THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
CHO HỌC SINH CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG HUYỆN DI LINH,
TỈNH LÂM ĐỒNG
Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục
THPT của huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
Vài nét về tình hình KT-XH huyện Di Linh
Di Linh là một huyện miền núi của tỉnh Lâm Đồng, nằm
trên quốc lộ 20 tuyến đường từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí
Minh và quốc lộ 28 nối tỉnh Bình Thuận với tỉnh Đắk Nông,
phía Nam của dãy Trường Sơn, cực Nam Trung Bộ, cách
thành phố Hồ Chí Minh 223km về hướng bắc và cách thành
phố Đà Lạt 80 km về phía nam. Phía Bắc giáp tỉnh Đắc Nông
và huyện Lâm Hà, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Đông
giáp huyện Đức Trọng, phía Tây giáp huyện Bảo Lâm.
Huyện Di Linh có 20 đơn vị hành chính trực thuộc bao
gồm 1 thị trấn và 19 xã, với tổng diện tích tự nhiên trên 162
nghìn ha.
Năm 1945, Di Linh có khoảng 15000 dân, trong đó đồng
bào DTTS chiếm khoảng 65%. Hiện nay (theo thống kê dân
số năm 2009) dân số toàn huyện là 154.622 người, trong đó
đồng bào DTTS gồm có 28 dân tộc với dân số 58.263 người
chiếm 37.6% dân số. DTTS có số dân đông nhất huyện là dân
tộc Cơho, chiếm hơn 90%.
Di Linh là một vùng cao nguyên trung du đồi núi lồi
chiêng, mừng lúa mới... rất thuận lợi để huyện phát triển kinh tế
từ du lịch, đặc biệt là hình thức du lịch sinh thái và thương mại
dịch vụ từ các hoạt động du lịch. Công nghiệp chủ yếu là chế
biến nông lâm sản và khai thác khoáng sản. Tuy nhiên tỉ trọng
công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế của huyện còn chiếm tỉ
lệ khá thấp chưa xứng với tiềm năng hiện có.
Lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực,
phát triển toàn diện; giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, các
chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai đồng bộ, và đã
đạt được nhiều kết quả. Công tác giảm nghèo, giải quyết việc
làm có nhiều chuyển biến tích cực. Vùng đồng bào dân tộc
thiểu số phát triển toàn diện, đời sống vật chất và tinh thần
được nâng lên rõ nét.
Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ
vững ổn định, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế-xã hội ở địa
phương.
Tình hình giáo dục của huyện Di Linh
Tính đến năm học 2017 – 2018, toàn huyện Di Linh có
91 trường , đáp ứng 100% nhu cầu học tập của HS ở địa
phương gồm: 28 trường mầm non (5 trường mầm non tư
thục), 34 trường tiểu học, 22 trường trung học cơ sở, 06
trường trung học phổ thông, 01 trường phổ thông Dân tộc nội
trú và 01 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 38
trường đạt chuẩn quốc gia (36 trường tiểu học - THCS, 2
trường THPT).
Việc quan tâm đầu tư của nhà nước, cùng với việc thực
tâm công tác.
Đặc điểm chính của các trường triển khai nghiên cứu
đề tài
- Đội ngũ CBQL
Bảng 2.1: Đội ngũ CBQL trường THPT huyện Di
Linh, tỉnh Lâm Đồng năm học 2017 – 2018
Đã
Trình
độ
chuyê
Trư
n môn
ờng
T
N
D Đ
THP
S
T
T
Đ
hs
H
Tr
D
S
C
ên
ướ
ơ
Tr
a
5
i5
Tr
ên
40
Lê
Hồn
g
4
0
0
4
1
3
2
2
3
0
4
2
1
3
0
0
3
1
2
1
2
2
1
2
0
1
3
0
3
0
3
0
0
3
3
1
0
3
2
1
2
2
0
3
0
2
1
3
0
6
13 11
8
15
1
18
0
9
1
0
0
0
31 68 57 42.
.6
.4
.9
1
78.9
5. 94
3
.7
0
42. 57
1
.9
huyện chưa được quan tâm nên hiệu quả quản lý chưa cao.
