1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ MINH THU
QUẢN LÝ QUI TRÌNH KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN HẢI AN, HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngọc Bích
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
6
1.1. Tổng quan về quản lí kiểm tra đánh giá nói chung và quản lí kiểm
tra đánh giá môn Ngữ văn cấp THCS nói riêng
6
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về quản lí kiểm tra đánh giá trên thế
giới và các công trình nghiên cứu tại Việt nam
6
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về quản lí kiểm tra đánh giá môn Ngữ
văn cấp THCS
8
1.2. Các khái niệm của đề tài
9
1.2.1. Quản lý
9
1.2.2. Biện pháp quản lý
10
1.2.3. Kiểm tra
12
1.2.4. Đánh giá
13
1.2.5. Kiểm tra đánh giá
14
1.2.6. Kết quả học tập
15
1.2.7. Đổi mới công tác kiểm tra – đánh giá
15
40
2.1. Giới thiệu tổng quan về tình hình phát triển của giáo dục cấp THCS
quận Hải An
40
2.2. Thực trạng về hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn
Ngữ văn cấp THCS quận Hải An, Hải Phòng
44
2.2.1.Những nội dung đã đạt được trong công tác kiểm tra đánh giá kết
quả học tập môn Ngữ văn
46
2.2.2. Hình thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp
48
2.2.3. Một số giáo viên và học sinh chưa nắm rõ mục tiêu môn học và
mục đích kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn
50
2.2.4. Ngân hàng câu hỏi chưa thực sự có chất lượng
53
2.2.5. Kiểm tra đánh giá thường xuyên chưa thực sự đều đặn
54
2.2.6. Nội dung kiểm tra chưa phù hợp với mục tiêu và nôi dung môn học
55
2.2.7. Kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn chưa khích lệ động viên được người
học
59
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn
71
3.1.3. Đảm bào tính hệ thống
71
3.1.4. Đảm bảo tính khả thi
72
3.2. Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra đánh
giá kết quả học tập của học sinh
72
3.2.1. Biện pháp 1. Nâng cao nhận thức cho các Tổ trưởng chuyên môn,
giáo viên và học sinh về kiểm tra đánh giá
72
3.2.2. Biện pháp 2. Xây dựng kế hoạch và tích cực tổ chức áp dụng quy
trình kiểm tra đánh giá mới cho môn Ngữ văn
76
3.2.3. Biện pháp 3: Đào tạo bồi dưỡng và chuẩn hoá đội ngũ tham gia
hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn
88
3.2.4. Biện pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kiểm
tra đánh giá môn Ngữ văn
92
3.3. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp.
93
Tiểu kết chương 3
96
ĐT
Đào tạo
GV
Giáo viên
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
HS
Học sinh
KT
Kiểm tra
KTĐG
Kiểm tra đánh giá
TB
Trung bình
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
kiểm tra đánh giá với các môn ở cấp THCS như sau [18]
1- Kiểm tra đánh giá chưa đúng, đủ mục tiêu môn học: còn nhiều đề
kiểm tra mới chỉ đánh giá được một phần kiến thức môn học, thậm chí có đề
còn ra ngoài nội dung môn học.
2- Kiểm tra đánh giá còn ở mức trí năng (nhận thức và tư duy) bậc thấp
chưa đánh giá được năng lực phân tích và giải quyết vấn đề, kết quả là điểm số
có thể rất cao, nhưng năng lực làm việc thấp.
3 - Kiểm tra đánh giá, chấm, cho điểm chưa chính xác.
4 - Kiểm tra đánh giá thiếu khách quan: còn hiện tượng chấm bài, cho
điểm tuỳ tiện, theo cảm tính, thậm chí theo ngẫu hứng.
5 - Kiểm tra đánh giá chưa đề cập triệt để đến vai trò điều chỉnh giảng
2
dạy, chưa thực sự góp phần vào việc điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng
dạy của giáo viên.
6 - Kiểm tra đánh giá kém tác dụng trong điều chỉnh động cơ, mục tiêu
học tập của người học hay nói cách khác là kiểm tra đánh giá chưa thực sự vì
sự tiến bộ của người học.
7 - Trong kiểm tra đánh giá còn nhiều tiêu cực.
Kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn cấp THCS cũng không nằm ngoài những tồn
tại chung đã nêu ở trên. So với môn học khác, Ngữ văn là môn học có nhiều
nét đặc thù riêng biệt, đóng góp quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu giáo
dục toàn diện đối với học sinh. Trong kiểm tra đánh giá nhiều năm qua môn
học này chưa đem lại sự hứng thú học tập đối với học sinh. Cấu trúc đề còn
mang nặng tính truyền thống, giáo viên chưa thực sự đổi mới tư duy, ra đề bài
kiểm tra vẫn theo một motip cũ rập khuôn, máy móc. Nội dung đề bài chủ yếu
nặng về kiến thức hàn lâm, hay thuần tuý là những kiến thức văn học mà chưa
đề cập đến những vấn đề, đề tài liên quan đến cuộc sống con người. Đó là
thực tế của kiểu tư duy ra đề lạc hậu thiếu tính khoa học và nhân văn. Hay nói
một cách cụ thể hơn là đề bài văn của chúng ta hiện nay đã vô tình tách rời giá
Đề tài nghiên cứu, đề xuất quy trình tổ chức kiểm tra đánh giá mới để
quản lí qui trình kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm
tra đánh giá kết quả học tập của học sinh môn Ngữ văn tại các trường THCS
quận Hải An, Hải Phòng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức kiểm tra đánh giá và quản lí công
tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo cách tiếp cận mới (quản lý mở, lấy
người học làm trung tâm ).
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra đánh giá và quản lý
công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của các trường THCS
quận Hải An
- Đề xuất một quy trình tổ chức kiểm tra đánh giá hiệu quả nhằm đổi
mới công tác quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học
4
sinh tại các trường THCS quận Hải An trong giai đoạn hiện nay
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn
Ngữ văn các trường THCS quận Hải An.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lí qui trình kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay quá trình quản lí kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn tại các trường
THCS quận Hải An đang có nhiều bất cập, thiếu tính hệ thống. Vì vậy nếu sử
dụng qui trình kiểm tra đánh giá đề cập trong luận văn để quản lí hoạt động
này thì sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn cấp
THCS trong toàn quận.
6. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quản lí qui trình kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn
các trường THCS quận Hải An, Hải Phòng .
Khảo sát và sử dụng số liệu từ năm 2009 đến nay.
CHƯƠNG 1
6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
Phần cơ sở lí luận về quản lí kiểm tra đánh giá tại chương 1 trình bày
tổng quan về vấn đề nghiên cứu và đưa ra một số khái niệm và lí luận cần thiết
về quản lí và kiểm tra đánh giá nói chung, trên cơ sở đó đề cập đến vấn đề
dạy và học, kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn ở cấp THCS.
1.1. Tổng quan về quản lí kiểm tra đánh giá nói chung và quản lí kiểm tra
đánh giá môn Ngữ văn cấp THCS nói riêng
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về quản lí kiểm tra đánh giá trên thế giới
và các công trình nghiên cứu tại Việt nam
Có thể nói rằng bất kì khâu nào của quản lí giáo dục cũng cần tới đánh
giá. Không có đánh giá thì hệ thống quản lí giáo dục sẽ trở thành một hệ thống
một chiều, không có cơ chế phản ánh trở lại, tức là chỉ có chiều đi mà không
có chiều về. Đây là một cơ chế quản lí không khoa học, không hoàn thiện.
ngoài nước đã đề cập đến vấn đề này.
Trên thế giới quản lí kiểm tra đánh giá rất được quan tâm. Đã có nhiều
công trình nghiên cứu: Mô hình đánh giá theo mục tiêu (Goal- based Model)
hay mô hình E B Taylor; mô hình CIPP do L.D. Sutufflebeam đề xuất năm
1966; mô hình đánh giá sự khác biệt (Discrepancy Evaluation Model) do
Malcolm Provus (1971)…Nhưng các nghiên cứu này ngoài những điểm mạnh:
chỉ ra được những qui trình đánh giá theo mục tiêu, tạo điều kiện để xác lập
mục tiêu phù hợp hơn với nhu cầu phát triển, tăng cường lực lượng đánh giá;
qua việc đánh giá các điều kiện thực thi, quá trình thực thi, các nhà quản lí kịp
thời điều chỉnh những điểm yếu và giúp hoạt động giáo dục đạt chất lượng và
hiệu quả hơn….thì vẫn còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết là: hạn chế sự phát triển
tự do năng lực sáng tạo của người học; không bám sát mục tiêu chương trình;
chỉ quan tâm đến hiệu ứng thật của chương trình và kết quả đầu ra….
