Các giải pháp đổi mới quản lý dạy học thực hành theo tiếp cận năng lực thực hiện cho sinh viên sư phạm kỹ thuật tt - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

NGUYỄN NGỌC HÙNG


CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 62140501

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS - TS. ĐẶNG BÁ LÃM
PGS - TS. NGUYỄN ĐỨC TRÍ HÀ NỘI - 2006

- 3 -

MC LC
Trang
Trang ph bỡa 1
Lời cam đoan 2
Mục lục 3
Những cụm từ viết tắt trong luận án 5
Danh mục các bảng 6

2.3.2. Về cơ cấu thời l-ợng thực hành, thực tập 88
2.3.3. Sự phù hợp của các KNTH trong ch-ơng trình DHTH 91
2.3.4. Quản lý ph-ơng pháp dạy học thực hành 92

- 4 -

2.3.5. Các hình thức tổ chức thực tập ngoài tr-ờng 98
2.3.6. Về cơ sở vật chất 99
2.3.7. Quản lý kiểm tra, đánh giá kỹ năng thực hành trong DHTH 100
2.4. Những yếu kém và nguyên nhân 101
2.4.1. Những yếu kém 101
2.4.2. Nguyên nhân 102
Ch-ơng 3 - Các giải pháp Đổi mới quản lý dạy học thực hành
theo tiếp cận năng lực thực hiện
cho sinh viên s- phạm kỹ thuật 105
3.1. Mục tiêu phát triển đội ngũ GVDN đến năm 2010 105
3.1.1. Mục tiêu chung 105
3.1.2. Mục tiêu cụ thể 106
3.1.3. Ph-ơng h-ớng xây dựng và phát triển đội ngũ GVDN 107
3.2. Những nguyên tắc đổi mới quản lý DHTH theo tiếp cận NLTH 109
3.2.1. Đảm bảo tính đồng bộ 109
3.2.2. Đảm bảo tính thực tiễn 110
3.2.3. Đảm bảo tính khả thi 111
3.3. Các giải pháp đổi mới quản lý DHTH theo tiếp cận NLTH 111
3.3.1. Giải pháp 1: Đổi mới quản lý mục tiêu, nội dung ch-ơng trình
DHTH theo tiếp cận NLTH 113
3.3.2. Giải pháp 2: Đổi mới quản lý ph-ơng pháp DHTH theo tiếp cận
NLTH cho đội ngũ GV các chuyên ngành kỹ thuật 126
3.3.3. Giải pháp 3: Đổi mới quản lý quá trình luyện tập kỹ năng thực hành
nghề theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT 135

đến 12.000 giáo viên (GV) với gần 400 ngành nghề khác nhau chưa có nơi
đào tạo. Người GVDN không chỉ có kiến thức vững về chuyên môn kỹ
thuật cũng như kỹ năng sư phạm, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng quản lý mà
còn phải có NLTH các hoạt động nghề nghiệp. Song, việc quản lý (QL) rèn
luyện kỹ năng thực hành (KNTH) và nâng cao NLTH cho sinh viên (SV)
ngay trong quá trình đào tạo đang là một bất cập ở các trường SPKT. Do
đó, cần nghiên cứu vận dụng phương thức đào tạo theo tiếp cận NLTH ở
nước ta, trước hết là vào các trường SPKT, đặc biệt ở khâu QL dạy học
thực hành (DHTH) để đào tạo GVDN cho hệ thống Giáo dục nghề nghiệp
(GDNN).
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Đề xuất các giải pháp đổi mới QL DHTH theo
tiếp cận NLTH cho SV SPKT.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu: DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu: Các giải pháp quản lý DHTH theo tiếp cận
NLTH cho SV SPKT.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC: Hiện nay, việc QL DHTH tại các trường SPKT
còn nhiều yếu kém trên các mặt nội dung, phương pháp, phương tiện và
cách thức tổ chức thực hiện đã dẫn đến tình trạng SV tốt nghiệp GVDN
chậm thích ứng với thực tiễn, bỡ ngỡ khi hướng dẫn thực hành và chậm

