Công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Đại Lộc. - Pdf 51

LỜI MỞ ĐẦU
Ở bất cứ trình độ chính trị và phát triển cao hay thấp thì tiền lương luôn
là vấn đề được cả xã hội quan tâm bởi ý nghĩa kinh tế và xã hội to lớn của nó.
Đối với người lao động tiền lương luôn là nguồn thu nhập quan trọng, giúp họ
cùng gia đình duy trì, nâng cao mức sống. Đối với doanh nghiệp tiền lương là
phần không nhỏ của chi phí. Đối với nền kinh tế, tiền lương là sự cụ thể hóa
của quá trình phân phối của cải vật chất do chính người lao động trong xã hội
sáng tạo ra.
Hoàn thiện công tác tiền lương là một trong những biện pháp được các
đơn vị sản xuất kinh doanh đặc biệt coi trọng để phát huy mọi khả năng lao
động và hiệu quả kinh doanh.
Tại Công ty TNHH Đại Lộc, công tác tiền lương đã được triển khai khá
hoàn thiện. Nhưng nó vẫn gặp phải một số khó khăn và luôn trở thành yêu cầu
cần bức thiết đối với quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên, nên em chọn đề tài: "Công tác hạch toán
tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Đại Lộc" làm
chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Chuyên đề thực tập của tôi, ngoài lời mở đầu và kết luận ra, tập trung
những nội dung chủ yếu sau:
Phần I: Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty
Phần II: Thực trạng công tác hạch toán tiền lương và các khoản
trích theo lương.
Phần III: Một số kiến nghị đối với công tác hạch toán tiền lương tại
Công ty TNHH Đại Lộc
PHẦN I
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Đại Lộc
Công ty TNHH Đại Lộc là Công ty được sáng lập năm 1992, do ông
Lương Mạnh Trung làm giám đốc. Có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng,
mở tài khoản tại Ngân hàng công thương Việt Nam, với số vốn điều lệ:

Công ty ngày càng phát huy có hiệu quả việc sử dụng vốn, đưa các mặt hàng
sản xuất kinh doanh phát triển ổn định, đóng mới và sửa chữa thành những xe
có chất lượng cao đảm bảo nhu cầu của nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới,
Công ty là doanh nghiệp trẻ đi đầu trong lĩnh vực kinh doanh vận tải phát
triển từ cơ sở sản xuất như sang hạch toán kinh doanh với bộ quy chế "khoán
quyền sử dụng tư liệu sản xuất đến tập thể và người lao động". Đã tạo ra 1
động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh của Công ty phát triển. Từ
năm 1992 đến nay Công ty đã đạt được kết quả như sau:
Doanh thu năm 2005 tăng 3,5 lần so với năm 1994
Thu nhập bình quân người lao động năm 2004 tăng 4 lần so với năm
1992
Nộp ngân sách năm 2005 tăng 2,5 lần so với năm 1992
Hiện nay ngành nghề chủ yếu của Công ty là:
Kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa
- Kinh doanh hoạt động dịch vụ vận tải
- Kinh doanh đóng mới, sửa chữa bảo dưỡng các phương tiện vận tải
đường bộ.
Với đặc điểm ngành nghề kinh doanh chủ yếu như trên, Công ty TNHH
Đại Lộc vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị kinh doanh dịch vụ vận tải, cho
nên sản phẩm chính của Công ty là:
Người vận chuyển (người)
Người luân chuyển (người - km)
Tấn hàng vận chuyển (tấn)
Tấn hàng luân chuyển (tấn - km)
Số xe sửa chữa (cái)
Số xe bán được (chiếc)
Với chức năng và nhiệm vụ kể trên, trong những năm vừa qua Công ty
đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc tìm kiếm bạn hàng. Tuy
nhiên do phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên địa bàn nên Công ty
đã gặp một số khó khăn. Tuy đã có cố gắng nhiều nhưng do thích nghi và hòa