Ở Việt Nam,vấn đề quản lí kiểm tra- đánh giá cũng đã có nhiều tác giả
nghiên cứu: Nguyễn Đức Chính, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài
giảng Lưu hành nội bộ - Khoa sư phạm, Hà nội 2004; Dương Thiệu Thống,
Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Nxb Khoa học xã hội, 2005; Lâm
8
Quang Thiệp, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, 2003; Trần Khánh Đức,
Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng, Khoa sư phạm, Hà nội
2006; Đặng Bá Lãm, Kiểm tra đánh giá trong dạy học đại học, Nxb Giáo dục,
Hà nội 2003; Nguyễn Đức Chính – Đinh Thị Kim Thoa, Kiểm tra đánh giá
theo mục tiêu, tập bài giảng, Khoa Sư phạm, Hà nội 2005….
Các nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, mỗi nghiên cứu có những
điểm mạnh, điểm yếu, có nhiệm vụ nhằm vào những mục đích đánh giá khác
nhau, tuy nhiên đều có mục đích chung là: đánh giá sự tiến bộ của người học
qua từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học và cuối cùng là
đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về quản lí kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn
có tính khả thi cao và mang tính cấp thiết trong nhiệm vụ nâng cao chất lượng
môn Ngữ văn cấp THCS quận Hải An trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Các khái niệm của đề tài
1.2.1. Quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện, bắt đầu hình thành các nhóm người,
để thực hiện các mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá
nhân riêng lẻ thì quản lí xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những
nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung.
Xã hội ngày càng phát triển, quản lí càng có vai trò quan trọng trong
việc điều khiển các hoạt động của xã hội, qua nhiều phương thức sản xuất khác
nhau về trình độ tổ chức, điều hành quản lí ngày càng cao khiến năng suất lao
động ngày càng tiến bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống con người nói chung
và trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nói riêng. Có thể nói rằng, quản lí là một
yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Quản lí là thuộc
tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội [7]
Marx đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào
được thực hiện ở qui mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định
của quản lí [23]
10
Theo Marx, quản lí về bản chất nó là quá trình điều chỉnh mọi quá trình
xã hội khác:” Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần
nhạc trưởng” [23]
Theo lí luận của Chủ nghĩa Mác- Lê nin về quản lí: “Quản lí xã hội một
cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí đối với toàn bộ hay
những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận
dụng đúng đắn những qui luật khách quan vốn có của nó, nhằm đảm bảo cho
nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [23]
Các nhà lí luận quản lí quốc tế như Frederics Wiliam Taylor (Mỹ- 1856-
1915), Henri Fayol (Pháp- 1841-1925), Max Weber (Đức- 1864- 1920) đều đã
dục) là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý dựa trên cơ sở
vận dụng các quy luật tâm lý ứng dụng thành tựu các khoa học như Tâm lý
học, Khoa học giáo dục nhằm khai thác tiềm năng con người, kích thích ý
thức tự giác, lòng say mê, sự sáng tạo của con người trong mọi hoạt động của
tổ chức.
Biện pháp thuyết phục: là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý dựa trên cơ sở lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự
nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý từ đó có thái độ và hành vi phù
hợp với yêu cầu.
Biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng
quản lý dựa trên cơ sở thuyết động lực kinh tế với luận điểm: lợi ích kinh tế sẽ
tạo nên động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động mà không cần sự can
thiệp trực tiếp về mặt hành chính của cấp trên.
Do đó có thể hiểu biện pháp quản lý là tổng thể cách thức tác động của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động
nhằm đạt được mục đích đề ra.
Các biện pháp quản lý rất đa dạng đòi hỏi nhà quản lý phải biết lựa chọn
và sử dụng linh hoạt, sáng tạo để xử lý các tình huống trong từng trường hợp
cụ thể giúp hoạt động quản lý đạt hiệu quả tối ưu. Đó cũng chính là nghệ thuật
quản lý.