- 2 -
phát triển NLTH. Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới QL DHTH
theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT thì sẽ góp phần nâng cao được chất
lượng đào tạo tại các trường SPKT.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV
SPKT.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng QL DHTH tại các trường SPKT.
5.3. Đề xuất các giải pháp đổi mới QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho

thực nghiệm khoa học.
8.2. Về thực tiễn: Luận án đã đề xuất và thực nghiệm ba giải pháp đổi
mới QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT. Nội dung của việc đổi
mới đảm bảo được các nguyên tắc chủ yếu phải mang tính đồng bộ, tính
thực tiễn và tính khả thi bao gồm các nội dung đổi mới QL DHTH về: 1/
Xây dựng được nội dung, chương trình đào tạo ngành Cơ khí - Hàn dựa
trên phương pháp mới theo kỹ thuật DACUM đã đảm bảo tính khoa học,
cơ bản coi trọng DHTH theo tiếp cận NLTH từ yêu cầu của thực tiễn đào
tạo GVDN cho các cơ sở dạy nghề. Nội dung của chương trình đã phù hợp
với khung chương trình đào tạo trình độ cao đẳng của Bộ GD&ĐT. 2/ Bồi
dưỡng kỹ năng dạy thực hành theo tiếp cận NLTH cho đội ngũ GV chuyên
ngành kỹ thuật thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyển giao kỹ năng
dạy thực hành. 3/ Thực nghiệm đối chứng cho SV SPKT thuộc các chuyên
ngành kỹ thuật với các bài KNTH tiếp cận NLTH được biên soạn theo
phương pháp 4D gồm: Xác định chính xác tên năng lực; Lập phiếu 4D;
Phiếu hướng dẫn thực hiện; Phiếu giao bài tập theo nhóm. Kết quả thu
được bằng việc phân tích kết quả định tính, định lượng qua các phiếu đánh
giá NLTH của từng ngành đào tạo theo phương pháp toán thống kê: Lập
bảng phân phối, bảng tần suất hội tụ, vẽ các đường đặc trưng phân phối,
tính các tham số đặc trưng thống kê. Đã chứng tỏ việc QL DHTH theo tiếp
cận NLTH cho SV SPKT là có tính khoa học và có tính khả thi trong thực
tiễn.
9. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm các phần mở đầu, ba chương, kết luận, thư mục tài
liệu tham khảo, phụ lục, 16 bảng biểu, 9 sơ đồ, biểu đồ và đồ thị.
Phần mở đầu được trình bày từ trang 8 đến 18.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV
SPKT được trình bày từ trang 19 đến 65.
Chƣơng 2: Thực trạng QL DHTH tại các trường SPKT được trình bày
từ trang 66 đến 99.

Giai đoạn từ 1980 đến nay: Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 ở Mỹ và
Canada, phương thức đào tạo theo tiếp cận NLTH đã được ứng dụng. Năm
1983, Viện Hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ cho rằng, việc xây dựng các
chương trình đào tạo nghề thủ công cần phải đào tạo theo tiếp cận NLTH.
Ngoài việc sử dụng các phương tiện dạy học một cách hợp lý đồng thời
cải tiến PPDH theo tiếp cận NLTH để cung cấp tốt hơn những biện pháp tạo
điều kiện thuận lợi về mặt tâm lý cho người học nhằm nắm vững kỹ năng
hành nghề. Ở Canada, người ta cho rằng chất lượng kỹ năng hành nghề có
mối quan hệ logic với sự thực hiện hơn là thời gian học. Vì vậy, cần đầu tư
nhiều hơn cho phương thức đào tạo theo tiếp cận NLTH và tiến hành song
song với việc xây dựng các chuẩn quốc gia về đào tạo nghề nghiệp. Ở Úc,

- 5 -
vào cuối thập kỷ 80, đã thiết lập ra một hệ thống đào tạo theo tiếp cận NLTH
ổn định trong toàn quốc. Ở nhiều nước Châu Á như Singapore, Ấn Độ,
Philippin, Bruney, Malaysia, v.v…phương thức đào tạo nghề theo tiếp cận
NLTH cũng đã và đang được vận dụng ở các mức độ khác nhau.
1.1.2. Ở trong nƣớc: Trong lĩnh vực SPKT, phương thức đào tạo GVDN đã
được đặt ra từ thập kỷ 70. Công việc đó đã gắn liền với việc hình thành, phát
triển các trường đào tạo GVDN trước đây và SPKT ngày nay. Từ những năm
1980, đã có những công trình nghiên cứu đào tạo nghề theo môđun dựa vào
nguồn tài liệu của ILO và một số nước như Úc, Mỹ, Nga, Hà Lan. Trong
những năm gần đây, nhiều cơ sở DN đã tiến hành vận dụng phương thức đào
tạo theo môđun kỹ năng hành nghề thực hiện dưới dạng tổ hợp các đơn
nguyên học tập như ILO khởi xướng và phổ biến rộng rãi trên thế giới. Cách
đào tạo này về thực chất là một dạng của phương thức đào tạo tiếp cận
NLTH. Công trình nghiên cứu "Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên NLTH và
việc xây dựng tiêu chuẩn nghề" (đề tài cấp Bộ B93 - 38 - 24) (1996) là thể
hiện rõ nét phương thức về đào tạo nghề theo tiếp cận NLTH. Từ tổng quan
vấn đề nghiên cứu còn cho thấy các công trình đã đi vào tìm hiểu để giải

