CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHỐI
HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ
GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu ngoài nước
Từ lâu xã hội và các nhà giáo dục rất coi trọng về sự
phối hợp và quản lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình
trong giáo dục học sinh.
Ở Liên Xô, các nhà giáo dục đã thấy được tầm quan
trọng của sự phối hợp và quản lý phối hợp giữa nhà trường và
gia đình trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục trong đó có
GDĐĐ. Sự thống nhất hợp tác giữa nhà trường và gia đình
không những định hướng tương lai mà còn là động lực mạnh
mẽ giúp cho học sinh có niềm tin trong học tập và trong rèn
luyện để hình thành nhân cách của mình như:
V.A. Xukhomlinxki (1918 – 1970) đã nói: “nếu gia đình
và nhà trường không có sự hợp tác để thống nhất mục đích,
nội dung giáo dục thì sẽ dẫn đến tình trạng “gia đình một
đường, nhà trường một nẻo”. Sự phối hợp các lực lượng giáo
dục nhà trường và gia đình vận dụng tuyệt đối những điều
kiện xã hội, tự nhiên vào quá trình giáo dục thế hệ trẻ đã được
ông chia sẻ rất nhiều kinh nghiệm. Những tác phẩm về
GDĐĐ như "Giáo dục con người chân chính như thế nào",
"Giáo dục cộng sản đối với lao động”có giá trị và được sử
dụng trong GD thế hệ trẻ”[22]
Mc Gregor (1906-1964), H.Abraham Maslow (1908-1970)…
trong tác phẩm “Các nguyên tắc quản lý một cách khoa
học”xuất bản lần đầu ở Mỹ năm 1911 đã thể hiện một quan
điểm thống nhất về vấn đề này. Quan điểm nhấn mạnh đến vai
trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan hệ xã hội của con người
trong công việc trong đó các nhà quản lý này cũng đề cập đến
nhà quản lý với công tác phối giữa tổ chức và xã hội [21]
Học thuyết Z được một giáo sư người Mỹ gốc Nhật là
William Ouchi xây dựng trên cơ sở áp dụng cách quản lý của
Nhật Bản trong các công ty Mỹ. Lý thuyết này ra đời năm
1978, chú trọng đến quan hệ xã hội và yếu tố con người trong
tổ chức đặc biệt trong đó có mối quan hệ giữa nhà trường và
gia đình trong giáo dục học sinh[18]
Hội nghị quốc tế về Giáo dục năm 1990 cho tất cả mọi
người được tổ chức tại Jomtien (Thái Lan) và đưa ra tuyên bố
“Giáo dục cho tất cả mọi người và Chương trình hành động
để đáp ứng những nhu cầu học tập cơ bản của người dân”[11]
Tác giả Raja Roy Singh trong tác phẩm: “Nền giáo dục
cho thế kỷ hai mươi mốt”năm 1998 đã nói: “Giáo dục các giá
trị phải được bắt đầu từ gia đình và được hình thành theo
những giá trị của cha mẹ. Trách nhiệm của nhà trường là kết
hợp với gia đình nhưng dần dần cùng với sự phát triển của
trẻ”[19]
Tác giả Wheelen, T.M. and Hunger, J.D trong phân tích
các liên đới của quy trình tiến hành phân tích SWOT năm
2006 đã phân tích: “Đối với các trường phổ thông nhìn chung
liên đới chủ chốt mà nhà trường cần chú ý trong phát triển
chiến lược là học sinh, giáo viên, đội ngũ công nhân viên, cán
những vấn đề của gia đình đương đại.
“Những gì đang cản trở việc kết hợp giữa nhà trường,
gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh”đăng
trong tạp chí Giáo dục số 10, tháng 8/2001 của tác giả
Nguyễn Sinh Huy đã nêu: việc kết hợp giữa nhà trường, gia
đình và xã hội từ lâu được xem là nguyên lý cơ bản của giáo
dục, vận dụng và quán triệt được điều đó vào hoạt động thực
tiễn sẽ đảm bảo cho giáo dục giữ vững được chất lượng, phát
triển lành mạnh và bền vững. Sự kết hợp giữa nhà trường và
gia đình luôn bị tác động của những cơ chế mới, nên các biện
pháp tác động trước đây ít hấp dẫn, kém hiệu quả và những
tác động của thương mại hóa giáo dục đang gặm nhấm những
giá trị cao quý, đẹp đẽ của sự kết hợp giáo dục vốn dĩ được
xem là lương tâm của đạo đức của thầy cô giáo và cha mẹ.
[36]
Những đề tài khoa học nghiên cứu trên các tác giả đã
đưa ra những cơ sở lý luận căn bản và nêu ra những mô hình
tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng GD góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục trong đó có GDĐĐ. Những
nghiên cứu đã chỉ được những lý luận về tính cấp thiết phải
phối hợp giữa hai cơ sở trực tiếp giáo dục là nhà trường và gia
đình, vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con
em, sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình cần phải có sự
thống nhất cao và nhịp nhàng.
