CƠ sở THỰC TIỄN về QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học môn NGỮ văn ở các TRƯỜNG TRUNG học cơ sơ HUYỆN hải hà, TỈNH QUẢNG NINH THEO HƯỚNG dạy học TÍCH hợp - Pdf 51

CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN
LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SƠ
HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG
NINH THEO HƯỚNG DẠY
HỌC TÍCH HỢP


- Khái quát tình hình giáo dục các trường
Trung học cơ sở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng
Ninh
- Hệ thống giáo dục huyện Hải Hà
Hải Hà là một huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Đông
Bắc tỉnh Quảng Ninh. Cơ cấu kinh tế chủ yếu của huyện là nông lâm - ngư nghiệp, đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực,
giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp, tăng tỉ trọng ngành
công nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ. Tình hình chính
trị, kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục ổn định và phát triển, an ninh
quốc phòng được giữ vững, đời sống vật chất của nhân dân được
nâng lên đã có ảnh hưởng tích cực đến công tác giáo dục - đào tạo
trên địa bàn huyện.
Sự nghiệp giáo dục được Đảng, chính quyền các cấp, các
ngành quan tâm. Hệ thống trường lớp, nhà hiệu bộ, nhà công vụ
được đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa, trang thiết bị dạy
học đã được tăng cường đầu tư xây dựng và mua sắm góp phần
đưa chất lượng giáo dục đào tạo của huyện Hải Hà ngày càng
toàn diện hơn.
- Hệ thống giáo dục huyện Hải Hà
TT

Loại trường

Trường Trung học cơ sở

15

126

10

4

Trường Trung học phổ

3

146

1

1

4

thông
5

Giáo dục thường xuyên

Bảng số liệu cho thấy, sự ghiệp giáo dục nói chung và
giáo dục cấp THCS nói riêng trên địa bàn huyện Hải Hà đã
được các cấp lãnh đạo và nhân dân đặc biệt quan tâm. Hệ thống

1

THCS Thị trấn Quảng Hà

20

39

760

9

2

THCS Quảng Điền

8

15

177

5

3

THCS Quảng Phong

8


6

PTDT

bán

trú

THCS

9

22

285

5

trú

THCS

10

22

330

7


7

13

148

4

12 THPT và THCS Đường Hoa

9

15

300

5

Quảng Đức
7

PTDT

bán

Quảng Sơn
8


9


156

4

126

257

3824

75

Cộng

Qua bảng chúng tôi nhận thấy, giáo dục cấp THCS trên
địa bàn huyện đã được phát triển rộng khắp tới các xã, thị trấn
trên địa bàn huyện, số trường có cấp THCS trên địa bàn huyện
là 15 trường; số lớp là 126 lớp; số học sinh là 3824; số giáo
viên cấp THCS trên địa bàn huyện là 257; số giáo viên dạy Ngữ
văn là 75, đảm bảo đáp ứng yêu cầu giáo dục trong các nhà
trường THCS trên toàn huyện.
- Thực trạng dạy học môn Ngữ văn ở các trường
Trung học cơ sở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Để nghiên cứu thực trạng dạy học và thực trạng quản lý
hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở
huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, tác giả luận văn đã sử dụng kết
hợp nhiều phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Trong đó chủ yếu
sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi và nghiên cứu các



3

THCS Quảng Thành

6

10

4

PTDT bán trú THCS Quảng Đức

6

16

5

THCS Quảng Phong

6

11

6

Phòng Giáo dục và Đào tạo

9


TT

1

Nội dung

Vai trò của môn

Rất quan
trọng

Khá
quan
trọng

Quan
trọng

Không
quan
trọng

SL

%

SL

%


3

trường
Sự cần thiết của
2

môn Ngữ văn trong
thực tiễn cuộc sống

80

66,
7

20

16,
7

10

8,3

10

Số liệu thống kê trong bảng cho thấy, đa số cán bộ, giáo
viên đều nhận thức được tầm quan trọng của môn Ngữ văn. Vai
trò của môn Ngữ văn trong các môn học của nhà trường, có đến
66,7% cán bộ, giáo viên được hỏi đánh giá ở mức rất quan


