
Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “Quản lí là sự tác động có tổ
chức có hướng đích của chủ thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu
đề ra” [19].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo:
“Công tác quản lí lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực
hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá
trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn
định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào
thế “phát triển”.[2,tr.78]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát
rằng quản lí là một quá trình tác động có định hướng, có kế hoạch
để gây ảnh hưởng lên đối tượng quản lí của chủ thể quản lí nhằm
sử dụng hiệu quả các tiềm năng làm cho tổ chức được vận hành
tốt và đạt được các mục tiêu mà tổ chức đã đề ra.
Quản lí có các thành phần: chủ thể quản lí, đối tượng bị quản
lí, khách thể quản lí, mục tiêu quản lí có mối liên hệ với nhau tạo
nên hoạt động của một bộ máy.
nhất về 4 chức năng cơ bản của quản lí, đó là:
Kế hoạch hóa: là xác định mục tiêu của tổ chức, xác định các
nguồn lực, các biện pháp và cách thức để hoàn thành được mục
tiêu đề ra.
Tổ chức: Bao gồm tổ chức bộ máy và tổ chức công việc, là
quá trình biên chế, cơ cấu và sắp xếp nguồn nhân lực cho phù hợp
để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra.
Chỉ đạo thực hiện: là quá trình tác động ảnh hưởng hành vi,
thái độ đến những người khác để họ phục tùng và làm việc đúng
với kế hoạch, đúng với nhiệm vụ được phân công nhằm đạt tới
các mục tiêu với chất lượng cao; tạo động lực để con người tích
cực hoạt động bằng các biện pháp động viên, khen thưởng kể cả
trách phạt.
Kiểm tra: Là thu thập thông tin ngược để kiểm soát hoạt
động của bộ máy nhằm điều chỉnh kịp thời các sai sót, lệch lạc để
bộ máy đạt được mục tiêu của tổ chức.
Thông tin là một yếu tố rất quan trọng, rất cần thiết cho các
chức năng trên. Thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời là một căn
cứ để hoạch định kế hoạch; thông tin và chuyển giao thông tin
phục vụ cho hoạt động quản lí, thông tin tạo mối liên hệ giữa các
bộ phận với nhau trong tổ chức; thông tin định hướng cho các
quyết định quản lí và là nguyên liệu cho các quyết định quản lí,
thông tin được chuyển tải và phản hồi từ nhà quản lí đến các cá
nhân, các bộ phận trong tổ chức và ngược lại. Nhờ thông tin, các
cá nhân và tổ chức có cơ sở để xem xét, đánh giá các hoạt động
đang diễn ra đạt được mức độ nào để có sự điều chỉnh kịp thời
nhằm được mục tiêu để ra.
Các chức năng nêu trên thành lập chu trình QL. Chủ thể QL khi
… nhằm tranh thủ các nguồn lực vốn có, huy động và sử
dụng có hiệu quả, tạo động lực thúc đẩy quá trình dạy học
của nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà
trường theo nhiệm vụ, yêu cầu trong năm học. Quản lí
hoạt động dạy là quản lí sự lao động của các cán bộ quản
lí, giáo viên, giảng viên, nhân viên và người học trong nhà
trường. Trên cơ sở pháp lý và thực tiễn, người Hiệu
trưởng cần thực hiện các chức năng quản lí trong quản lí
hoạt động dạy học, cụ thể là: phải xây dựng kế hoạch năm
học; phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy HĐ trong nhà
trường; chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu, chương trình dạy
học; chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy học. Ngoài ra, Hiệu
trưởng cần chỉ đạo các hoạt động bồi dưỡng năng lực sư
phạm cho GV; Tạo sự gắn kết và phối, kết hợp giữa các cá
nhân với bộ phận; chỉ đạo việc đổi mới PPDH; chỉ đạo
hoạt động KT-ĐG kết quả DH và kế hoạch thực hiện
nhiệm vụ năm học.
c) Mục tiêu quản lí hoạt động dạy
Quản lí hoạt động dạy học có mục tiêu đảm bảo thực hiện đầy
đủ các kế hoạch, đào tạo, chương trình và nội dung giảng dạy
theo đúng tiến độ, thời gian quy định; đảm bảo hoạt động dạy
học đạt chất lượng, hiệu quả cao.
d) Nội dung quản lí hoạt động dạy
Gồm hai nội dung chính: Quản lí mục tiêu, nội dung dạy học và
quản lí chất lượng.
