BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Tạ Thị Thanh An
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở CÁC TRƯỜNG
MẦM NON QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Tạ Thị Thanh An
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở CÁC TRƯỜNG
MẦM NON QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lí Giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN THỊ HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
MỤC LỤC .................................................................................................................... 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài ..............................................................................................................6
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................8
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ..............................................................................8
4. Giả thuyết khoa học ........................................................................................................8
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................................8
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ...................................................................................9
7. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................................9
8. Cấu trúc đề tài ...............................................................................................................11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON ............. 12
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................12
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu ngoài nước về giáo dục mầm non và quản lí hoạt động phối
hợp ................................................................................................................................... 12
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu trong nước về giáo dục mầm non và quản lí hoạt động phối
hợp ................................................................................................................................... 13
1.2. Một số khái niệm cơ bản ...........................................................................................14
1.2.1. Quản lý, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường ....................................................... 14
1.2.2. Quản lí trường mầm non ....................................................................................... 20
1.2.3. Quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ..................................... 20
1.3. Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non .................21
1.3.1. Vai trò của nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục ở trường mầm non .. 21
1.3.2. Ý nghĩa của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình .............................. 26
1.3.3. Mục tiêu, nội dung của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường
mầm non .......................................................................................................................... 27
1.3.4. Hình thức, biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non . 27
1.4. Quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non ....29
2.4.2. Nguyên nhân của hạn chế...................................................................................... 75
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 3,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................................................................ 80
3.1. Căn cứ đề xuất biện pháp..........................................................................................80
3.1.1. Định hướng phát triển giáo dục mầm non Quận 3, Tp. HCM .............................. 80
3.1.2. Cơ sở lí luận và thực tiễn ...................................................................................... 81
3.2. Một số biện pháp quản lí ...........................................................................................82
3.2.1. Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và
gia đình. ........................................................................................................................... 82
3.2.2. Nhóm biện pháp tăng cường xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia
đình .................................................................................................................................. 84
3.2.3. Nhóm biện pháp tăng cường tổ chức, chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường
và gia đình ....................................................................................................................... 85
3
3.2.4. Nhóm biện pháp tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình ........................................................................................................... 86
3.2.5. Nhóm biện pháp đảm bảo các điều kiện cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường
và gia đình ....................................................................................................................... 87
3.3. Khảo nghiệm ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
.............................................................................................................................................88
3.3.1. Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức cho CBQL, GV và cha mẹ trẻ về hoạt động
phối hợp giữa nhà trường và gia đình ............................................................................. 89
3.3.2. Nhóm biện pháp tăng cường xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình ........................................................................................................... 94
3.3.3. Nhóm biện pháp tăng tổ chức, chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia
đình .................................................................................................................................. 95
CNV
Công lập
CL
Chủ nghĩa Xã hội
CNXH
Dân lập
DL
Điểm trung bình
ĐTB
Gia đình
GĐ
Giáo dục và Đào tạo
GD & ĐT
Giáo viên
GV
XHCN
Thành phố Hồ Chí Minh
TP HCM
Trung ương
TW
Tiến sĩ
TS
Suy dinh dưỡng
SDD
Tư thục
TT
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Gia đình là một thiết chế của xã hội, một trong những thiết chế xuất hiện sớm nhất, lâu
đời nhất và được coi như một xã hội thu nhỏ, một tế bào của xã hội. Đối với giáo dục, gia
đình vừa là môi trường xã hội vừa là thiết chế trực tiếp thỏa mãn nhu cầu học tập của thế hệ
mới tới phụ huynh. Việc nắm bắt được chương trình giáo dục mầm non mới không những là
điều kiện để gia đình phối hợp, tham gia mà còn có thể giám sát nhà trường trong việc chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con em mình. Nắm được chương trình giáo dục mầm non mới
cũng là một cơ hội để gia đình tự nâng cao kiến thức nuôi dạy con và phối hợp tốt hơn với
nhà trường và cộng đồng cùng vì tương lai của chính con em mình.