giá các hoạt động tại chỗ làm việc [5,tr 9]. Ở Mỹ, NLTH được hiểu " không
phải là các công việc của nghề, (nhưng mà) nó là cái làm cho con người có thể
làm được các nhiệm vụ của công việc đó". NLTH là thuộc tính tâm lý cơ bản
của một con người, nó dẫn đến sự thực hiện một cách hiệu quả nhiệm vụ lao
động trong một nghề [75]. Người ta rèn luyện các NLTH trong quá trình học
tập Theo G.Debling “NLTH” là khả năng thực hiện các hoạt động trong
phạm vi nghề nghiệp đạt tới các trình độ, mức độ thực hiện mong đợi cần thiết
[74]. Theo B. Mansfield thì "NLTH" được hiểu là khả năng thực hiện được
toàn bộ vai trò lao động hay phạm vi công việc theo các tiêu chuẩn mong đợi ở
công việc trong các môi trường làm việc thực [78] [18, tr 10]. Kết quả nghiên
cứu đề tài: “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên NLTH và việc xây dựng tiêu
chuẩn nghề”, tập thể các nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về NLTH là khả
năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu
chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó [5, tr 14]. Như vậy, theo
chúng tôi hiểu NLTH là khả năng hoàn thành các hoạt động nghề trên cơ sở
kiến thức, kỹ năng, thái độ theo tiêu chuẩn đặt ra ở hoạt động đó.
1.2.5. Quản lý: Khi nói đến QL, người ta phải đề cập đến chủ thể và đối
tượng QL. Chủ thể và đối tượng QL đều có thể là người hoặc tổ chức do
con người lập nên. Trên cơ sở tiếp cận hệ thống đối với QL giáo dục,
chúng ta có thể có quan niệm chung cho rằng QL là quá trình lập kế
hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hành và kiểm tra công việc của các thành viên
thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt
được các mục đích đã định [39].
1.2.5.1. Vai trò của quản lý: Các nhà lý luận khởi đầu cho khoa học QL
như Taylor (1856 - 1915) - Mỹ; Fayol (1841 -1925) - Pháp; Max Weber

- 7 -
(1864 - 1920) - Đức đều khẳng định rằng QL là khoa học và đồng thời là
nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. Vì vậy, ở khía cạnh này, có thể
khẳng định rằng trong thực tại QL còn được xem là công nghệ - công

và được đánh giá như là kết quả học tập của người học. Người học thật sự
được coi là trung tâm do vậy, họ có cơ hội để phát huy tính tích cực, chủ

