CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ
DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ Ở
CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu nước ngoài
Để mang lại hiệu quả cho việc dạy học, từ trước công
nguyên Đức Khổng Tử (551- 479 TCN) đã đưa ra cách chia
người học thành hai hạng để giảng dạy với nội dung và cách
thức khác nhau. Ông đưa ra các phương pháp giáo dục quý giá:
Phương pháp thân giáo, phương pháp giáo dục phù hợp với đối
tượng, phương pháp giáo dục coi trọng thực hành, vân dụng,
coi trọng phương pháp luyện tập, ôn tập, phương pháp phát huy
tính tích cực, chủ động trong học tập; sự thống nhất giữa học
và suy nghĩ.[17]
J.A.Comenxki (1592-1670), Nhà giáo dục học người Séc vĩ
đại. Là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới đã xây
dựng một hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh. Ông đã đưa ra
nguyên tắc giáo dục phải tự nhiên, hệ thống lớp – bài, đã phân
chia học sinh ra các thời kì lứa tuổi, ứng với mỗi lứa tuổi một
loại hình trường và nội dung giáo dục phù hợp để dạy trẻ em.
[17]
John Dewey (1859-1952) là nhà triết học, nhà tâm lí học,
nhà giáo dục học góp phần lớn lao đối với việc khởi xướng
phong trào giáo dục tiến bộ của nước Mĩ từ những năm đầu của
thế kỉ XX. Theo ông, quá trình sống và quá trình giáo dục
- Nghiên cứu trong nước
Những nghiên cứu trong nước có thể kể đến như: Trần Bá
Hoành (2010), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và
sách giáo khoa; Đặng Thành Hưng (2005), Tương tác thầy, trò
trên lớp, Nxb Giáo dục; Trần Duy Hưng (2000), Quy trình kiến
tạo tình huống trong dạy học theo nhóm nhỏ; Nguyễn Quang
Lạc (2007), Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học
truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục; Bùi Gia Thịnh (1995),
Lý thuyết kiến tạo - một hướng phát triển mới của lý luận dạy
học hiện đại.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở Việt Nam đã
được nhắc đến trong việc xây dựng và thực hiện chương trình
tích hợp của giáo dục phổ thông Miền Nam, giai đoạn trước
năm 1975. Công cuộc đổi mới giáo dục năm 2000, định hướng
phát triển năng lực người học mới chỉ được thực hiện trong một
số môn học ở tiểu học như Tự nhiên-Xã hội, Âm nhạc, Mỹ
thuật; và ở cấp THCS định hướng này mới chỉ xuất hiện trong
mục tiêu chương trình. Chỉ đến đổi mới giáo dục hiện nay mới
nhấn mạnh đến xây dựng chương trình và thực hiện chương
trình theo định hướng phát triển năng lực người học.
Mùa hè năm 2014, Vụ Giáo dục Trung học phối hợp với
Chương trình phát triển Giáo dục Trung học tổ chức biên soạn
tài liệu: “Hướng dẫn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định
hướng năng lực học sinh cấp trung học phổ thông môn Vật lí”
do nhóm tác giả Phạm Xuân Quế - Ngô Diệu Nga – Nguyễn
Văn Biên -
Nguyễn Anh Thuấn – Thạch Thị Đào Liên -
khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ Vật lí, để tìm hiểu thực
trạng QLDH môn Vật lí của trường THPT huyện Đức Trọng và
từ đó đề xuất một số biện pháp QLDH môn Vật lí theo hướng
phát triển năng lực tìm tòi khám phá thế giới tự nhiên dưới góc
độ Vật lí nhằm đáp ứng được yêu cầu thực tiễn hiện nay.