2005.
Ngoài ra, đối với các mặt công tác khác Công ty đều thực hiện tốt.
Công ty còn thường xuyên quan tâm tạo điều kiện cho người lao động có đủ
công ăn việc làm ổn định, thu nhập hiện nay là 1.500.000đ/người/tháng.
Ngoài ra Công ty còn khen thưởng cho tất cả các cán bộ công nhân viên vào
các ngày lễ tết trong năm. Thực hiện chế độ BHYT, BHXH cho một số cán bộ
công nhân viên, thực hiện tốt chế độ bảo hộ lao động, đặc biệt nhân viên phục
vụ vận tải, xưởng bảo dưỡng và sửa chữa, và bảo vệ mỗi năm trang bị 2 bộ
đồng phục, giày, găng tay.
Đối với khối vận tải mặc dù Nhà nước bỏ giấy phép vận tải hành
khách, song với kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực vận tải của cán bộ và
người lao động Công ty nên các tuyến đường như doanh thu xe vẫn ổn định.
Năm 2006 Công ty đã có 28 xe đạt tiêu chuẩn theo QĐ 890, các tuyến Hà Nội
- Nam Định - Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh và các tuyến trong thành
phố, đi các tỉnh đều được trang bị các loại xe taxi, tải, du lịch chất lượng cao.
Có thể khẳng định rằng, tuy có nhiều cố gắng trong cạnh tranh nhưng
do những tác động khách quan nên hiệu quả kinh tế của Công ty vẫn chưa đều
nhau, giữa khối vận tải và khối công nghiệp. Tuy vậy bằng những kinh
nghiệm và cố gắng nên cũng đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong
nền kinh tế thị trường và ngày càng làm ăn có lãi. Một lần nữa ta có thể thấy
được kết quả sản xuất của Công ty qua 2 năm, bảng phân tích kết quả kinh
doanh như sau:
BẢNG PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KINH DOANH 2005 - 2006
Đơn vị: Đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006
Năm 2005 so với 2006
+/ - Tỷ lệ %
1. Doanh thu 19.000.000.000 34.162.941.000 +15.162.441.000 179,80
2. Tổng chi phí 18.765.766.000 32.428.759.003 +13.662.993.003 172,8
3. Tổng lợi nhuận 1.134.234.000 1.734.182.637 +599.948.637 152,09

Đại Lộc qua 2 năm gần đây đã phát triển tốt hơn, sản xuất kinh doanh phát
triển và đã khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường.
II. MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
Có thể nói Công ty TNHH Đại Lộc là Công ty có vị trí địa lý hết sức
thuận lợi. Nằm trên tuyến đường giao thông khá quan trọng, đó là quốc lộ 2,
quốc lộ 3, và quốc lộ 18 đường Nội Bài đi Cảng nước sâu Cái Lân, Quảng
Ninh. Là đầu mối giao thông có ý nghĩa rất to lớn về kinh tế xã hội với toàn
miền Bắc nước ta, đặc biệt là cụm cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Đó
chính là điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực vận tải như:
xe taxi, xe du lịch, xe tải, kinh doanh và bảo dưỡng sửa chữa xe vận tải, mở
đại lý buôn bán xe ô tô các loại. Hai văn phòng giao dịch đặt tại TP Thái Bình
và TP Nam Định, đều nằm trong trung tâm TP của tỉnh. Nên càng thuận lợi
cho việc giao dịch và kinh doanh dịch vụ vận tải.
III. TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
Tại Công ty TNHH Đại Lộc, bộ máy quản lý được tổ chức theo kiểu 1
cấp, có nghĩa là các phòng ban giúp việc cho giám đốc theo từng chức năng,
nhiệm vụ của mình. Để Ban giám đốc đề ra các quyết định có lợi cho Công ty,
đồng thời giám đốc là người trực tiếp đứng ra chỉ đạo các hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Sơ đồ biểu hiện bộ máy quản lý hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp như sau:
Sơ đồ 1: Bộ máy hoạt động quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
Giám đốc
Phó Giám đốc
P. Marketing
P.K.Hoạch
P.KT-Vật tư
P. Tài vụ
P. Tổ chức LĐ tiền lương
Đội
xe