- 8 -
động của mình.
 Đào tạo theo tiếp cận NLTH được bao gồm các tác động dạy và học,
các đánh giá và xác nhận NLTH. Do có sự định hướng đầu ra nên muốn
xây dựng một chương trình đào tạo theo tiếp cận NLTH thì trước hết phải
xác định các NLTH mà người học cần phải nắm vững như là kết quả đầu ra
của quá trình đào tạo. Các NLTH được xác định từ việc phân tích nghề do
một Tiểu ban hay Hội đồng gồm những người đang hành nghề thành thạo
trong thực tế và những người QL trực tiếp của họ tiến hành theo quy trình
DACUM (Development of A Curriculum). Các NLTH được trình bày dưới
dạng các công việc thực hành hoặc dưới dạng các hành vi về mặt kiến thức,
kỹ năng và thái độ, tình cảm liên quan đến nghề. Việc dạy và học các
NLTH được thiết kế, thực hiện sao cho các tài liệu dạy học thích hợp với
NLTH. Kiến thức lý thuyết phải được học ở mức độ cần thiết đủ để hỗ trợ
cho việc hình thành và phát triển NLTH. Sự nắm vững các NLTH của người
học được đánh giá và xác nhận theo các quan điểm như: Người học phải thực
hành các công việc theo cách thức giống như của người lao động thực hiện
trong thực tiễn nghề nghiệp; Đánh giá riêng rẽ từng người; Các tiêu chuẩn
dùng trong việc đánh giá được đặt ra ở mức tối thiểu; Các tiêu chuẩn dùng cho
đánh giá được công bố công khai cho người học biết trước khi kiểm tra, thi cử.
 So sánh đào tạo truyền thống và đào tạo theo tiếp cận NLTH: Đòi hỏi
khách quan và đổi mới quản lý dạy học trong việc thiết kế một chương trình
đào tạo, chúng ta thường dựa vào 3 yếu tố là nội dung, thời gian và kết quả sự
thành thạo. Các trường SPKT thường dựa vào khung thời gian đào tạo cho mỗi
trình độ, nghề để xây dựng chương trình cũng như yêu cầu về mức độ thành
thạo không cho vượt khỏi khung thời gian đã quy định sẵn Đào tạo theo tiếp
cận NLTH không quy định về thời gian học tập, được phép tích luỹ tín chỉ, có

1.4.2.1. Quản lý mục tiêu DHTH: Thực chất của việc này là xác định
hướng đi của quá trình DHTH không để nó chệch hướng mục tiêu đã xây
dựng, phải kịp thời điều chỉnh khi cần thiết đồng thời nhà QL phải thấy rõ
mối quan hệ giữa mục tiêu DHTH với các thành tố của quá trình đào tạo.
Cái đích cuối cùng cần đạt được của người học sau quá trình đào tạo tựu
chung ở ba thành tố cơ bản là kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Về kiến thức có 6 cấp trình độ: 1- Biết được; 2- Hiểu được; 3- Vận
dụng được; 4- Phân tích được; 5- Tổng hợp được; 6- Đánh giá được.
Về kỹ năng có 5 cấp trình độ: 1- Bắt chước được; 2- Làm được; 3- Làm
được chính xác; 4- Làm được thuần thục; 5- Biến hoá được.
Về thái độ đối với các mối quan hệ xã hội, nghề nghiệp, tính kỷ luật, tác
phong công nghiệp
1.4.2.2. Quản lý nội dung DHTH: Là QL tổng hợp hệ thống kiến thức
văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, các chuẩn mực về thái độ - nhân
cách, các kỹ năng lao động chung và chuyên nghiệp cần thiết để hình thành
những phẩm chất, năng lực nghề nghiệp phù hợp với một loại hình lao

- 10 -
động cụ thể. Vậy QL nội dung đào tạo chính là QL các yếu tố để phát triển
tri thức đối với người học, góp phần tăng cường NLTH đối với ngành nghề
cụ thể trong tương lai.
1.4.2.3. Quản lý phương pháp và phương tiện DHTH: QL PPDH là QL
những cách thức hoạt động có quan hệ qua lại theo một trình tự nhất định
giữa GV và SV nhằm đạt được mục tiêu đào tạo mà cụ thể là giúp cho SV
nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thế giới quan, thái độ
nghề nghiệp một cách đúng đắn. Khi dạy học, GV cần biết lựa chọn và vận
dụng phương pháp hợp lý, tùy thuộc vào trình độ cần đạt tới. Trong mọi
hoạt động QL, đặc biệt QL hoạt động dạy học, cần tìm chọn phương pháp
thích ứng với mục đích và nội dung.
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục đã cho thấy