- Khái niệm
- Quản lý dạy học
- Quản lý
Khái niệm
Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
vực khoa học nên được rất nhiều nhà khoa học quan tâm và có
rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
Trên Thế giới: Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) là
“cha đẻ” của trường phái quản lý theo khoa học. Ông quan
niệm rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì
cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ
nhất”.[1]
Theo K.Omarov: “Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các
nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với
hiệu quả kinh tế tối ưu”.[38]
Quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam: Theo tác giả
Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động
của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các công
cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu quản lý”.[43] Tiếp cận
trên phương diện hoạt động của một tổ chức, tác giả Nguyễn
Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung
là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự
tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đề ra.
Chức năng tổ chức
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân
phối các nguồn lực để hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, là sự
sắp đặt một cách khoa học những con người, những công việc
một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên
một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với
tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần. Công tác tổ
chức gồm ba nhiệm vụ chính dưới đây: Xác định cấu trúc của
bộ máy; Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ
máy; Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên
trong tổ chức.
Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng qua lại của chủ thể
quản lý đến hành vi và thái độ của những thành viên trong tổ
chức nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Chức năng chỉ
đạo bao gồm các nội dung: Chỉ huy, ra lệnh; Động viên, khen
thưởng; Theo dõi, giám sát; Uốn nắn và điều chỉnh.
Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến các cấp quản lý
nhằm đánh giá trạng thái của họ, xem mục tiêu dự kiến ban đầu
và toàn bộ kế hoạch đã đạt được ở mức độ nào; kịp thời phát
hiện, nguyên nhân sai sót, những vấn đề mới nảy sinh trong
thực tiễn, điều chỉnh và tạo thông tin cho quá trình quản lý tiếp
theo.
Bốn chức năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau
tạo thành một chu trình quản lý. Chu trình quản lý gồm 4 giai
đoạn với sự tham gia của 2 yếu tố quan trọng: Thông tin và
giáo dục” [13]. Theo quan niệm này, dạy học là khái niệm chỉ
quá trình hoạt động chung của người dạy và người học.
Tiếp cận từ góc độ tâm lý học thì dạy học được hiểu là “Sự
biến đổi hợp lý hoạt động và hành vi của người học trên cơ sở
cộng tác hoạt động và hành vi của người dạy và người
học”[42]. Theo Hà Thế Truyền thì “Dạy học là một quá trình
thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình
dạy học - hoạt động dạy và hoạt động học”. Dạy và học là hai
hoạt động tác động và phối hợp với nhau, nếu thiếu một trong
hai hoạt động đó thì quá trình dạy học không diễn ra [41].
Như vậy, quá trình dạy học là một quá trình thầy thiết kế
các hoạt động dạy và định hướng các hoạt động học thông qua
nghiệp vụ sư phạm của mình, trò với hoạt động học (tự giác,
tích cực, chủ động ) thông qua định hướng, hướng dẫn của thầy
nhằm đạt tới mục đích dạy học là hình thành nhân cách cho HS.
Xuất phát từ những đặc điểm hoạt động của quá trình dạy
học, chúng ta có thể đưa ra một cấu trúc gồm các thành tố cơ
bản sau tồn tại trong quá trình dạy học: Chủ thể dạy học, đối
tượng dạy học, mục tiêu dạy học ( giữ vai trò then chốt), nội
dung dạy học, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy
học, phương tiện dạy học, điều kiện dạy học, kết quả dạy học.
Tất cả những yếu tố nêu trên có mối liên quan mật thiết với
nhau, quy định lẫn nhau tạo thành một hệ thống của quá trình
dạy học. Nhờ có sự liên hệ và tác động lẫn nhau giữa các thành
tố mà quá trình dạy học đã làm cho hệ thống dạy học hoàn
thành và phát triển. Sự thiếu vắng một thành tố nào đó, hoặc do
tính chất và trình độ không phù hợp với các thành tố khác và do
vậy không phù hợp với quá trình tổng thể sẽ gây trở ngại cho
độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả
hoạt động, ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt
động”[42, tr.22].
Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Năng lực là những thuộc tính
tâm lý của cá nhân giúp cho việc con người lĩnh hội một lĩnh
vực kiến thức hoạt động nào đó được dễ dàng và nếu họ tiến
hành hoạt động trong lĩnh vực đó thì sẽ có kết quả cao” [39,
tr.31].
Trong bài viết “Có riêng công thức năng lực cho học sinh
bằng dạy học tích hợp! ”Tác giả Đinh Quang Báo có đưa ra
công thức khái quát để hình thành năng lực như sau:
“Năng lực = Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ + Tình huống
Trong đó:
+ Kiến thức là hiểu biết về tự nhiên là nguyên liệu;
+ Kỹ năng là hoạt động gia công trí tuệ để kết nối kiến thức
theo một lôgic nhất định;
+ Thái độ là điều kiện, động lực tâm lí của học sinh để tổ
chức vận dụng kiến thức, kĩ năng đó;
+ Tình huống là nhiệm vụ nhận thức thường được biểu thị
bằng câu hỏi, bài tập, dự án”…
Nhìn chung năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau nhưng đều có điểm chung và coi năng lực là sự tích hợp
kiến thức, kỹ năng, thái độ và tham chiếu chúng trong một bối
cảnh công việc hoặc tình huống công việc nào đó.
Cấu trúc năng lực chung
Theo tác giả Phạm Xuân Quế thì cấu trúc chung của năng
Nhận thức được kiến thức phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ
vật lí; chất, năng lượng và sóng; lực và trường.
Nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí.
Tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí:
Thực hiện được hoạt động tìm tòi, khám phá một số sự vật,
hiện tượng đơn giản, gần gũi trong thế giới tự nhiên và đời
sống theo tiến trình.
Thực hiện được việc phân tích, so sánh, rút ra những dấu
hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượng đơn giản,
gần gũi trong thế giới tự nhiên.
Sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự
đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra kết luận.
Vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn.
Vận dụng được kiến thức vật lí để mô hình hoá các hệ vật lí
đơn giản và sử dụng được toán học như một ngôn ngữ và công
cụ để giải quyết vấn đề cụ thể.
Mô tả, dự đoán, giải thích hiện tượng, giải quyết vấn đề một
cách khoa học; ứng xử thích hợp với công nghệ và thiên nhiên
trong một số tình huống liên quan đến bản thân, gia đình, cộng
đồng.” [ 8; tr 5, tr 6 ]
- Phát triển năng lực tìm tòi khám phá thế giới tự nhiên
dưới góc độ Vật lí.
Theo dự thảo Chương trình môn Vật lí công bố ngày
19/01/2018 thì biểu hiện của các kĩ năng tiến trình trong môn
Vật lí của năng lực tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới
góc độ vật lí được thể hiện như sau:
“Biểu hiện của các kĩ năng tiến trình trong môn Vật lí.
Kĩ năng
đề xuất giả thuyết trong nghiên cứu khoa học.
và xây
– Đưa ra phán đoán và giả thuyết cho vấn đề
dựng giả
nghiên cứu.
thuyết
3. Lập kế
– Từ mục tiêu và điều kiện nghiên cứu, thiết
hoạch thực
kế ý tưởng nghiên cứu, lựa chọn phương pháp
hiện
thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra,
phỏng vấn, tra cứu tư liệu,...) và lập kế hoạch
thực hiện
4. Thực
Nêu được nghiên cứu khoa học cần có sự kiện
thí
trên cơ sở sự kiện kinh nghiệm, vận dụng tri
nghiệm.
thức khoa học và suy đoán khoa học.
Phân tích
Thiết lập mối liên hệ giữa sự kiện và tri thức
dữ liệu
khoa học, có thể biết được hiện tượng không
nhằm
thống nhất với kết quả dự đoán; thử đưa ra
chứng
giải thích hợp lí.
minh hay
Đánh giá độ tin cậy của số liệu, biết được sai
trình bày
để biểu đạt quá trình và kết quả nghiên cứu,
báo cáo và
viết được báo cáo nghiên cứu đơn giản.
thảo luận
– Hợp tác tốt với đối tác, biết lắng nghe và tôn
trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người
khác đưa ra và biết trao đổi ý kiến.