Bộ máy quản lý trên có ưu điểm là rất gọn nhẹ và công tác quản lý
được phân phối cho các phòng, giảm bớt gánh nặng trên vai của người lãnh
đạo cao nhất. Hiệu quả của công việc đạt được rất khả quan. Tuy nhiên công
tác quản lý này có nhược điểm đó là người lãnh đạo cao nhất trong Công ty
không trực tiếp kiểm soát hoạt động các đội xe, điều này dẫn đến sự thiếu
quan tâm đồng bộ và khả năng thất thoát về tài chính của Công ty.
IV. ĐẶC BIỆT HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP
* Tổ chức bộ máy kế toán:
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức SXKD của một Công ty có quy mô lớn,
để phù hợp với yêu cầu bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình
thức kế toán tập trung. Nghĩa là toàn bộ công việc kế toán của Công ty được
tập trung thực hiện tại phòng kế toán - tài vụ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của kế
toán trưởng từ khâu tập hợp số liệu ghi vào sổ kế toán đến việc lập báo cáo tài
chính. Các văn phòng giao dịch trực thuộc cũng có kế toán riêng, nhưng
không tổ chức thành một bộ phận kế toán riêng tại đơn vị này, mà các nhân
viên kế toán tại đây chỉ làm nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra hạch toán ban đầu,
thu nhận chứng từ và ghi chép vào sổ hạch toán một cách đơn giản và hàng
tháng lập báo cáo gửi về phòng kế toán tài vụ của Công ty để tổng hợp lại và
ghi sổ tổng hợp.
Phòng kế toán tài vụ của Công ty có chức năng, nhiệm vụ sau:
1/ Quản lý và điều hành công tác tài chính và hạch toán kế toán trong
toàn Công ty.
2. Thu nhận và kiểm tra báo cáo ở các văn phòng giao dịch trực thuộc
và lập báo cáo chung cho toàn Công ty.
3. Hướng dẫn kiểm tra công tác kế toán ở các văn phòng giao dịch trực
thuộc.
Với cách thức bộ máy kế toán như trên mối quan hệ phụ thuộc trong bộ
máy kế toán trở nên đơn giản, thực hiện một cấp kế toán tập trung đảm bảo
phục vụ cho công tác quản lý. Trong bộ máy kế toán của phòng tài vụ trực
thuộc văn phòng Công ty có 8 người (bao gồm cả nữ) kinh nghiệm làm việc

gửi về phòng kế toán tài vụ tại văn phòng Công ty.
Qua những phân tích trên ta có thể khái quát bộ máy kế toán của Công
ty TNHH Đại Lộc qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Sơ đồ bộ máy kế toán
Kế toán trưởng
Kế toán tiền mặt ngân hàng
Kế toán vật tư - TSCĐ
Kế toán tiền lương
Kế toán tổng hợp kiêm CP giá thành
Thủ
quỹ
Kế toán đại lý - văn phòng giao dịch
giao dịch
Như vậy, việc tổ chức bộ máy kế toán của Công ty là hoàn toàn phù
hợp với đặc điểm vừa sản xuất, vừa kinh doanh dịch vụ vận tải, phù hợp với
quy mô hoạt động của Công ty. Tổ chức bộ máy kế toán như vậy đã giúp cho
các cấp lãnh đạo của Công ty trong việc theo dõi hiệu quả SXKD của Công
ty, từ đó có đường lối chính sách đúng đắn, giúp cho việc hoạt động SXKD
của doanh nghiệp phát triển.
B. Tổ chức vận dụng chế độ kế toán tại doanh nghiệp:
Công ty TNHH Đại Lộc là một doanh nghiệp tư nhân. Nhưng hệ thống
chứng từ kế toán của Công ty sử dụng đầy đủ các biểu mẫu, chứng từ theo
đúng chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành. Các chứng từ bao gồm:
- Chứng từ về quỹ: phiếu thu, phiếu chi, biên bản kiểm kê quỹ, giấy đề
nghị thanh toán, giấy đề nghị tạm ứng, giấy thanh toán tạm ứng.
- Chứng từ TGNH: ủy nhiệm chi, séc, phiếu chuyển khoản
- Chứng từ bán hàng và quản lý: hóa đơn GTGT, hóa đơn kiêm phiếu
xuất kho, hợp đồng mua bán ô tô, hóa đơn tiền điện, hóa đơn tiền nước…
- Chứng từ về TSCĐ: biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản thanh lý
TSCĐ, biên bản đánh giá lại TSCĐ, sửa chữa lớn hoàn thành, bảng tính và