- Quản lí dạy học môn Toán
Quản lí hoạt động dạy học môn Toán là quá trình người
CBQL quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên Toán,
Năng lực là một khái niệm trừu tượng, đa nghĩa, do đó, có
nhiều cách phát biểu về khái niệm năng lực. Có thể phân làm
hai nhóm chính:
Nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động
để định nghĩa: “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến
thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động
một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng
của cuộc sống.” (Đinh Quang Báo, 2012); “Năng lực của một
người trong một lĩnh vực nào đó không phải tự nhiên mà có,
mà phần lớn là do công tác, do luyện tập mới có được.”
Nhóm lấy dấu hiệu tố chất về tâm lý để định nghĩa: “Năng lực
là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính
tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một HĐ xác
định, đảm bảo cho HĐ đó có kết quả tốt đẹp.”, “Năng lực được
xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là
các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh
nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí.”
Tóm lại, năng lực là khả năng tổ chức và kết hợp một cách hợp
lí các kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ của chủ thể nhằm
giải quyết một cách có hiệu quả các yêu cầu được đặt ra trong
một tình huống, bối cảnh nhất định. Đặc điểm của năng lực là
đề cập đến xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công
việc cụ thể do con người thực hiện. Biểu hiện rõ nhất của năng
lực là biết sử dụng các kiến thức và kĩ thuật của cá nhân để giải
quyết vấn đề trong một tình huống cụ thể chứ không phải là
tiếp thu lượng tri thức rời rạc
cảnh; biết lường trước các khó khăn để có những phương án dự
phòng, xem xét từ nhiều góc độ khi tìm kiếm giải pháp và triển
khai các ý tưởng; Lập luận về quá trình suy nghĩ, xem xét các
quan điểm trái chiều và phát hiện các điểm hạn chế trong quan
niệm của mình; xác định, lập kế hoạch áp dụng vào hoàn cảnh
mới.
Năng lực sử dụng công nghệ thông tin: Sử dụng một số phần
mềm chuyên dụng để mô hình hóa các kết quả xảy ra.
Năng lực sử dụng ngôn ngữ và kí hiệu Toán: Sử dụng ngôn ngữ
khoa học để diễn tả quy luật; Sử dụng bảng biểu, đồ thị để diễn
tả, phân tích các mẫu số liệu; Đọc hiểu được đồ thị bảng biểu;
Thu thập, xử lý và lập được bảng mô tả bảng số liệu thu thập
được; Vẽ được đồ thị từ bảng số liệu cho trước; Đưa ra các lập
luận lô-gic, biện chứng.
Năng lực tính toán: Phát hiện được các quy luật và đưa ra các
công thức toán học cho các quy luật; Sử dụng các kiến thức và
kĩ năng toán học cơ bản để làm nền tảng cho việc phát triển các
năng lực chung cũng như năng lực riêng đối với môn Toán; Suy
luận từ kiến thức đã biết ra hệ quả hoặc kiến thức mới.
Năng lực thực hành trong Toán học: Sử dụng thành thạo các đồ
dùng học tập; Tiến hành thực hiện các dự án, thu thập kiến thức
cơ bản để hiểu được các quy luật tự nhiên; Sử dụng thành thạo
các chức năng của máy tính để hổ trợ giải quyết nhanh các vấn
đề trong Toán học.
Năng lực vận dụng kiến thức Toán vào thực tiễn: hiểu được
nguồn gốc thực tiễn, thấy được ứng dụng rộng rãi của toán học
trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Biết cách sắp xếp, làm việc
khoa học, có kế hoạch, hệ thống, có thói quen thích tìm tòi,
học dự kiến phải làm hơn là nhắm tới những gì mà họ cần
phải học được.