sở cho việc khảo sát, điều tra thực trạng QL DHTH trong các trường
SPKT.
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DẠY HỌC THỰC HÀNH
TẠI CÁC TRƢỜNG SƢ PHẠM KỸ THUẬT
2.1. VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO GVKT - DN TẠI CÁC TRƢỜNG SPKT
2.1.1. Quy mô và ngành nghề đào tạo của các trƣờng, khoa SPKT
Khảo sát kết quả về đào tạo GVDN trong 3 năm học gần đây tại trường
CĐSPKT NĐ, Vinh, Vĩnh Long cho thấy qui mô đào tạo GVDN còn rất
nhỏ bé, chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm từ 1200 đến 1500 SV.
2.1.2. Về quản lý đào tạo GVDN
2.1.2.1. Quản lý mục tiêu đào tạo và chương trình khung: Còn xa rời
với mục tiêu đào tạo, kết cấu nội dung đào tạo chưa hợp lý, còn nặng về lý
thuyết và nhẹ về thực hành.
2.1.2.2. Chương trình các môn học lý thuyết: Chủ yếu thực hiện theo
phương pháp truyền thống, chậm đổi mới.
2.1.2.3. Chương trình DHTH: Tổ chức DHTH cho SV chưa sát với thực
tiễn. Hệ thống các KNTH, nội dung của các bài luyện tập chưa được xác
định và xây dựng một cách cụ thể. Chậm thích ứng với thực tiễn.
2.1.3. Các điều kiện đảm bảo cho DHTH: Cơ sở vật chất và phương tiện
dạy học của các trường còn thiếu thốn và chưa đồng bộ đặc biệt là trong
DHTH; đội ngũ cán bộ giảng dạy chưa đáp ứng được chất lượng và số
lượng so với yêu cầu đổi mới.
2.2. TÌNH HÌNH VIỆC LÀM VÀ SỬ DỤNG GVDN (HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGOÀI)
Đề tài đã khảo sát 1480 SV SPKT tốt nghiệp GVDN của 5 khóa từ khóa 24
(1995 - 1998) đến khóa 28 (1999 - 2002) thuộc các chuyên ngành do trường
CĐ SPKT NĐ đào tạo. Số SV tốt nghiệp có việc làm: 55,6%. Số làm đúng
chuyên môn đào tạo: 52,6%. Số chưa có việc làm: 44,4%. Số SV làm không
đúng chuyên môn đào tạo: 47,4%. Kết quả đào tạo trên cho thấy mức độ phù
hợp giữa việc làm và chuyên môn được đào tạo của GVDN sau khi tốt nghiệp
so với phương thức đào tạo theo tiếp cận NLTH là chưa đạt yêu cầu.

kiến đều tập trung vào các yêu cầu tăng cường kiến thức về chuyên ngành,
kiến thức tiếp thu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, các KNTH. Cụ thể với
SVTN các tỷ lệ đó là 23,0%; 20,6% và 25,3%. Các cơ sở sử dụng GVDN
đề nghị các nội dung kiến thức đó với tỷ lệ 16,7%; 19,3% và 17,8%.
2.3.4. Quản lý phƣơng pháp DHTH: Trong dạy thực hành người ta chia
ra các loại bài: 1/ Bài luyện các nguyên công và công việc cơ bản; 2/ Bài
luyện tập sản xuất; 3/ Bài luyện tập riêng. Các mức độ đánh giá về QL

- 13 -
phương pháp DHTH cho thấy có 24,8% ý kiến cho rằng việc QL phương
pháp DHTH đang thực hiện hiện nay ở các trường CĐ SPKT là tương đối
phù hợp và 63,9% cho là chưa phù hợp.
2.3.5. Các hình thức tổ chức thực tập ngoài trƣờng: Cho thấy 65,5% ý
kiến được hỏi cho rằng các hình thức tổ chức thực tập ở các trường CĐ
SPKT là chưa phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu rèn luyện KNTH cho
SV, việc tiếp xúc với thực tiễn dạy nghề, sản xuất kỹ thuật còn ít … Chỉ có
25,0% ý kiến cho là tương đối phù hợp.
2.3.6. Về cơ sở vật chất: Có tới 91,2% ý kiến cho rằng việc đáp ứng các
điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật cho DHTH ở các trường là không đầy
đủ. Chỉ có 3,2% ý kiến cho rằng các trường đã đáp ứng tốt.
2.3.7. Quản lý kiểm tra, đánh giá kỹ năng thực hành trong DHTH: Các
nội dung thực tập, thực hành được thực hiện đều không có tiêu chí để đánh
giá cụ thể. Phần lớn còn mang nặng hình thức, nặng về lý thuyết của thực
hành hơn là việc đánh giá KNTH của SV.
2.4. NHỮNG YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN
Nghiên cứu thực trạng cho thấy: Công tác QL mục tiêu, nội dung,
chương trình, tổ chức DHTH, kiểm tra đánh giá các KNTH của SV còn
nhiều yếu kém đặc biệt trong QL DHTH đã ảnh hưởng đến việc nâng cao
NLTH cho SV SPKT. Từ thực tiễn trên đây đặt nền móng cho việc xây
dựng các giải pháp đổi mới QL DHTH theo tiếp cận NLTH đảm bảo tính