Tên trường
Tổng

Giỏ

Kh

i

á

TB

Yế
u

1

THCS Thị trấn Quảng Hà

9

5

4

0

0


THCS Quảng Thành

5

2

2

1

0


5

THCS Quảng Thắng

4

2

2

0

0

6


4

2

1

1

0

9

THCS Quảng Chính

7

3

3

1

0

10 THCS Đường Hoa

4

2


13 THCS Quảng Minh

5

3

1

1

0

14 TH và THCS Cái Chiên

3

2

0

1

0

15 THCS Quảng Thịnh

4

2


kiện cho số giáo viên này được có dịp giao lưu học hỏi ở các
giáo viên dạy khá, giỏi nhằm để nâng cao trình độ chuyên môn
và tay nghề của mình, tạo điều kiện cho các giáo viên nâng cao
trình độ tin học để dễ dàng ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học nhằm thực hiện đổi mới phương pháp dạy học mang lại
hiệu quả cao hơn.
Bên cạnh đó, một số giáo viên lớn tuổi có kinh nghiệm
nhưng sức bật và sự năng động giảm, một số sức khỏe hạn chế,
mặc dù tuổi nghề cao song còn hạn chế về năng lực chuyên
môn cũng như sức ì trong công tác đổi mới phương pháp dạy
học, số giáo viên này chưa thực sự là hạt nhân trong chuyên
môn. Đội ngũ giáo viên trẻ khá đông, một số mới ra trường nên
kinh nghiệm dạy học còn ít, trình độ chuyên môn không đồng
đều, một số ít nhận thức về nghiệp vụ, trách nhiệm còn hạn chế,
một số lớn đang ở tuổi sinh đẻ, nuôi con nhỏ nên thời gian đầu
tư cho chuyên môn còn hạn chế.
Nhìn tổng thể, chất lượng dạy học Ngữ văn ở các trường
Trung học cơ sở, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh có nhiều cải
thiện, tiến bộ. Giáo viên đã áp dụng nhiều phương pháp dạy học


mới. Hiệu quả trong các giờ dạy đã được nâng cao, đáp ứng kịp
đòi hỏi của sự phát triển xã hội.
- Thực trạng phương thức tổ chức dạy học môn Ngữ
văn ở các trường Trung học cơ sở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng
Ninh.
Phương thức dạy học môn Văn theo truyền thống vẫn
được sử dụng phổ biến ở các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh
Quảng Ninh. Theo phương pháp này, nội dung dạy học môn
Ngữ văn bao gồm văn học, tiếng Việt và tập làm văn. Các môn


Phương thức dạy theo
bài
Phương thức dạy tích
hợp

22

18

3

Tích hợp nội môn

19

4

Tích hợp liên môn

10

Khá

%
18,
3
15,
0
15,


38

Yếu

%
29,
2
27,
5
25,
0
31,
7

SL

30

33

33

60

Theo số liệu điều tra cho thấy, thực trạng phương thức
dạy học môn Văn đang có những luồng ý kiến khác nhau. Dạy
theo phương thức truyền thống, nghĩa là dạy theo các bài, các
phần tuần tự trong chương trình, nội dung đã xác định. Có
18,3% số người được hỏi đánh giá ở mức tốt; 27,5% đánh giá ở

25,0%; mức yếu 27,5%. Như vậy, phương thức này vẫn còn
những vấn đề bất cập, chưa được đánh giá cao.
Dạy tích hợp liên môn, tức là dạy tích hợp môn Ngữ văn
với các môn học khác như Sử, Địa, Giáo dục công dân…Đây là