TK 6312: Giá thành sản phẩm đội xe du lịch
TK 6313: Giá thành sản phẩm của xưởng bảo dưỡng và sửa chữa
TK 911: Xác định kết quả kinh doanh
Hiện tại đơn vị đang áp dụng chế độ kế toán Việt Nam ban hành theo
quyết định số 15/2006/QĐ - BTC. Do đặc điểm là Công ty lớn, công việc sản
xuất chủ yếu theo hợp đồng, nên Công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký
chứng từ. Niên độ kế toán của Công ty bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào
ngày 31/12 hàng năm. Các báo cáo tài chính của Công ty dược lập bằng đồng
Việt Nam (VNĐ) theo các nguyên tắc và quyết định của chế độ kế toán VN.
Công ty tổ chức lập và phân tích các báo cáo kế toán theo đúng "chế độ báo
cáo tài chính doanh nghiệp" bao gồm các mẫu sau:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
- Thuyết minh báo cáo tài chính
- Lưu chuyển tiền tệ
Mỗi quý, trên cơ sở các phòng giao dịch, đại lý trực thuộc gửi báo cáo
về phòng tài vụ, kế toán tổng hợp sẽ tổng hợp lại và lập báo cáo chung cho
toàn Công ty. Các báo cáo tài chính của Công ty được lập theo quý và năm,
còn đối với BCTC quý chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý còn đối
với BCTC năm thời hạn chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài
chính. Cuối mỗi niên độ kế toán Công ty gửi BCTC cho cơ quan tài chính, chi
cục thuế và các cơ quan tài chính khác. Ngoài những báo cáo bắt buộc Công
ty còn phải lập thêm các biểu mẫu khác như sau:
- Báo cáo giá thành
- Báo cáo tăng giảm hao mòn TSCĐ
- Báo cáo tăng giảm nguồn vốn kinh doanh
Tương ứng với hình thức ghi sổ kế toán nhật ký chứng từ, hiện nay
Công ty tổ chức các loại sổ kế toán như sau:
Sổ cái TK
Các nhật ký chứng từ số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10