Để hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non, nhằm nâng cao chất lượng chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em năm tuổi vào lớp 1 Bộ giáo dục và
Đào tạo cũng đã ban hành thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT quy định về bộ chuẩn phát triển
trẻ em 5 tuổi. Đồng thời, bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi cũng là căn cứ để xây dựng chương
trình, tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn các bậc cha mẹ và cộng đồng trong việc chăm sóc,
nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em 5 tuổi nhằm nâng cao nhận thức về sự phát triển của trẻ em,
tạo sự thống nhất giữa các môi trường chăm sóc, giáo dục trẻ.
Ở lứa tuổi mầm non, bỡ ngỡ vì phải tiếp cận với môi trường mới trẻ còn phải tiếp nhận
đồng thời sự giáo dục của nhà trường, của gia đình và xã hội cho nên phải phối hợp giáo
dục để nâng cao tinh thần trách nhiệm của gia đình và xã hội, tạo điều kiện để các em được
giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc. Quản lí hoạt động phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường
và xã hội là một bộ phận của quản lí nhà trường nhằm làm cho quá trình giáo dục thống
nhất, toàn vẹn và việc giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội được tốt hơn. Tuy nhiên, ở
lứa tuổi này, trẻ tiếp nhận trực tiếp sự chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục từ gia đình và nhà
trường là chủ yếu vì trẻ chưa tiếp xúc nhiều với xã hội nên sự phối hợp giữa gia đình và nhà
trường là vô cùng quan trọng. Trên thực tế công tác quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình còn nhiều bất cập như: nhận thức về công tác phối hợp, nhận thức về QL
hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình còn rất hạn chế ở số ít giáo viên và phần lớn
cha mẹ trẻ; các nội dung phối hợp tuy đầy đủ nhưng chưa được thực hiện thường xuyên và
đồng bộ; các hình thức, biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình chưa được phong
phú; còn nhiều hạn chế trong công tác xây dựng kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế
hoạch; kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
7
đình ở trường mầm non.
5.2. Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các
trường mầm non Quận 3, Tp.HCM
8
5.3. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường
và gia đình ở các trường mầm non.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Về nội dung: Khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp quản lí hoạt động phối hợp
giữa nhà trường và gia đình ở một số trường mầm non công lập Quận 3.
6.2. Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lí, giáo viên và cha mẹ trẻ ở 14 trường mầm non
trên 24 trường mầm non công lập của Quận 3.
6.3. Thời gian: Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia
đình ở một số trường mầm non công lập Quận 3 năm 2012 và đề xuất các biện pháp cho các
năm tiếp theo.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Quan điểm phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quan điểm hệ thống - cấu trúc nghiên cứu đối tượng một cách toàn diện, trên nhiều
mặt dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận và xác định mối quan hệ hữu cơ
giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển.
Vận dụng quan điểm này vào đề tài, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt
chẽ giữa quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình với quản lí các hoạt động
khác của trường mầm non. Quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là một
công tác quản lí trong toàn bộ hệ thống quản lí chung của nhà trường. Thông qua việc
nghiên cứu sẽ phát hiện ra những yếu tố mang tính bản chất, tính quy luật đảm bảo sự vận
động và phát triển hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường mầm non.
* Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập những thông tin từ cán bộ quản
lí, giáo viên, cha mẹ trẻ về thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình đồng
thời khảo sát tính cần thiết, khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất.
* Nội dung:
- Khảo sát thực trạng hoạt động phối hợp và quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình;
- Khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất.
* Công cụ khảo sát: sử dụng 3 mẫu phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lí, giáo viên và
cha mẹ trẻ.
7.2.2.2. Phương pháp quan sát
10
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập các thông tin trên cơ sở quan sát trực tiếp các
hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; quan sát hoạt động quản lí của cán bộ quản lí để có thông
tin đầy đủ hơn về thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình.