phương thức dạy mới nhưng trong thực tiễn vẫn còn nhiều ý
kiến khác nhau. Ý kiến đánh giá mức tốt chiếm 8,3%; mức khá
10,0%; mức trung bình 31,7%; mức yếu 50,0%. Đây là phương
thức có ý kiến đánh giá ở mức thấp nhất trong bảng thống kê.
Điều đó chứng tỏ dạy theo tích hợp liên môn đang gặp nhiều
khó khăn.
- Thực trạng quản lý quá trình dạy học
môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở
huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Thực trạng quản lý kế hoạch dạy học môn Ngữ văn ở
các trường Trung học cơ sở theo hướng tích hợp
Kế hoạch dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học
cơ sở, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh là sự cụ thể hóa chương
trình dạy học, quy định trình tự nội dung môn học, cụ thể tới
từng chương và kế hoạch thực hiện từng nội dung đó. Đây là
căn cứ để giáo viên tiến hành tổ chức hoạt động dạy học. Quản
lý kế hoạch dạy học là chức năng quan trọng hàng đầu của quản
lý giáo dục nhà trường. Mọi hoạt động dạy và học của các lực
lượng trong nhà trường phải được kế hoạch hóa.
Quan sát thực tiễn cho thấy, việc lập kế hoạch dạy học
môn Ngữ văn được thực hiện ngay đầu năm học. Kế hoạch dạy
học môn Ngữ văn được tổ trưởng chuyên môn và hiệu trưởng




37 46,2 33 41,3

10

12,5

0

0

CBQL 20 50,0 17 42,5

3

7,5

0

0

41 51,2 34 42,5

5

6,3

0

0


29 36,2 25 31,3

26

32,5

0

0

CBQL 69 43,1 61 38,1

30

18,8

0

0

GV 143 44,7 123 38,4

54

16,9

0

0



tỉnh Quảng Ninh cho thấy, số ý kiến đánh giá ở mức tốt chiếm
tỷ lệ 43,1%; số ý kiến đánh giá ở mức khá chiếm 38,1%; số ý
kiến đánh giá ở mức trung bình chiếm 18,8%. Không có ý
kiến nào đánh giá ở mức yếu. Ý kiến đánh giá của giáo viên ở
mức tốt chiếm tỷ lệ 44,7%; mức khá 38,4%; mức trung bình
16,9%. Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu. Đánh giá
của cán bộ, giáo viên tương đương nhau.
Xem xét ý kiến đánh giá của các đối tượng khác nhau
trên từng tiêu chí cho thấy như sau: Thực trạng lập kế hoạch
dạy học Ngữ văn chung toàn trường, ý kiến đánh giá của cán bộ
quản lý ở mức tốt chiếm tỷ lệ 45,0%; mức khá 42,5%; mức
trung bình 12,5%. Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu. Ý
kiến đánh giá của giáo viên ở mức tốt chiếm 46,2%; mức khá
41,3%; mức trung bình 12,5%. Không có ý kiến nào đánh giá ở
mức yếu.
Thực trạng lập kế hoạch dạy học Ngữ văn từng năm học,
từng khối lớp. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý ở mức tốt
chiếm tỷ lệ 50,0%; mức khá 42,5%; mức trung bình 7,5%.
Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu. Ý kiến đánh giá của
giáo viên ở mức tốt chiếm tỷ lệ 51,2%; mức khá 42,5%; mức
trung bình 6,3%. Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu. Nội
dung này được đánh giá cao nhất trong bảng thống kê.


Thực trạng triển khai kế hoạch dạy học Ngữ văn đến cán
bộ, giáo viên. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý ở mức tốt
chiếm tỷ lệ 42,5%; mức khá 37,5%; mức trung bình 20,0%.
Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu. Ý kiến đánh giá của


