BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trương Hải Thanh
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH
Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trương Hải Thanh
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH
Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành
: Quản lý giáo dục
Mã số
: 60 14 01 14
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH
Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ............................................................. 7
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 7
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề phối hợp và quản lý sự phối hợp giữa
nhà trường và gia đình ở nước ngoài ....................................................... 7
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề phối hợp và quản lý sự phối hợp giữa
nhà trường và gia đình ở trong nước ....................................................... 8
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài ................................................................ 13
1.2.1. Quản lý ..................................................................................................... 13
1.2.2.Hoạt động .................................................................................................. 15
1.2.3. Phối hợp.................................................................................................... 15
1.2.4. Quản lý hoạt động phối hợp ..................................................................... 16
1.3. Các yếu tố liên quan đến hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia
đình trong công tác giáo dục học sinh ......................................................... 16
1.3.1. Nhà trường THPT trong công tác giáo dục học sinh............................. 16
1.3.2. Gia đình và Ban đại diện cha mẹ học sinh trong công tác giáo dục
học sinh .................................................................................................. 19
1.4. Lý luận về hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình ........................... 31
1.4.1. Ý nghĩa của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ................. 31
1.4.2. Nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình ...................................... 32
2.5. Nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình tại các trường THPT tỉnh Bình Dương .......................... 92
2.5.1. Nguyên nhân từ phía nhà trường .............................................................. 92
2.5.2. Nguyên nhân từ phía gia đình .................................................................. 92
2.5.3. Nguyên nhân từ Ban đại diện cha mẹ học sinh ........................................ 93
2.5.4. Nguyên nhân từ ngành Giáo dục và Đào tạo ........................................... 93
2.5.5. Nguyên nhân từ xã hội ............................................................................. 93
Chương 3. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TẠI CÁC TRƯỜNG
THPT TỈNH BÌNH DƯƠNG ........................................................... 95
3.1. Cơ sở đề ra các biện pháp ............................................................................... 95
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình.............. 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 112
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THPT
: Trung học phổ thông
THCS
: Trung học cơ sở
GDTX - KT - HN : Giáo dục thường xuyên - Kỹ thuật hướng nghiệp
HS
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Đánh giá của CBQL và GV về tính cần thiết của hoạt động phối
hợp giữa nhà trường và gia đình ......................................................... 48
Bảng 2.2.
Đánh giá của CBQL và GV về tính cần thiết của cách thức phối
hợp giữa nhà trường và gia đình ......................................................... 50
Bảng 2.3.
Đánh giá của CBQL và GV về tính cần thiết của việc quản lý
hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo
dục học sinh ......................................................................................... 53
Bảng 2.3.1. Đánh giá của CBQL và GV về tính cần thiết của việc quản lý
hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo
dục học sinh - Xây dựng kế hoạch phối hợp ...................................... 53
Bảng 2.3.2. Đánh giá của CBQL và GV về tính cần thiết của việc quản lý
hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo
dục học sinh -Tổ chức thực hiện sự phối hợp giữa nhà trường và
gia đình ................................................................................................ 54
Bảng 2.3.3. Đánh giá của CBQL và GV về tính cần thiết của việc quản lý
hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo
dục học sinh - Chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường và
gia đình ................................................................................................ 57
động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục
học sinh................................................................................................ 68
Bảng 2.7.1. Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của việc quản lý hoạt
động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục
học sinh................................................................................................ 68
Bảng 2.7.2. Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của việc quản lý hoạt
động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục
học sinh- Tổ chức thực hiện sự phối hợp giữa nhà trường và gia
đình ...................................................................................................... 70
Bảng 2.7.3. Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của việc quản lý hoạt
động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục
học sinh- Chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia
đình ...................................................................................................... 72
Bảng 2.7.4. Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của việc quản lý hoạt
động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục
học sinh- Kiểm tra, đánh giá sự phối hợp ........................................... 74
Bảng 2.8.
Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của việc quản lý
những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động phối
hợp giữa nhà trường và gia đình ......................................................... 75
Bảng 2.8.1. Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của việc quản lý
những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động phối
hợp - Nhà trường ................................................................................ 75
Bảng 2.8.2. Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của việc quản lý
những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động phối
hợp - Gia đình...................................................................................... 77
Bảng 2.9.
Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong
việc giáo dục học sinh ......................................................................... 86
Bảng 2.16.
Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động phối
hợp giữa nhà trường và gia đình ......................................................... 90
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng
lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (Điều 27-Luật Giáo dục 2005)
Trong nhà trường, những tác động của giáo viên, tập thể lớp, nội qui,
nội dung, phương pháp giảng dạy ảnh hưởng đến quá trình giáo dục học sinh.
Vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa làm tròn trách nhiệm với học sinh, phụ
huynh, chỉ quan tâm đến kết quả học tập, chú trọng dạy chữ và chưa thường
xuyên quan tâm đến việc giáo dục đạo đức học sinh, chưa phối hợp chặt chẽ
với các bộ phận trong và ngoài nhà trường để công tác giáo dục học sinh ngày
một tốt hơn. Việc giáo dục đạo đức trong nhà trường thường chú trọng tới nề
nếp kỷ cương với nội quy, những bài học giáo huấn, không chú ý đến hành vi
ứng xử thực tế.
Gia đình là môi trường đầu tiên hình thành đạo đức cho học sinh, là nơi
lưu giữ các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong gia đình,
thiếu ý thức rèn luyện, không dám đấu tranh với cái sai, thờ ơ vô cảm… ngày
càng nhiều hơn ở đối tượng là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường. Những
hành vi lệch chuẩn ấy là kết quả của việc giáo dục không đồng bộ giữa gia
đình, nhà trường và xã hội.
Văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI về đổi mới căn bản và toàn
diện giáo dục đã nêu: ”Về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt
coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo
đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý
3
thức trách nhiệm xã hội. Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp
chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục thế hệ trẻ.”[7]
Thực tiễn giáo dục tỉnh Bình Dương cho thấy, công tác phối hợp nhà
trường, gia đình và xã hội trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em,
học sinh, sinh viên đã đạt được những kết quả nhất định, phát huy được sức
mạnh tổng hợp và huy động được các nguồn lực trong xã hội tham gia ngày
càng tích cực vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân chủ quan và khách quan, công tác phối hợp còn nhiều hạn chế, chưa đáp
ứng kịp với nhu cầu về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là một trong những nguyên nhân
dẫn đến hiện tượng một số trẻ em chưa được hưởng điều kiện nuôi dưỡng,
chăm sóc và giáo dục tốt nhất; vẫn tồn tại một bộ phận học sinh, sinh viên có
biểu hiện vi phạm về đạo đức, có lối sống hưởng thụ, vướng vào các tệ nạn xã
hội và vi phạm pháp luật. Chính vì thế gia đình và nhà trường cần phải có
biện pháp phối hợp chặt chẽ, thường xuyên để giáo dục học sinh một cách tốt
nhất.
Từ lý do trên, tôi chọn đề tài: “ Thực trạng quản lý hoạt động phối
hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường THPT tỉnh Bình Dương. “
Dương.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học
sinh ở các trường trung học phổ thông.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn nghiên cứu
5
Luận văn chỉ nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa
nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục đạo đức học sinh ở các trường
THPT tỉnh Bình Dương.
6.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa
nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức học sinh một số trường
THPT công lập ở tỉnh Bình Dương.
Mẫu khảo sát gồm các nhóm đối tượng:
-Nhóm 1: bao gồm cán bộ quản lý và giáo viên
-Nhóm 2: học sinh
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
-Quan điểm hệ thống cấu trúc: xem xét đối tượng nghiên cứu như một
bộ phận của hệ thống, vận động và phát triển trong một hệ thống chung. Vận
dụng vào đề tài nghiên cứu, tác giả thấy rằng việc phối hợp giáo dục giữa nhà
trường và gia đình có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của học sinh. Quản
lý tốt việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình sẽ giúp người quản
lý nâng cao hiệu quả quản lý việc dạy và học trong nhà trường.