của Công ty cơ sở để ghi là bảng kê số 4,5,6 các chứng từ gốc và các bảng
phân bổ. Số liệu cuối tháng ghi vào sổ cái.
+ Nhật ký chứng từ số 8: Theo dõi phát sinh Có TK 155, 131, 511, 532,
631, 641 căn cứ để ghi là sổ chi tiết TK 511 và sổ chi tiết các khoản còn lại.
Cuối tháng khóa sổ, ghi vào sổ cái các TK.
+ Nhật ký chứng từ số 9: Theo dõi phát sinh có TK 211. Cơ sở để ghi là
biên bản giao nhận TSCĐ và các chứng từ khác liên quan. Cuối tháng khóa
sổ, lấy số tổng cộng ghi vào sổ cái TK 211.
+ Nhật ký chứng từ số 10: Theo dõi phát sinh có TK 136, 141, 333,
338, 334, 411, 412, 455, 431, 421, 441 căn cứ để ghi là các sổ chi tiết của
từng TK, cuối tháng khóa sổ lấy số tổng hợp ghi vào sổ cái các TK.
* Bảng kê số 1: Dùng để theo dõi phát sinh Nợ TK 111. Căn cứ để ghi
là phiếu thu. Số dư cuối ngày được xác định bằng cách lấy số dư cuối ngày
trước cộng với phát sinh Nợ trong ngày trên bảng kê và trừ đi phát sinh Có
trên NKCT số 1.
* Bảng kê số 2: Phản ánh phát sinh Nợ TK 112, kết cấu và cách ghi
tương tự như bảng kê số 1.
* Bảng kê số 3: Dùng để tính giá thực tế nguyên liệu, vật liệu, công cụ
dụng cụ. Cơ sở để ghi các NKCT số 1,2,4,5,10.
* Bảng kê số 4: Dùng để lập chi phí sản xuất và theo dõi phát sinh Nợ
các TK 621, 622, 627, 631. Đối ứng có các TK liên quan. Căn cứ để ghi là
bảng phân bổ số 1,2,3 các bảng kê. Cuối kỳ cộng chuyển số liệu vào NKCT
số 7.
* Bảng kê số 6: Dùng để theo dõi phát sinh Có TK 142, 335 căn cứ để
ghi là bảng phân bổ và các chứng từ có liên quan. Cuối tháng cộng chuyển số
liệu vào NKCT số 7
Ta có thể khái quát quy trình ghi sổ của Công ty như sau:
Sơ đồ 3: Quy trình ghi sổ của Công ty
Chứng từ gốc và bảng chứng từ ghi sổ
Nhật ký chứng từ

Theo tính chất tham gia vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
+ Lao động trực tiếp
+ Lao động gián tiếp
- Theo chế độ sử dụng lao động
+ Lao động theo hợp đồng dài hạn
+ Lao động theo hợp đồng ngắn hạn
+ Lao động thời vụ
2. Năng xuất lao động:
Là một phạm trù kinh doanh (nó được gọi là sức sản xuất của lao động
cụ thể có ích) nó nói lên kết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con
người trong một đơn vị thời gian nhất định.
Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian hoặc bằng lượng thời gian chi phí để sản xuất một đơn vị
sản phẩm.
Trong quản lý kinh tế, tăng năng suất lao động có nhiều ý nghĩa:
Trước hết làm tăng năng suất lao động làm cho giá thành sản phẩm
giảm vì tiết kiệm được chi phí về tiền lương trong đơn vị sản phẩm.
Tăng năng suất lao động cho phép giảm được số người làm việc do đó
tiết kiệm được chi phí về tiền lương cho từng công nhân do hoàn thành vượt
mức sản lượng.
Năng suất lao động cao và tăng nhanh sẽ tạo điều kiện tăng quy mô và
tốc độ của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, cho phép giải quyết
thuận lợi các vấn đề về tích lũy thừa tiền lương tăng năng suất lao động là
thông qua việc thay đổi cách thức lao động (thay đổi công cụ lao động hay
phương pháp lao động hoặc cả hai) để làm tăng thêm số lượng sản phẩm sản
xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc giảm lượng lao động tiêu hao trên một
đơn vị sản phẩm.
Dưới dạng chung nhất, năng suất lao động được xác định dưới dạng
sau:
W