Một số CBQL chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý
trường học, làm việc chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thực tiễn nên
còn hạn chế trong một số lĩnh vực quản lý nhà trường như: công
tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ, chất lượng xây dựng
các loại kế hoạch, quản lý tài chính, quản lý HĐDH, quản lý
HĐTN...
- Đội ngũ giáo viên
- Số lượng, chất lượng GV
Danh hiệu thi
Đả
Trường
T N D
THPT
S
ữ
ng
Lê Hồng
8
5
3
1
Phan Bội
7
4
Châu
0
5
Nguyễn
2
Huệ
9
Di Linh
CSTĐ
T viê
17
5
79
0
8
0
8
1
33 6
7
1
51
0
4
0
0
9
0
9
2
6
11
4
66
0
7
0
7
0
14 3
2
6
60
17
33
3
0
31
0
30
3
- Đặc điểm đội ngũ GV
Tuổi đời (năm)
Tuổi nghề
(năm)
bình
Ca
Thấ
o
p
nh
nhấ
ất
t
Trun
g
bình
Lê
Hồng
84
33
2.54
42
20
2.1
45
25
22
22
3
6
73
36
2.02
57
28
34
g
Chinh
Di
Linh
Phan
Bội
Châu
Nguyễ
n Huệ
Tổng
cộng
29
350
14
15
8
2.07
2.24
44
51.
5
100% GV đạt chuẩn về trình độ đào tạo; một số GV có
trình độ cao học, nhiều GV có kinh nghiệm trong công tác
giảng dạy và giáo dục HS; phần lớn GV có ý thức tự học tập,
bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý
luận chính trị; tích cực thực hiện đổi mới phương pháp giáo
dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS. Hằng năm nhiều GV có các công trình nghiên cứu khoa
học sư phạm ứng dụng và các SKKN – GPHI có giá trị trong
việc nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.
Đội ngũ GV phần lớn có tuổi đời và tuổi nghề còn khá
trẻ nên rất nhiệt tình và trách nhiệm đối với hoạt động giảng
dạy trong nhà trường, có kiến thức, kỹ năng về CNTT, có
trình độ ngoại ngữ nên việc triển khai thực hiện đổi mới giáo
dục ở những trường này rất thuận lợi.
Bên cạnh những điểm mạnh, đội ngũ GV của các trường
THPT huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng cũng còn có những hạn
chế:
Tuổi đời và tuổi nghề còn trẻ nên kinh nghiệm trong
công tác giáo dục HS nói chung và giảng dạy nói riêng còn có
nhiều hạn chế, số lượng giáo viên đạt danh hiệu chiến sĩ thi
đua cơ sở, giáo viên giỏi còn rất thấp.
Cơ cấu giữa GV nam và GV nữ chưa cân đối, GV là nữ
chiếm tỉ lệ cao hơn so với GV là nam nên phần nào có ảnh
hưởng đến các mặt hoạt động của nhà trường.
Tỉ lệ GV có trình độ trên đại học của các trường còn
thấp, trong đó trường THPT Hòa Ninh chưa có GV có trình
Tổn
m
g số
học
HS
Giỏi
Khá
Trung
Yếu
Kém
bình
SL %
SL
%
SL
% SL % S %
7
1
1
201
5
201 5421 529 9,8 2328 42, 2172 40, 365 6,7 27 0,
5201
9
1
5
6
201 5563 106 19, 2239 40, 1934 34, 323 5,8 7 0,
6-
0
1
1
7
trường cũng có tiến bộ qua từng năm học được thể hiện qua kết
quả xếp loại hạnh kiểm, học lực của HS năm sau cao hơn năm
trước, tỉ lệ HS xếp loại yếu, kém về học lực giảm dần qua các
năm. Tuy nhiên, kết quả xếp loại học lực của các trường nhìn
chung là còn thấp, tỉ lệ HS xếp loại yếu, kém về học lực qua các
năm còn khá cao, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu. Thông tư
47/BGD-ĐT yêu cầu về chất lượng giáo dục (số học sinh xếp
loại học lực yếu không quá 2%), trong khi đó trung bình về tỷ lệ
học học sinh yếu các trường trong năm học 2016-2017 là 5,8%
và xếp loại kém là 0,3%.
+ Về hạnh kiểm
- Thống kê hạnh kiểm của học sinh 6 trường trung
học phổ thông huyện Di Linh trong 5 năm học (2012 2017 )