12
1.2.3. Kiểm tra
Có rất nhiều quan điểm của nhiều tác giả khi bàn về khái niệm kiểm tra:
Trong từ điển Tiếng Việt (1998) có định nghĩa: “Kiểm tra là xem xét
tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét ”[21]
Từ điển Bách khoa (2001) có định nghĩa “Kiểm tra là bộ phận hợp
thành của quá trình hoạt động dạy – học nhằm uốn nắn được thông tin về
trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của
thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời
giáo dục được đặt ra có phù hợp hay không và có đạt được mục tiêu hay
không, hai là việc giảng dạy có thành công hay không, người học có tiến bộ
hay không.
Theo định nghĩa tổng quát, đánh giá là sự hình thành nhận định, phán đoán
về đối tượng thông qua sự phân tích thông tin thu được trên cơ sở đối chiếu với
các mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất các quyết định thích hợp để cải thiện
thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng hiệu quả công việc.
Thuật ngữ đánh giá theo GS Nguyễn Đức Chính (2005) được định nghĩa
như sau: “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ
thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào”[6]
Hoặc “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách hệ
thống về năng lực và phẩm chất của người học và sử dụng các thông tin đó
đưa ra quyết định về người học và dạy học trong tương lai”.
Tác giả Đặng Bá Lãm (2003) thì cho rằng “Đánh giá là một quá trình
có hệ thống bao gồm việc thu thập, phân tích, giải thích thông tin nhằm xác
định mức độ người học đạt được các mục tiêu dạy học”
Đánh giá giáo dục được hiểu là “Sự thu thập, chỉnh lí, xử lí, phân tích một
cách toàn diện, khoa học, hệ thống những thông tin về sự nghiệp giáo dục, để rồi
phán đoán giá trị của nó nhằm thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục, nâng cao
trình độ phát triển của giáo dục, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng xã
hội” [10]
14
Như vậy, đánh giá trong giáo dục là sự xem xét, so sánh độ tương thích giữa những
thông tin thu nhận được về quá trình giáo dục với chuẩn mực, tiêu chuẩn tương ứng
nhằm đưa ra những quyết định về người học và việc tổ chức quá trình dạy học.
1.2.5. Kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin về tình hình
lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, hình thành những kỹ
năng, kỹ xảo của học sinh so với mục tiêu học tập. Từ đó cho điểm, phân
tương ứng được thể hiện ở nội dung của môn học, bài học bằng hệ thống khái
niệm khoa học và khái niệm môn học. Quá trình dạy học là khái niệm chỉ hoạt
động chung của người dạy và người học và hai hoạt động này tồn tại song
song. Kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình dạy học.
Kết quả học tập hay thành tích học tập được hiểu theo nghĩa giống nhau
mặc dù những khái niệm này chưa thực sự thống nhất. Kết quả học tập thể hiện
chất lượng của quá trình dạy học. Kết quả học tập chỉ đích thực xuất hiện khi
có nhiều biến đổi tích cực trong nhận thức, hành vi của người học. Trong khoa
học cũng như trong thực tế, kết quả học tập được hiểu theo hai nghĩa:
- Mức độ mà người học đạt được so với các mục tiêu đã xác định (theo
tiêu chí)
- Mức độ mà người học đạt được so với các người cùng học khác (theo
tiêu chuẩn)
Dù được hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập đều thể hiện ở mức độ
đạt được của các mục tiêu dạy học. Theo Nguyễn Đức Chính (2005): “Kết quả
học tập là mức độ kiến thức, kỹ năng hay nhận thức của người học trong môn
lĩnh vực (môn học) nào đó. Chỉ có bài kiểm tra (trắc nghiệm) kết quả học tập là
có thể đo lường một cách trực tiếp những gì người ta thiết kế để đo”[6] Kết
quả học tập của học sinh là thước đo của quá trình đào tạo do vậy đánh giá
được chính xác kết quả học tập của học sinh là điều vô cùng cần thiết.