7.2.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Sử dụng phương pháp này nhằm trao đổi, xin ý kiến trực tiếp của cán bộ quản lí, giáo
viên, ý kiến phụ huynh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm thu thập
thông tin đồng thời làm rõ hơn những vấn đề từ phiếu điều tra.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này nhằm xử lí kết quả điều tra và số liệu thu được thông qua
các phần mềm máy tính nhằm định lượng kết quả nghiên cứu.
8. Cấu trúc đề tài
MỞ ĐẦU
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở
trường mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở một số
trường mầm non Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh
Alan Johnson, bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh, cho rằng cha mẹ không nên phó thác việc chăm
sóc, giáo dục con em mình cho nhà trường. Ngược lại, ông cho biết vai trò của các bậc phụ
huynh rất quan trọng, thậm chí sẽ mang lại một sự “khác biệt lớn” so với những kết quả mà
trẻ đạt được từ trường học. Theo ông Johnson, việc giáo dục con trẻ tuy là vấn đề riêng tư
của mỗi gia đình nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến xã hội sau này (Báo Tuổi Trẻ ngày
13/11/2006).
12
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu trong nước về giáo dục mầm non và quản lí hoạt động
phối hợp
Từ thời xa xưa, giữa nhà trường và gia đình ở nước ta đã có mối quan hệ khăng khít.
Câu ca dao: “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” đã khát quát
được mối quan hệ này.
Tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục (6-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần,
còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà
trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia
đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn [38].
Đảng và Nhà nước ta hiện nay rất quan tâm đến công tác phối hợp giữa nhà trường,
gia đình và xã hội và đã coi đó là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo kết quả giáo dục. Một số
công trình đã nghiên cứu, tổng hợp quan điểm lí luận và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của
gia đình và sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ
như:
“Kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội”, chương 20 giáo trình
giáo dục học tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1988 của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
[26].
“Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện
mới”, tập thể tác giả ở Trung tâm Giáo dục học, thuộc viện Khoa học Giáo dục, 1993.
và gia đình trong chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non chưa được đề cập cụ thể, hệ
thống. Đặc biệt, ở thành phố Hồ Chí Minh chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề vấn
đề này. Vì vậy, trong điều kiện công tác của mình, tác giả thấy cần phải có sự nghiên cứu về
“Thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường mầm non
Quận 3, Tp.HCM”, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt
động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường
1.2.1.1. Quản lí
Quản lí là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người có lao động, con
người có sự hợp tác với nhau cùng hoạt động với những mục đích chung nào đó. Quản lí
cần thiết cho mọi lĩnh vực hoạt động trong đời sống của con người. Ở đâu có sự tạo lập nên
nhóm xã hội, ở đó cần đến quản lí, dù nhóm đó to hay nhỏ, chính thức hay không chính thức
và bất kể nội dung hoạt động của nhóm là gì. Hiện nay, “quản lí” được nhiều người thừa
nhận là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lí trở thành một hoạt động phổ biến, diễn
14
ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Các Mác coi quản lí là một
đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: “Bất cứ lao động xã
hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu
phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những
chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung
của cơ chế sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ
chế sản xuất đó… Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì
cần có một nhạc trưởng” [25]. Như vậy, Các Mác đã chỉ ra bản chất quản lí là một hoạt
động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát
triển của xã hội loài người. Quản lí trở thành một hoạt động phổ biến ở mọi nơi, mọi lĩnh
vực, mọi cấp độ và các liên quan đến mọi người. Đó là hoạt động bắt nguồn từ tính chất
đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22].
Tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp viết: “Quản lí là một hoạt động cần thiết khi con người
kết hợp với nhau trong các tổ chức, nhằm đạt được những mục tiêu chung. Như vậy, hoạt
động quản lí là hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành một tập thể
[12].