ngành một cách sâu sát cụ thể.
Kiểm tra và đánh giá: Kiểm tra và đánh giá tính sát thực của việc đổi
mới QL mục tiêu DHTH là cần thiết và cần được thực hiện thường xuyên,
có so sánh, đối chiếu với thực tế quá trình triển khai thực hiện mục tiêu này
vào giảng dạy ở các khoa, bộ môn và ở từng GV.
3.3.1.2. Đổi mới nội dung, chƣơng trình DHTH theo tiếp cận NLTH
Xác định chương trình đào tạo theo hướng giảm khối lượng kiến thức
cơ bản, tăng kiến thức chuyên ngành. Xác định lại tỉ lệ giữa lý thuyết và
thực hành trong chương trình theo hướng tăng thời lượng thực hành thực
tập nghề nghiệp. Xây dựng các KNTH cơ bản ở các chuyên ngành kỹ
thuật.
Lập kế hoạch: Tiến hành phân tích ngành nghề đào tạo một cách chính
xác, đầy đủ theo kỹ thuật phát triển chương trình giảng dạy DACUM dựa
trên chức trách, nhiệm vụ và công việc mà người lao động phải thực hiện.
Thành lập hội đồng để phân tích nghề gồm những người có kinh
nghiệm đang trực tiếp hoạt động thành công trong ngành nghề, có hiểu biết
đầy đủ về trách nhiệm và thực sự thành thạo các công việc của nghề.
Nhiệm vụ: Xác định các yêu cầu về ngành nghề đào tạo, kiến thức khoa
học kỹ thuật chung, các yêu cầu về hành vi, thái độ ở người GVDN. Đổi
mới chương trình DHTH bao gồm: Xác định tỷ lệ khối kiến thức khoa học
cơ bản, cơ sở và chuyên ngành theo tỷ lệ là 2:8. Khối kiến thức cơ sở của
chuyên ngành, khối kiến thức liên ngành và chuyên ngành nên đảm bảo

- 15 -
theo tỷ lệ 3:5.
Tổ chức và chỉ đạo thực hiện: Tổ chức cho các khoa chuyên ngành
phân công GV soạn thảo tài liệu giảng dạy lý thuyết và các môđun thực
hành theo hệ thống kỹ năng đã được xác định. Thẩm định, phê duyệt nội
dung giảng dạy các bài học lý thuyết, thực hành từ bộ môn đến hội đồng
khoa học ngành và nhà trường. Chuẩn bị tốt các điều kiện về cơ sở vật

- 16 -
giá của SV về nội dung, phương pháp DHTH.
Kiểm tra và đánh giá kết quả: Kiểm tra luôn được thực hiện cùng với
sự đánh giá và hiệu chỉnh quá trình DHTH theo chu kỳ là học kỳ hay cả
năm học. Tổ chức cho các khoa, các bộ môn tiến hành thảo luận, rà soát lại
toàn bộ nội dung, chương trình DHTH theo hệ thống KNTH ở từng ngành
nghề đào tạo nhằm phát hiện ra những yếu kém và xác định rõ nguyên
nhân để từ đó có biện pháp khắc phục. Việc xây dựng nhiệm vụ kiểm tra
phải tuân thủ các yêu cầu về QL giáo dục như:  Xây dựng hệ thống
KNTH cơ bản cho SV SPKT;  Đội ngũ GV mà đặc biệt GV hướng dẫn
thực hành phải nắm vững, hiểu rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng
dạy. Tổ chức hướng dẫn các KNTH phải thành thạo và thực hiện bài dạy
thực hành theo đúng trình tự;  Trong các quá trình sư phạm, mọi GV
phải có đầy đủ các phương tiện giảng dạy, mẫu vật, dụng cụ, phát trước tài
liệu hướng dẫn thực hành để cho SV tham khảo.
3.3.2. Giải pháp 2: Đổi mới quản lý phƣơng pháp DHTH theo tiếp cận
NLTH cho đội ngũ GV các chuyên ngành kỹ thuật
3.3.2.1. Đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ GV về việc đổi mới phƣơng pháp
DHTH theo tiếp cận NLTH
Lập kế hoạch: Thực hiện các biện pháp QL việc đổi mới PPDH lý
thuyết trên lớp sẽ khắc phục được tình trạng dạy học kiểu thụ động, một
chiều và người thầy đóng vai diễn chính sang hướng người học là trung
tâm. Đổi mới phương pháp QL DHTH theo tiếp cận NLTH, Hiệu trưởng
cần tổ chức bồi dưỡng cho GV những năng lực dạy thực hành như: 
Năng lực xây dựng bài dạy thực hành;  Thiết kế các hoạt động dạy thực
hành;  Kỹ năng thiết kế các tình huống trong dạy thực hành và năng lực
kiểm tra, đánh giá kết quả dạy thực hành của GV, các NLTH của SV.
Tổ chức và chỉ đạo thực hiện
Về dạy lý thuyết: Hiệu trưởng chỉ đạo việc tổ chức bồi dưỡng cho đội
ngũ GV về PPDH thiên về hướng thực hành, tập trung vào hai xu hướng cơ