tượng
Nội dung đánh
1 Quản lý mục tiêu CBQL 16 40,0 16 40,0

8

20,0

0

0

33 41,2 33 41,2

14

17,5

0

0

2 Quản lý nội dung CBQL 18 45,0 16 40,0

6

15,0

0


0

4 Quản lý sách giáo CBQL 12 30,0 11 27,5

17

42,5

0

0

25 31,2 23 28,8

32

40,0

0

0

CBQL 61 38,1 57 35,6

42

26,3

0

Ngữ văn

GV

Tổng cộng


Kết quả thống kê trong bảng cho thấy, đánh giá chung về
thực trạng quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình, sách giáo
khoa môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Hải Hà,
tỉnh Quảng Ninh được phân tán trên các mức tốt, khá, trung bình,
không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu. Trong đó, ý kiến đánh giá
của cán bộ quản lý ở mức tốt chiếm 36,1%; mức khá 35,6%; mức
trung bình 26,3%. Ý kiến đánh giá của giáo viên mức tốt chiếm
39,4%; mức khá 37,2%; mức trung bình 23,4%. Về cơ ý kiến đánh
giá của cán bộ quản lý và giáo viên tương đương nhau. Các ý kiến
đánh giá ở mức trung bình còn chiếm tỷ lệ khá cao.
Xem xét ý kiến đánh giá của các đối tượng khác nhau
trên từng tiêu chí cho thấy như sau: Thực trạng quản lý mục
tiêu dạy học môn Ngữ văn theo hướng dạy học tích hợp. Ý kiến
đánh giá của cán bộ quản lý ở mức tốt chiếm tỷ lệ 40,0%; mức
khá 40,0%; mức trung bình 20,0%. Không có ý kiến nào đánh
giá ở mức yếu. Ý kiến đánh giá của giáo viên ở mức tốt chiếm
tỷ lệ 41,2%; mức khá 41,2%; mức trung bình 17,5%. Không có
ý kiến nào đánh giá ở mức yếu.
Thực trạng quản lý nội dung dạy học môn Ngữ văn theo
hướng dạy học tích hợp. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý ở
mức tốt chiếm tỷ lệ 45,0%; mức khá 40,0%; mức trung bình
15,0%. Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu. Ý kiến đánh
giá của giáo viên ở mức tốt chiếm tỷ lệ 46,2%; mức khá 42,5%;


tượng

1 Chỉ đạogiá
xây dựng CBQL 16 40,0

14

35,0

10

25,0

0

0

33 41,2

29

36,3

18

22,5

0


CBQL 13 32,5

12

30,0

15

37,5

0

0

27 33,7

25

31,3

28

35,0

0

0

CBQL 10 25,0


31,2

57

35,6

0

0

110 34,4 104 32,5 106 33,1

0

0

kế hoạch giảng
dạy tích hợp của

GV

giáo viên

án các tiết dạy tích
GV

hợp
3 Chỉ đạo phương
pháp dạy của giáo
viên

41,2%; mức khá 36,3%; mức trung bình 22,5%. Không có ý
kiến đánh giá ở mức yếu.
Thực trạng tổ chức soạn giáo án các tiết dạy tích hợp. Ý
kiến đánh giá của cán bộ quản lý ở mức tốt chiếm tỷ lệ 35,0%;
mức khá 32,5%; mức trung bình 32,5%. Không có ý kiến nào
đánh giá ở mức yếu. Ý kiến đánh giá của giáo viên ở mức tốt
chiếm tỷ lệ 36,3%; mức khá 33,7%; mức trung bình 30,0%.
Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu.
Thực trạng chỉ đạo sử dụng phương pháp dạy tích hợp


của giáo viên. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý ở mức tốt
chiếm tỷ lệ 32,5%; mức khá 30,0%; mức trung bình 37,5%.
Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu. Ý kiến đánh giá của
giáo viên ở mức tốt chiếm tỷ lệ 33,7%; mức khá 31,3%; mức
trung bình 35,0%. Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu.
Thực trạng dự giờ bài giảng tích hợp của giáo viên. Ý
kiến đánh giá của cán bộ quản lý ở mức tốt chiếm tỷ lệ 25,0%;
mức khá 27,5%; mức trung bình 47,5%. Không có ý kiến nào
đánh giá ở mức yếu. Ý kiến đánh giá của giáo viên ở mức tốt
chiếm tỷ lệ 26,3%; mức khá 28,7%; mức trung bình 45,0%.
Không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu. Trong đó, ý kiến
đánh giá ở mức trung bình chiếm tỷ lệ cao hơn hẵn so với các
mức khác.
- Thực trạng quản lý hoạt động học của học sinh theo
hướng dạy học tích hợp
Quản lý hoạt động học của học sinh là quản lý một chủ
thể trung tâm của quá trình dạy học. Nhận thức được tầm quan
trọng của hoạt động học trong dạy học tích hợp, các nhà trường
đã luôn quan tâm xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status