Bên cạnh những tài liệu có tính kinh điển nêu trên, trong
những năm gần đây, nhiều tác giả cũng lựa chọn chủ đề này
để nghiên cứu trong các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản
lý giáo dục, như:
với tựa đề:”Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình ở các trường THPT tỉnh Bình Dương”cũng
một lần nữa khẳng định tầm quan trọng trong công tác phối
hợp để GD học sinh THPT.
Như vậy, có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý giáo dục
đặc biệt GDĐĐ học sinh ở các trường học. Tuy nhiên, đề tài
nghiên cứu về nghiên cứu việc biện pháp quản lý phối hợp
giữa nhà trường và gia đình trong GDĐĐ của lãnh đạo các
trường THPT trên địa bàn thành phố, huyện vùng cao sát với
đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa xã hội của từng địa
phương, để xác định được các biện pháp quản lý khả thi phù
hợp sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục
đạo đức học sinh chưa đề cập đến. Chính vì lẽ đó, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học "Phối hợp giữa nhà
trường và gia đình trong giáo dục đạo đức học sinh ở các
trường THPT huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng”là bước tiếp
tục làm phong phú thêm lý luận về quản lý giáo dục, đồng
thời cũng góp phần đề ra được một số biện pháp có hiệu quả,
thiết thực, đáp ứng được đòi hỏi của giáo dục Lâm Đồng; góp
phần nâng cao công tác GDĐĐ cho học sinh THPT trên địa
bàn huyện Đơn Dương tạo ra bước chuyển biến cơ bản về
chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận trình độ thế giới,
phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế trong thời kỳ hội
nhập của đất nước.
Một số khái niệm công cụ
- Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
- Khái niệm “Quản lý”
Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của
Theo P.V.Khuđôminxki (nhà lý luận Xô Viết): “Quản lý
giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có
mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các
khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhà trường) nhằm mục
đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ
trẻ, đảm bảo phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, bảo đảm phát
triển toàn diện và hài hòa của họ”[31]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Giáo dục và quản lý giáo dục
là tồn tại song hành. Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn
tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như
thế về quản lý giáo dục”. Ở cấp độ vĩ mô ông cho rằng: “quản
lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức có
mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể
quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao đến
các hệ thống giáo dục nhà trường) nhằm thực hiện có chất
lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế trẻ
mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”. Ở cấp độ vi mô, ông
cho rằng: “quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác
động tự giác tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có
hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo
viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã
hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”[35]
Tóm lại, “QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp giữa
các lực lượng theo yêu cầu phát triển xã hội nhằm đẩy mạnh
công tác đào tạo thế hệ trẻ”
vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức
năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của
họ mà trước hết là trong phạm vi nhà trường với tư cách là
một tổ chức xã hội”[35]
- Giáo dục, giáo dục đạo đức
- Giáo dục
Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng là quá trình tác động
có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng
phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo
dục trong nhà trường (cơ quan giáo dục) nhằm hình thành
nhân cách cho học sinh.
Giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp đó là quá trình hình
thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm,
niềm tin, những nét tính cách, những hành vi, thói quen cư xử
đúng đắn trong xã hội.
- Giáo dục đạo đức
GDĐĐ là quá trình tác động của chủ thể GD đến người
được GD nhằm biến ý thức đạo đức thành tình cảm, hành vi
và thói quen đạo đức. Quá trình GDĐĐ có sự tham gia của
thành phần (gia đình, nhà trường, xã hội, ...) trong đó nhà
trường giữ vai trò đặc biệt quan trọng, quá trình này tác động
liên tục và lâu dài. Phẩm chất đạo đức của học sinh được hình
thành là sự tác động của yếu tố khách quan và chủ quan, là tác
động của nhà giáo dục và tự rèn luyện của học sinh.
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Giáo dục đạo đức
là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên
nhà nghiên cứu dùng các khái niệm: “hợp tác”, “kết hợp”,
“thống nhất”, “liên kết”; “phối hợp”,….. Theo “Từ điển Tiếng
Việt”của Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam năm 2005 các từ này
được định nghĩa như sau:
“- Hợp tác: là chung sức, trợ giúp qua lại với nhau.
Kết hợp: là gắn chặt với nhau để bổ sung cho nhau.
Thống nhất: là hợp lại thành một khối.
Liên kết: là kết hợp nhiều thành phần, nhiều tổ chức để
thực hiện.