3.3.2.3. Chu trình quản lý đào tạo, bồi dƣỡng GV
Lập kế hoạch: Hiệu trưởng chỉ đạo việc rà soát, đánh giá thực trạng về
đội ngũ GV, phân loại họ dựa theo tiêu chuẩn đã được xây dựng về các
phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, năng lực giao tiếp,
năng lực tự học - tự hoàn thiện nhân cách sư phạm. Qua đó, tiến hành lập
kế hoạch đào tạo lại, bồi dưỡng GV như kế hoạch đã định.
Tổ chức và chỉ đạo thực hiện: Lãnh đạo nhà trường tiến hành triển
khai việc cử GV đi đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ theo các hình
thức khác nhau về từng lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành do Bộ, Ngành
hay các cơ sở đào tạo khác được giao nhiệm vụ thực hiện.
Kiểm tra, đánh giá kết quả: Theo định kỳ sau từng học kỳ hay cuối
năm học phải rà soát, xem xét việc tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng đối với GV nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cũng như nghiệp

- 18 -
vụ được kiểm tra, đánh giá và so sánh với yêu cầu “chuẩn hoá” để có kế
hoạch bổ xung, điều chỉnh kịp thời các phẩm chất cần thiết.
3.3.3. Giải pháp 3: Đổi mới quản lý quá trình luyện tập KNTH nghề
theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT
3.3.3.1. Quản lý quá trình luyện tập thực hành tại xƣởng trƣờng
Lập kế hoạch: Hiệu trưởng tổ chức việc QL hoạt động luyện tập KNTH
nghề ở cấp nhà trường, khoa, bộ môn, tạo nên những cấu trúc cho chức
năng chuyên môn cũng như nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tổ chức, QL
hoạt động luyện tập KNTH nghề của SV.
Tổ chức và chỉ đạo thực hiện: BGH phân công các thành viên của tổ
chức phụ trách, theo dõi hoạt động giảng dạy thực hành để thực hiện việc
tổng kết, đánh giá hoạt động luyện tập KNTH nghề cho SV và xây dựng kế
hoạch mới cho năm học, khoá đào tạo tiếp theo một cách chủ động.
Kiểm tra và đánh giá kết quả: Kết quả đánh giá tay nghề của SV phải
được xác định thông qua mức độ thành thạo của họ trong thao tác ở bài