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ năm 2010, quản lí được định nghĩa là:
“trông coi và giữ gìn theo những nhu cầu nhất định, tổ chức và điều khiển các hoạt động
theo những nhu cầu nhất định” [37] .
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu:
- Quản lí là một loại lao động để điều khiển.
- Quản lí là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện (quản lí hành chính, quản lí
văn hóa, quản lí sản xuất…)
- Quản lí là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống.
- Quản lí là một tổ hợp phương pháp tạo nên vận hành của hệ thống nhằm thực hiện
các mục tiêu.
- Quản lí tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm hai phân hệ chủ thể quản lí và khách
thể quản lí.
- Đối tượng quản lí chủ yếu vẫn là con người.
Từ những ý nghĩa chung của các khái niệm và xét quản lí trên phương diện là một hoạt
động, có thể hiểu một cách khái quát: quản lí là sự tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và
đạt được mục đích đã đề ra.
1.2.1.2. Quản lí giáo dục
Theo tác giả Trần Kiểm “Giáo dục và quản lí giáo dục là tồn tại song hành. Nếu nói
giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói
16
như thế về quản lí giáo dục”. Trong khái niệm về quản lí giáo dục ông đã đưa ra hai nhóm
khái niệm quản lí giáo dục tương ứng: một cho quản lí một nền (hệ thống) giáo dục đó là quản
- Tóm lại, quản lí giáo dục là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL giáo
dục đến các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoạch định, tổ chức,
điều phối, điều chỉnh, giám sát, kiểm tra… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục
(nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục đích phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.2.1.3. Quản lí nhà trường
Quản lí nhà trường (trường học) là quản lí nhà nước trên một lĩnh vực cụ thể là giáo
dục, tại một đơn vị, cụ thể là trường học. Trong đó chủ thể của hoạt động quản lí nhà trường
(là bộ máy quản lí nhà trường) thực hiện hoạt động điều hành, điều chỉnh đối tượng của quá
trình quản lí (là hoạt động của nhà trường) gồm các giáo viên, học sinh nhằm thực hiện mục
tiêu nhiệm vụ của nhà trường.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí nhà trường là một tập hợp những tác động
tối ưu của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng
các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng
vốn tự có. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá
trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà
trường tiến lên trạng thái mới [28].
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục
của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo
dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và
với từng học sinh” [15].
Quản lí nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của
quản lí, đồng thời có những nét đặc thù riêng của nó. Quản lí nhà trường được quy định bởi
bản chất hoạt động sư phạm của người thầy; bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong
mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể quản lí vừa là chủ thể hoạt động của bản thân
mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong
quá trình học tập và rèn luyện theo mục tiêu giáo dục và được xã hội thừa nhận.
Quản lí nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các
giáo dục cao hơn. Thực hiện đúng chương trình và phương pháp giáo dục để chất lượng
giáo dục ngày một nâng cao. Quản lí phải sát sao bằng các công việc như kiểm tra, thanh tra
kịp thời để uốn nắn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các hoạt động được thực hiện đúng theo kế
hoạch đề ra.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, công nhân viên và tập thể học sinh dạy tốt, học tốt; tạo
bầu không khí sư phạm vui vẻ, thoải mái, đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ.
- Quản lí tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD & ĐT. Quản lí cả thời
gian và chất lượng học tập. Quản lí học sinh tốt thì chất lượng sẽ cao.
19
- Quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhằm phục vụ tốt cho việc giảng dạy, học tập,
giáo dục học sinh. Thường xuyên kiểm tra, bổ sung thêm những thiết bị mới theo yêu cầu
đổi mới chương trình giáo dục.
- Quản lí nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng quy tắc tài chính của nhà
nước và của ngành giáo dục, đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác
nhằm xây dựng, mua sắm thêm thiết bị phục vụ cho việc dạy và học.