-Quan điểm lịch sử: xem xét vấn đề nghiên cứu trong một quá trình
phát triển lâu dài từ quá khứ đến hiện tại, từ đó phát hiện ra mối liên hệ của
nhằm hiểu rõ thực trạng và một số biện pháp đề xuất.
7.2.4.4. Phương pháp thống kê toán học
Phân tích các số liệu bằng cách sử dụng phần mềm SPSS phiên bản
13.0 để tính về số liệu phần trăm, điểm trung bình nhằm đưa ra những kết
luận phù hợp.
7
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề phối hợp và quản lý sự phối hợp
giữa nhà trường và gia đình ở nước ngoài
Nhiều nhà giáo dục lỗi lạc trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu mối
quan hệ giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh có ảnh
hưởng lớn đến kết quả giáo dục.
Aristote (384 - 322 TCN) đánh giá rất cao vai trò của giáo dục gia đình
– gia đình được ông coi là môi trường giáo dục đầu tiên của con trẻ và người
mẹ chính là nhà giáo dục đầu tiên của con trẻ. [32, tr 44]
Khổng Tử (551- 479 TCN) coi trọng việc giáo dục đạo đức trong nhân
cách con người. Đó là việc giáo dục lòng nhân ái và biết sống có trên dưới,
trung trực, thủy chung, có kỉ cương từ gia đình đến xã hội.[32, tr 62]
Nhà giáo dục lỗi lạc J.A Comenxki (1592-1670) khẳng định: " Lòng
ham học ở các em cần được kích thích từ bố mẹ, nhà truờng, bản thân môn
học, phuơng pháp dạy học phải thống nhất làm thức tỉnh và duy trì khát vọng
học tập trong học sinh."[32, tr 85]
Nhiều nhà giáo dục lỗi lạc của Liên Xô đã nhấn mạnh đến tầm quan
trường, gia đình. Giáo dục là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về đạo đức, tư
tưởng, hành vi nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, hành vi,
thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội. Câu ca dao: “Con ơi muốn nên thân
người, lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha” thêm một lần nữa khẳng định quan
điểm đúng đắn trên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của dân tộc, Bác đã
nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục: “Ngủ thì ai cũng như lương thiện. Tỉnh
dậy, phân ra kẻ dữ hiền. Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục
9
mà nên”[trích Nhật ký trong tù]. Đặc biệt Người luôn coi trọng việc kết hợp
các hình thức giáo dục, không tuyệt đối hoá bất cứ một hình thức giáo dục
nào. Tại hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957 Bác căn
dặn: "Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục
ngoài xã hội và trong gia đình, đã giúp cho việc giáo dục trong nhà trường tốt
hơn. Giáo dục dù trong nhà trường có tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia
đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn". [2, tr 79]
Con người là sản phẩm tổng hợp của các mối quan hệ xã hội. Nền giáo
dục hình thành nên tính cách con người trước hết là mối quan hệ trong gia
đình, việc dạy và học ở trường và các hoạt động xã hội, môi trường xã hội mà
người đó tham gia. Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp
quan điểm lý luận và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của gia đình và sự phối
hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ trên cơ sở tư
tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về nội dung, cách thức và phương pháp
giáo dục nhằm ngày càng hoàn thiện lý luận về giáo dục gia đình phù hợp với
sự phát triển của khoa học hiện nay.
Điều 64 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã viết: “Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt.