thực hiện các biện pháp QL nhằm đảm bảo an toàn cho người và thiết bị.
3.3.3.4. Đổi mới quản lý phƣơng pháp đánh giá NLTH
Để đánh giá được NLTH của SV SPKT nhằm đảm bảo kết quả đúng,
đem lại độ chính xác, khách quan và công bằng về chất lượng đánh giá
NLTH cần căn cứ vào các tiêu chí sau đây: a. Sự thực hiện; b.Kiểm tra kết
quả của thực hiện; c. An toàn lao động; d. Năng suất lao động; e. Phối
hợp hoạt động với người khác trong nhóm.
Lập kế hoạch: Hiệu trưởng chỉ đạo việc xác định nội dung, cách thức
tiến hành đổi mới QL phương pháp đánh giá kết quả DHTH và các điều
kiện cần thiết về nhân sự cũng như cơ sở vật chất, phương tiện cho việc
thực hiện kế hoạch đổi mới phương pháp đánh giá.
Tổ chức và chỉ đạo thực hiện: Hiệu trưởng tiến hành chỉ đạo xây dựng
những quy định về đánh giá kết quả thực hành của SV, tổ chức cho GV tập
huấn, dự các giờ đánh giá mẫu theo quy trình đánh giá mới ở từng chuyên
ngành đào tạo.
Kiểm tra và đánh giá kết quả: Hiệu trưởng chỉ đạo các khoa thường
xuyên kiểm tra thực hiện các quy định về tổ chức đánh giá kết quả luyện tập
NLTH ở các bộ môn cũng như của các GV; cho GV, SV đóng góp ý kiến về
quy định đánh giá kết quả luyện tập theo NLTH để rút kinh nghiệm.
3.4. THĂM DÒ VỀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP
Qua phân tích nội dung của 150 phiếu trả lời của cán bộ QL và GV, có
69,6% ý kiến các chuyên gia cho rằng các giải pháp QL DHTH được đề
xuất nhằm nâng cao NLTH cho SV SPKT là rất cần thiết và 30,2% là cần
thiết. Các chuyên gia đều cho rằng các giải pháp được đề xuất có tính rất
khả thi và khả thi 97,1% là có thể thực hiện được ở các trường SPKT.
3.5. THỰC NGHIỆM GIẢI PHÁP ĐÃ ĐỀ XUẤT TẠI TRƢỜNG SPKT NĐ
Quá trình thực nghiệm được tiến hành theo các giai đoạn sau  Biên

- 20 -
soạn nội dung chương trình DHTH theo tiếp cận NLTH (trong giải pháp

3.5.1.3. Kết quả và nhận xét thực nghiệm: Kết quả xây dựng chương
trình đào tạo toàn khóa ngành Cơ khí - Hàn tại trường SPKT Nam Định.
Nhận xét: Chương trình đào tạo ngành Cơ khí - Hàn dựa trên phương
pháp xây dựng chương trình mới. Trong đó, quỹ thời gian dành cho các

- 21 -
hoạt động học tập là 80%, quỹ thời gian dành cho các hoạt động khác là
20%. Trong quỹ thời gian dành cho các hoạt động học tập thì thời lượng
thực học và thực hành môn học là 97/128 tuần chiếm 75,8%. Về cơ cấu tỷ
lệ các khối kiến thức như sau: Khối kiến thức khoa học cơ bản: 24,9% (765
tiết/ 51 ĐVHT); Khối kiến thức cơ sở và liên ngành: 35,1%(1.080 tiết/
72ĐVHT); Khối kiến thức chuyên ngành: 40,0% (1.230 tiết/82 ĐVHT).
Chương trình được xác định phù hợp với mục tiêu đào tạo CĐ SPKT.
3.5.2. Thực nghiệm giải pháp đổi mới quản lý phƣơng pháp dạy thực
hành theo NLTH cho đội ngũ GV các chuyên ngành kỹ thuật
3.5.2.1. Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi thực nghiệm: Đánh giá được
mức độ, hiệu quả và tính khả thi của việc QL, bồi dưỡng kỹ năng dạy thực
hành của GV SPKT qua lớp tập huấn và ứng dụng trong giảng dạy, thực
tiễn. GV các chuyên ngành kỹ thuật đang đào tạo tại trường SPKT NĐ.
 Tập trung trong phạm vi các GV chuyên ngành Cơ khí - Hàn; Cơ khí -
Động lực; Cơ khí - CTM.
3.5.2.2. Nội dung và tiến trình thực nghiệm: Chương trình chuyển giao kỹ
năng dạy thực hành được tiến hành dựa trên phương thức tiếp cận đào tạo
theo tiếp cận NLTH nhưng đặt trọng tâm ở kỹ năng thiết kế các bài dạy
KNTH cho SV theo mục tiêu thực hiện cuối cùng. Việc thiết kế và thực hiện
các bước trong một bài dạy học theo tiếp cận NLTH bao gồm: Bước làm
mẫu của GV hướng dẫn theo các tiêu chuẩn của trình diễn mẫu và SV thực
hành kỹ năng từng bước theo các giai đoạn phát triển kỹ năng; Tiến hành
kiểm tra sự thực hiện kỹ năng - quy trình hoặc theo sản phẩm cuối cùng.
3.5.2.3. Kết quả và nhận xét thực nghiệm: 55% GV dạy thực hành các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status