6. Ra
Quyết định xử lí cho vấn đề. Đề xuất phương
quyết định
pháp, biện pháp, kế hoạch mới cho vấn đề
và đề xuất
thực tiễn.
ý kiến
- Bảng biểu hiện của các kĩ năng tiến trình trong môn
của bản thân. Sau quá trình vận dụng kiến thức nhiều lần để
kiểm chứng và sẽ hình thành năng lực cho bản thân.
- Dạy học môn Vật lí theo hướng phát triển năng lực
học sinh.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là căn cứ vào
chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo cần ở người học những
năng lực gì. Căn cứ vào các yêu cầu cần đạt của các năng lực
cần phát triển ở người học để thiết kế bài dạy theo hướng tích
cự hóa các hoạt động học của người học trên cơ sở nội dung
dạy học phải đảm bảo chương trình chuẩn của quốc gia ở cấp
học, chương trình học đó.
Theo tài liệu tập huấn năm 2014 thì: “Khi muốn đánh giá
một năng lực, ta cần làm rõ nội hàm năng lực đó bằng cách chỉ
ra những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có làm nền tảng cho
việc thể hiện, phát triển năng lực đó, sau đó xây dựng các công
cụ đo kiến thức, kĩ năng, thái độ quen thuộc.” [7]
Dạy học môn Vật lí theo hướng phát triển năng lực tìm tòi
khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ Vật lí là quá trình dạy
học mà GV thiết kế các hoạt động học nhằm tạo môi trường,
bối cảnh cụ thể để HS được thực hiện các hoạt động huy động
kiến thức, kĩ năng và thể hiện thái độ của mình dưới dạng tìm
tòi, khám phá trên cơ sở kiến thức từ thế giới tự nhiên mà HS
có được thông qua các hoạt động tích cực như: quan sát, trải
nghiệm, tương tác với mọi người,…[7]
- Vị trí, vai trò môn Vật lí trong chương trình giáo dục
THPT
- Mục tiêu dạy học môn Vật lí ở trường THPT theo hướng
phát triển năng lực tìm tòi khám phá thế giới tự nhiên dưới
góc độ Vật lí
Theo dự thảo chương trình môn Vật lí công bố ngày
19/01/2018: Môn Vật lí “góp phần cùng với các môn học và
hoạt động giáo dục khác, giúp học sinh đạt được các phẩm chất
và năng lực chung được quy định trong Chương trình giáo dục
phổ thông tổng thể.
Giúp học sinh đạt được năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên
dưới góc độ vật lí, với các biểu hiện sau:
+ Có được những kiến thức phổ thông cốt lõi về: Các mô
hình hệ vật lí; chất, năng lượng và sóng; lực và trường.
+ Có và vận dụng được một số kĩ năng tiến trình khoa học;
bước đầu sử dụng được toán học làm ngôn ngữ và công cụ giải
quyết vấn đề.
+ Vận dụng được một số tri thức vào thực tiễn, ứng xử
được với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững
xã hội và bảo vệ môi trường.
+ Nhận biết đúng được một số năng lực, sở trường của bản
thân và lựa chọn được một số ngành nghề liên quan đến lĩnh
vực mà môn học đề cập.”[8].
- Nội dung dạy học môn Vật lí ở trường THPT theo hướng
phát triển năng lực tìm tòi khám phá thế giới tự nhiên dưới góc
độ Vật lí.
Theo tài liệu tập huấn của Vụ Giáo dục Trung học năm
2014: “Về nội dung dạy học: Cần xây dựng các hoạt động, chủ
đề, nhiệm vụ đa dạng gắn với thực tiễn.”[7]
Chuẩn đầu ra giữ vị trí quan trọng trong chương trình giáo