1.2.7. Đổi mới công tác kiểm tra – đánh giá
Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá chính là tập hợp các cách thức, hoạt
động nhằm điều chỉnh và hướng người học đạt được mục tiêu dạy học một
16
cách hiệu quả nhất thông qua hoạt động kiểm tra đánh giá. Đổi mới không phải
là bỏ đi cái đã có và thay thế bằng cái mới, cái mới khi chưa được thực nghiệm
và kiểm tra đánh giá chưa chắc đã là hiệu quả. Đó là sự kết hợp hiệu quả giữa
các phương pháp kiểm tra trong quá trình dạy học
Đổi mới kiểm tra đánh giá trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết, trong
1.3.2. Vị trí, chức năng, vai trò của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập là khâu cuối cùng của quá trình dạy
học và có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học. Kiểm tra đánh giá kết quả
học tập có vai trò và chức năng quan trọng đối với quá trình dạy học.
1.3.2.1. Vị trí của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
Xét trên quan điểm hệ thống, quy trình đào tạo được xem như một hệ
thống bao gồm các yếu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức
tổ chức dạy- học, phương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò và cuối
cùng là kiểm tra đánh giá kết quả của người học.
Mối quan hệ các thành phần này có thể diễn tả bởi sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình đào tạo
(Nguồn: Tập bài giảng Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học, Đại học
Quốc gia Hà nội khoa Sư phạm Hà nội, 2008)
Yêu cầu của xã hội
Định
Mục tiêu
Chương trình
* Chức năng đốc thúc, kích thích tạo động lực
Thông qua kiểm tra đánh giá có thể kích thích tinh thần học tập hăng say
của người học. Các kết quả sau mỗi bài kiểm tra sẽ cho học sinh biết được mức
độ nắm kiến thức của bản thân để có hướng phấn đấu. Với những học sinh
giỏi, kết quả học tập tốt sẽ động viên, kích thích các em hăng say học tập, còn
đối với học sinh yếu kết quả sẽ là một minh chứng thôi thúc các em cố gắng
19
vươn lên. Như vậy sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các đối
tượng đánh giá.
* Chức năng sàng lọc, lựa chọn
Trong quá trình giảng dạy người giáo viên phải tiến hành lựa chọn sàng
lọc, phân loại học sinh. Giáo viên có thể dựa trên kết quả kiểm tra đánh giálàm
cơ sở để thực hiện điều đó. Việc phân loại này nhằm mục đích giúp người dạy
có chiến lược phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ thể, điều đó sẽ nâng cao
hiệu quả của hoạt động giảng dạy.
1.3.2.3. Vai trò của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
Đối với giáo viên, việc kiểm tra đánh giá sẽ giúp giáo viên biết được
hiệu quả và chất lượng giảng dạy. Thông qua việc kiểm tra – đánh giá, giáo viên
thu thập được các thông tin một cách trực tiếp và nhanh nhất. Họ biết được mức
độ nắm bắt kiến thức của học sinh, những kỹ năng, kỹ xảo học sinh đạt được và
những phần học sinh còn thiếu hụt, cần bổ xung hoàn thiện hoạt động học của
mình. Nếu xem chất lượng dạy học là “ sự trùng khớp với mục tiêu” thì kiểm tra
đánh giá là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng quy trình đào tạo.
* Kiểm tra đánh giá trong dạy học ở cấp trung học có vai trò sau
- Định hướng cho hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò để
đạt được mục tiêu đào tạo. Kiểm tra đánh giá chính là cái đích để người dạy
hướng dẫn người học cùng vươn tới và cùng để người học tùy theo năng lực
bản thân tìm cách riêng cho mình hướng tới. Người dạy và người học biết
mình phải đạt được điều gì và đạt được bằng cách nào.
kết quả thực tế của nó trong lộ trình đi tới mục đích. Mục tiêu trong giáo dục
chính là sự cụ thể hoá yêu cầu cần đạt tới của quá trình giáo dục, là kim chỉ
nam hành động của giáo viên cũng như học sinh, cho họ thấy đích cần đạt tới
cũng như vị trí của họ trên đường tới đích ngắm đó. Mục tiêu làm cơ sở cho
việc hoạch định nội dung, phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh
giá đồng thời chỉ ra cho học sinh biết điều họ cần học để có thể tự tổ chức
việc học tập cũng như có thể tự kiểm tra sự tiến bộ của bản thân trong cả quá
trình học tập.