được bắt nguồn từ bản chất của tiền lương, là biểu hiện bằng tiền của giá trị
sức lao động. Tiền lương là nguồn thu nhập của người lao động vì vậy độ lớn
tiền lương không những phải đảm bảo tái sản xuất mở rộng và số lượng và
chất lượng của người lao động đã hao phí mà còn phải đảm bảo cuộc sống
sinh hoạt của gia đình họ.
Tiền lương phải dựa trên cơ sở sự thỏa thuận giữa hai người có sức lao
động và người sử dụng lao động. Song mức độ tiền lương phải luôn cao hơn
hoặc bằng mức lương tối thiểu. Nguyên tắc này bắt nguồn từ hợp đồng lao
động nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
Tiền lương trả cho ngày lao động phải phụ thuộc vào hiệu quả hợp
đồng lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nguyên tắc này bắt nguồn từ
mối quan hệ giữa sản xuất và người tiêu dùng, trong đó sản xuất đóng vai trò
quyết định.
* Các hình thức trả lương:
Hiện nay ở nước ta tiền lương cơ bản được áp dụng rộng rãi hai hình
thức: Hình thức trả lương theo sản phẩm và hình thức trả lương theo thời
gian.
* Hình thức trả lương theo sản phẩm:
Đây là hình thức trả lương cơ bản đang được áp dụng chủ yếu trong các
doanh nghiệp sản xuất vật chất hiện nay. Tiền lương được tính theo số lượng
sản phẩm thực tế làm đúng quy cách chất lượng và theo đơn giá tiền lương.
TLsp = sả lượng thực tế * đơn giá tiền lương
* Hình thức trả lương theo thời gian:
Trả lương theo thời gian căn cứ vào thời gian làm việc thực tế và mức
lương cấp bậc của người lao động. Cụ thể:
Tiền lương ngày = * Số ngày làm việc thực tế
Tiền lương giờ = * Số giờ làm việc thực tế
III. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN
TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH ĐẠI LỘC
Khái quát chung

Hệ số lương phụ thuộc vào mức độ công việc
22: số ngày công trong tháng
Trong bộ luật mới đây quy định trả lương theo thời gian là hình thức trả
lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế.
Công ty áp dụng hình thức trả lương theo thời gian đối với một số bộ
phận gián tiếp. Theo quyết định từ ngày 1/10/2006 BTC với mức lương tối
thiểu là 450.000 đồng. Căn cứ vào mức lương cơ bản trên cùng bậc lương
hàng tháng, phòng đại lý, xưởng tổ chức chấm công cho từng cán bộ công
nhân viên rồi tổng hợp lại qua các bộ phận lao động tiền lương làm căn cứ để
tính lương cho từng người rồi xác định lương từng ngành.
Cụ thể ta có bảng chấm công sau:
CÔNG TY TNHH ĐẠI LỘC
Đơn vị: Phòng Tài chính kế toán
BẢNG CHẤM CÔNG
Thánh 12 năm 2006
ST
T
Họ và tên
Ngạch
bậc lương
cấp bậc
chức vụ
QUY RA CÔNG
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20
A B C 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20
1 Nguyễn Phương
Anh
L L L x x x x x x x x x x x x x x x x x
2 Nguyễn Tuấn Anh L L L x x x x x x x x x x x x x x x x x
3 Trần Thanh Bình L L L x x x x x x x x x x x x x x x x x

động thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả, doanh nghiệp cần chú ý
kiểm soát thời gian làm việc có ảnh hưởng lớn đến năng suất, giá thành sản phẩm
và NL và doanh nghiệp.
2.2. Hình thức trả lương khoán sản phẩm:
Đây là hình thức tiền lương theo khối lượng (số lượng sản phẩm công việc
đã hoàn thành, đảm bảo yêu cầu về chất lượng quy định và đơn giá tiền lương tính
cho một đơn vị sản phẩm cho công việc đó).
Tiền lương khoán sản phẩm là tiền lương mà người lao động được hưởng
trên sản phẩm mà mình làm ra. Bởi vậy khi trả lương công ty phải tính toán chính
xác, công bằng, hợp lý và đúng chế độ tiền lương Nhà nước quy định.
Công việc được hoàn thành là nhờ sự đóng góp của 1 dây chuyền lao động
trong đó có bộ phận gián tiếp lao động (gồm khối văn phòng, văn phòng giao dịch)
mà bộ phận trực tiếp (là toàn bộ công nhân trong các xưởng, đội sản xuất và dịch
vụ). Chính vì vậy tiền lương của Công ty TNHH Đại Lộc được phân ra làm 2 bộ
phận riêng biệt:
- Tiền lương bộ phận trực tiếp
- Tiền lương bộ phận gián tiếp

Trích đoạn Hình thức trả lương khoán sản phẩm: CÁC KHOẢN THU NHẬP KHÁC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status