Phối hợp: là cùng hành động, hoạt động hỗ trợ lẫn
nhau.”[38]
Các khái niệm trên có nghĩa tương đồng nhau, tuy nhiên
khái niệm “phối hợp”tái hiện rõ nét tổng thể những quan hệ về
tính thống nhất, chặt chẽ, liên tục, toàn vẹn của quá trình GD.
Vì thế trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm phối hợp
giữa nhà trường và gia đình trong công tác GD học sinh.
Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình có nghĩa là thầy
cô hợp tác, cùng thống nhất hành động với PHHS để thực hiện
giáo dục học sinh và trong đề tài này giới hạn là nâng cao chất
lượng GDĐĐ học sinh; thầy cô và PHHS hỗ trợ lẫn nhau trong
cùng một nhiệm vụ. Chủ thể phối hợp là hiệu trưởng (áp dụng
toàn trường), GVCN (từng lớp) và PHHS (trong đó có ban đại
diện phụ huynh học sinh).
Quản lý sự phối hợp
Tác giả Mary Parker Follett đã đến kết luận sau khi quan
sát trực tiếp hoạt động của người quản lý rằng: sự phối hợp là
điều kiện sống còn của quản lý hiệu quả. Tác giả đề xuất 4
nguyên tắc sau:
dục đạo đức học sinh
Quá trình GDĐĐ được vận hành đồng bộ, hiệu quả, tạo
bầu không khí thoải mái và thuận lợi để nâng cao chất lượng
giáo dục đạo đức trong nhà trường, gia đình và xã hội là mục
tiêu của quản lý sự phối hợp GDĐĐ.
Sự hình thành và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức,
lối sống của HSTHPT có sự tham gia của nhiều lực lượng
giáo dục, với những vị trí vai trò khác nhau nhưng đều cùng
chung một mục tiêu. Trong đó, nhà trường đóng vai trò trung
tâm, chủ động trong việc phối hợp với gia đình học sinh.
Không những nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong GDĐĐ
học sinh mà còn giúp đỡ, hỗ trợ cho PHHS trong việc giáo
dục con cái. PHHS là chủ thể giáo dục cho nên có trách nhiệm
chủ động hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục con em
mình tránh tư tưởng khoán trắng hoặc tự đề ra những yêu cầu
giáo dục trái ngược với mục tiêu giáo dục nhà trường mà nhà
trường qui định...
Chính vì vậy, quản lý sự phối hợp giữa nhà trường và gia
đình trong GDĐĐ học sinh về bản chất là sự tổ chức GDĐĐ
cho HS của các lực lượng giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu
giáo dục.
Tóm lại, sự kết hợp, tác động qua lại một cách biện
chứng giữa các lực lượng giáo dục trong GD đạo đức
HSTHPT là quản lý sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình
trong GDĐĐ HS.
Lý luận về sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình
trong giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông
- Đặc điểm tâm sinh lý học sinh trung học phổ thông
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì giáo dục và
phát triển nhân cách của học sinh tác động chặt chẽ và qua lại
với nhau. Giáo dục đạo đức phải dựa vào đặc điểm tâm sinh
lý lứa tuổi để tác động có hiệu quả đến sự phát triển nhân
cách toàn diện của học sinh và trở thành người công dân Việt
Nam của toàn cầu, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội.
Giai đoạn học sinh chuẩn bị đi vào cuộc sống chính là
giai đoạn học sinh THPT từ 15 đến 18 tuổi. Các em phải hoạt
động phức tạp hơn học sinh THCS ở ba môi trường là nhà
trường, gia đình và xã hội. Các chuẩn mực giá trị, quy tắc,
yêu cầu đạo đức xã hội, ý thức chính trị, ý thức tự giác và
hướng nghiệp tích cực được học sinh THPT nhận thức rõ
ràng. Ở lứa tuổi này, các em giao lưu nhiệt tình, hăng say
trước mọi công việc từ dễ đến phức tạp, vượt qua mọi thử
thách của cuộc sống. Nhân cách của các em ngày một hoàn
thiện để trở thành người công dân có ích cho xã hội. Học sinh
THPT biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quyết
định kết qủa phát triển Tài, Đức của bản thân khi các em hội
tụ đầy đủ các điều kiện cơ bản về nhận thức, ý chí, hoạt động.
Tuy nhiên, các em dễ bị lung lay trong hành vi, hành động của
mình vì vốn sống và kinh nghiệm xã hội của các em chưa
được nhiều.
Việc GDĐĐ cho các em có nhiều thuận lợi vì về thể lực,
trí lực, thích tìm tòi cái mới, sáng tạo, tự khẳng định mình,
sống tự lập, mong muốn làm những việc có ích cho xã hội, nó
đều được thể hiện trên con người của học sinh THPT. Tuy
nhiên, ở lứa tuổi này tính cách và hành vi có nhiều diễn biến
phức tạp do có sự tác động phong phú, đa dạng của đời sống