- Lí luận về dạy học môn Toán theo hướng tiếp cận năng lực
- Mục tiêu dạy học môn Toán theo hướng tiếp cận năng lực
Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đổi mới
chương trình và sách giáo khoa thì mục tiêu dạy học môn Toán
một mặt kế thừa những giá trị cối lõi đã định hình, một mặt thể
hiện những yêu cầu mới. Những yêu cầu mới đặt ra theo tiếp
cận năng lực được phản ánh ở các lĩnh vực mục tiêu bộ phận.
Mục tiêu kiến thức: Ngoài các yêu cầu về mức độ như nhận
biết, tái hiện kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận
dụng kiến thức trong các tình huống cụ thể, giải quyết các
nhiệm vụ, các vấn đề gắn với thực tế.
Mục tiêu kĩ năng: Yêu cầu HS đạt được ở mức độ phát triển kĩ
năng thực hiện các hoạt động đa dạng. Các mục tiêu này đạt
được thông qua các hoạt động trong và ngoài nhà trường: Biết
quan sát các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong đời sống
hằng ngày; biết điều tra, sưu tầm, tra cứu, nghiên cứu tài liệu từ
các nguồn khác nhau để thu thập và xử lý thông tin cần thiết
cho việc học tập môn Toán. Sử dụng được các dụng cụ, đồ
dùng học tập phổ biến của Toán học. Biết phân tích, phán đoán,
tổng hợp, trình bày và xử lí các mẫu số liệu, thông tin thu được
để rút ra kết luận, đưa ra các dự đoán về các mối quan hệ hay
về bản chất của các sự vật, hiện tượng. Biết mô tả, giải thích,
giải các bài tập Toán và giải quyết các vấn đề đơn giản trong
thực tiễn ở mức độ phổ thông.
chung và năng lực môn Toán theo các mức độ khác nhau trong
môi trường lớp học cũng như ngoài thực tiễn. Vì vậy, việc
giảng dạy phải đi kèm với nghiên cứu, phám phá, tìm tòi, mở
rộng các hình thức tổ chức dạy học và cải tiến, bổ sung các
phương tiện, đồ dùng dạy học.
- Lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực của
học sinh trong dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ
thông
Quy trình tổ chức hoạt động dạy học theo định
hướng phát
triển năng lực môn Toán: Căn cứ vào mục tiêu của
việc PTNL cho học sinh trong Toán có thể xây
dựng quy trình tổ chức PTNL môn Toán cho HS
gồm 5 bước sau:
Xác định các năng lực và mục tiêu cần đạt của năng lực
Xác định PP và hình thức tổ chức DH
Lập kế hoạch DH
Chuẩn bị lên lớp
Tổ chức HĐDH
Lên lớp
Kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện
Sau khi lên lớp
Việc tổ chức HĐDH nhằm triển khai kế hoạch đã được lập
trước đó, đồng thời có những bước điều chỉnh phù hợp trong
quá trình thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành đúng mục tiêu
của bài dạy học. Trong đó, ba yếu tố: người dạy – người học và
môi trường luôn tương tác lẫn nhau, đòi hỏi người dạy phải biết
khéo léo tổ chức cho học sinh khai thác yếu tố môi trường, làm
cho việc dạy học gắn liền với cuộc sống, được như vậy sẽ làm
tăng tính hứng thú cho học sinh và điều đó sẽ dẫn đến kết quả
có thể thành công ngoài mong đợi.
b) Nội dung hoạt động dạy học theo định hướng phát triển
năng lực môn Toán
Bảo đảm thực hiện đầy đủ các kế hoạch đào tạo, các mục
tiêu, chương trình, nội dung giảng dạy theo đúng tiến độ thời
gian quy định.
Bảo đảm quá trình DH đạt chất lượng cao; thực hiện theo
đúng quy chế chuyên môn; các kế hoạch, hồ sơ giáo án phải
đảm bảo theo quy định chung của các cấp.
Nắm vững chương trình, nội dung và phạm vi kiến thức
của môn học, cấp học; Dạy đúng, đủ các môn học theo quy
định của phân phối chương trình, tổ chức DH theo chuẩn kiến
thức, kĩ năng của môn học.