Hà Nội năm 1999 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ”(Giáo trình đào tạo giáo viên
THCS) đã tổng hợp quan điểm lý luận và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của
gia đình và sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo
dục thế hệ trẻ.[2]
- “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại”, Nhà xuất bản
Thống kê, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001 của tác giả Trần Thị Kim
Xuyến. Nội dung cuốn sách gồm hai phần. Phần thứ nhất trình bày những
tranh luận về những vấn đề chung nhất có liên quan đến những thành quả
nghiên cứu xã hội học về gia đình trong quá khứ và hiện tại, những cơ sở lý
luận và phương pháp luận trong nghiên cứu xã hội học về gia đình. Phần thứ
11
hai trình bày những kết quả phân tích dựa trên những nghiên cứu lý luận và
thực nghiệm của tác giả về những vấn đề của gia đình đương đại.[38]
- “Những gì đang cản trở việc kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã
hội trong công tác giáo dục học sinh” Tạp chí Giáo dục số 10, tháng 8/2001
của tác giả Nguyễn Sinh Huy đã nêu: việc kết hợp giữa nhà trường, gia đình
và xã hội từ lâu được xem là nguyên lý cơ bản của giáo dục, vận dụng và
quán triệt được điều đó vào hoạt động thực tiễn sẽ đảm bảo cho giáo dục giữ
vững được chất lượng, phát triển lành mạnh và bền vững. Sự kết hợp giữa nhà
trường và gia đình luôn bị tác động của cơ chế mới, nên các biện pháp tác
động trước đây ít hấp dẫn, kém hiệu quả và những tác động của thương mại
hóa giáo dục đang gặm nhấm những giá trị cao quí, đẹp đẽ của sự kết hợp
giáo dục vốn dĩ được xem là lương tâm đạo đức của thầy cô giáo và cha
mẹ.[16]
- “Vai trò của nhà trường trong việc phối hợp các lực lượng xã hội
giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông hiện nay ” Tạp chí Giáo dục số 267
(kì 1-tháng 8/2011) của tác giả Lê Gia Thanh nhận định: Nhà trường phải tổ
trình nghiên cứu chưa đề cập đến các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác
phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh.
Một số tác giả cũng đã chọn đề tài nghiên cứu về phối hợp giữa nhà
trường và gia đình làm luận văn của mình như:
- “ Nghiên cứu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc
quản lý hoạt động học tập của học sinh ở các trường THPT tỉnh Bà Rịa-Vũng
Tàu”, Nguyễn Văn Trung, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Đại học sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh, 2003.
- “Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở
các trường THCS vùng nông thôn thị xã Bà Rịa”, Dương Văn Thạnh, luận
văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2007.
13
- “Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường-gia đình trong công
tác giáo dục học sinh ở các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An”,
Hồ Văn Thơm, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Đại học sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh, 2009.
Việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình với vấn đề giáo dục trẻ
nhằm đạt mục tiêu phát triển nhân cách được coi là nguyên tắc quan trọng. Sự
phối hợp chặt chẽ trước hết phải đảm bảo thống nhất trong nhận thức cũng
như hành động giáo dục cùng một hướng, một mục đích nhằm tập trung sức
mạnh thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách của học sinh, tránh sự tách rời,
mâu thuẫn, vô hiệu hóa lẫn nhau gây cho các em tâm trạng hoang mang, nghi
ngờ, dao động trước việc lựa chọn, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân
cách.
Những ý kiến của các tác giả về vấn đề phối hợp giữa nhà trường và gia
đình trong việc giáo dục học sinh tuy có khác nhau, song cần phải đặt vấn đề
cấp thiết: cần phải đánh giá đúng thực trạng, phù hợp và sát với từng đối
vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự
mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[4]
- Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt nói: “Quản lý là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động
đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc
trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”.[27]
- Theo Bùi Minh Hiển: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”
[12]
Với những định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối
tượng và khách thể quản lý.
15
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
- Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
qui luật khách quan.
- Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là
con người hoặc nhiều người, giới vô sinh hoặc giới sinh vật.
- Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của
từng cá nhân biến thành thành tựu của xã hội
Từ những ý chung của các định nghĩa, ta hiểu theo nghĩa chung nhất là:
“Quản lý là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý trong một tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích
nhất định”.[15]
1.2.2.Hoạt động
Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ
nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội.[37] Hoạt động giữa nhà