- Quản lí việc thi đua, khen thưởng và việc đề bạt cán bộ kế cận, nâng bậc lương cho
giáo viên. Các hoạt động này phải được công khai minh bạch trước hội đồng sư phạm nhà
trường. Luôn chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ giáo viên, công nhân viên.
Phải tạo một phong trào thi đua liên tục trong nhà trường để đạt được mục tiêu giáo dục đã
đề ra.
Tóm lại, quản lí nhà trường là những tác động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch,
hợp quy luật của chủ thể quản lí trường học đến các hoạt động giáo dục trong Nhà trường
nhằm đảm bảo cho Nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng,
thực hiện được mục tiêu giáo dục của Nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt nam mà tiêu điểm
hội tụ là mục tiêu của hoạt động dạy học – giáo dục thế hệ trẻ.
1.2.2. Quản lí trường mầm non
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc
thực hiện theo một kế hoạch chung để đạt được mục đích chung đã đề ra.
Quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình (một trong những nội dung
quản lí nhà trường của nhà quản lí) là những tác động có ý thức của nhà quản lí nhằm định
hướng, tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình
trong quá trình giáo dục học sinh đảm bảo nguyên lí giáo dục, phương pháp giáo dục, đảm
bảo nguyên tắc quản lí giáo dục làm cho chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Đó
là việc lập kế hoạch; tổ chức, điều khiển và kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình trong quá trình giáo dục học sinh.
1.3. Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non
1.3.1. Vai trò của nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục ở trường mầm
non
1.3.1.1. Vai trò, nhiệm vụ của nhà trường mầm non
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân nên bậc mầm non cũng có mục tiêu giáo dục
chung như các bậc học khác. Mục tiêu đó được quy định ở điều 22 (chương 2, Luật giáo
dục, 4/6/2005), thể hiện rõ sự quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về
giáo dục, thể hiện rõ tính định hướng, Xã hội Chủ nghĩa đối với phát triển giáo dục: “Đào
tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện”. Đó là: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là
21
giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”.
Để đảm bảo cho sự nghiệp giáo dục phát triển đòi hỏi nhà trường các cấp phải hoạt
động đúng mục tiêu và nguyên lí giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với
lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”; tăng cường hiệu lực quản lí của Nhà
nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; thực hiện mục tiêu lớn
của đất nước: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Nhà trường là
nơi đề ra nội dung, biện pháp phối hợp giáo dục, đóng vai trò chủ đạo trong việc phối hợp
với gia đình và các lực lượng khác trong xã hội để cùng giáo dục học sinh. Môi trường giáo
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật.
- Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo yêu cầu tối
thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn.
- Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động chăm sóc,
nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em.
- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động
xã hội trong cộng đồng.
- Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy
định.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [1].
1.3.1.2. Vai trò, đặc điểm của gia đình
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (2010) thì “Gia đình là một tập hợp người
cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn
nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [37].
•
Vị trí, vai trò của gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội hết sức quan trọng, một đơn vị kinh tế, một đơn vị cơ
sở, một xã hội thu nhỏ đồng thời là một nhóm tâm lí đặc thù. Gia đình chứa đựng tất cả các
quan hệ của xã hội và thực hiện tất cả các chức năng cần thiết cho sự tồn tại, vận động và
biến đổi xã hội. Gia đình là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, sự hoàn thiện
của mỗi cá nhân thông qua việc thực hiện các chức năng, trong đó chức năng quan trọng là
chăm sóc, giáo dục con cái. Thực hiện tốt chức năng chăm sóc, giáo dục con cái không chỉ
đem lại thành quả cho chính gia đình mà còn góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục của đất
nước, sự tồn tại và phát triển của xã hội. Các nhà nghiên cứu thường quan niệm gia đình là
tế bào của xã hội, nơi chứa đựng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, cái nôi của
giáo dục nhân cách con người, tính người và tình người, giáo dục hành vi ứng xử văn hóa
con người.
•