ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------o0o-------------
Nguyễn Thị Minh Châu
BIẾN TÍNH BỀ MẶT MÀNG LỌC POLYETHERSULFONE
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI – 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------o0o-------------
Nguyễn Thị Minh Châu
BIẾN TÍNH BỀ MẶT MÀNG LỌC POLYETHERSULFONE
Chuyên ngành: Kỹ thuật Hoá Học
Mã số: 60520301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Dung
HÀ NỘI – 2018
LỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Minh Châu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN .....................................................................................2
1.1. Màng lọc và các quá trình màng.......................................................................2
1.2. Cơ chế tách qua màng........................................................................................5
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng tới quá trình tách qua màng .......................................6
1.4. Hiện tƣợng tắc màng ..........................................................................................7
1.4.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tắc màng .............................................................8
1.4.2. Các giải pháp nâng cao hiệu suất tách lọc cho màng ....................................10
1.5. Biến tính bề mặt màng lọc ...............................................................................10
1.6. Biến tính bề mặt màng lọc bằng phƣơng pháp trùng hợp ghép ..................12
1.6.1. Trùng hợp ghép quang hóa dưới bức xạ tử ngoại ..........................................13
1.6.2. Trùng hợp ghép khơi mào oxy hóa khử ...........................................................16
1.7. Polyethersulfone và màng lọc polyethersulfone (PES) .................................17
1.8. Ứng dụng màng lọc trong xử lý nƣớc thải của quá trình chế biến sữa .......18
1.9. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận văn .............................................19
CHƢƠNG II. THỰC NGHIỆM ............................................................................20
2.1. Hóa chất và thiết bị ..........................................................................................20
2.1.1. Hóa chất, vật liệu ............................................................................................20
2.1.2. Thiết bị, dụng cụ ..............................................................................................20
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................21
2.2.1. Biến tính bề mặt màng.....................................................................................21
2.2.2. Đánh giá đặc tính bề mặt màng ......................................................................23
2.2.3. Đánh giá tính năng tách lọc của màng ...........................................................24
2.2.4. Khả năng lọc tách thu hồi protein trong dung dịch sữa loãng .......................26
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..........................27
3.1. Trùng hợp ghép 1-vinyl-2-pyrolidinone (NVP) biến tính bề mặt màng PES ......27
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Cấu trúc của các loại màng lọc khác nhau ................................................................... 3
Hình 1.2. Giới hạn tách của các quá trình màng........................................................................... 5
Hình 2.1. Hệ thiết bị thí nghiệm trùng hợp ghép quang hóa dùng tia UV ............................... 22
Hình 2.2. Cell teflon dùng cho thí nghiệm trùng hợp ghép khơi mào oxy hóa khử ............... 22
Hình 2.3. Sơ đồ hệ thiết bị lọc màng phòng thí nghiệm ............................................................ 25
Hình 3.1. Ảnh chụp SEM màng nền và màng trùng hợp ghép NVP ...................................... 27
Hình 3.2. Ảnh chụp AFM bề mặt màng nền và màng trùng hợp ghép NVP ...................... 28
Hình 3.3. Phổ hồng ngoại phản xạ (a) màng nền và (b) màng trùng hợp ghép với NVP ...... 29
Hình 3.4. Mức độ trùng hợp ghép quang hóa NVP lên bề mặt màng PES ............................. 30
Hình 3.5. Độ lưu giữ và năng suất lọc của màng PES-g-NVP (UV) ...................................... 32
Hình 3.6. Độ duy trì năng suất lọc của màng PEG-g-NVP (UV) ............................................ 33
Hình 3.7. So sánh lượng protein hấp phụ trên màng PES và màng PES-g-NVP (UV)......... 34
Hình 3.8. Mức độ trùng hợp ghép khơi mào oxi hóa-khử NVP lên bề mặt màng PES......... 35
Hình 3.9. Tính năng lọc tách protein của màng PES-g-NVP (redox)...................................... 37
Hình 3.10. So sánh tính năng lọc tách protein của màng PES-g-NVP .................................... 39
Hình 3.12. Ảnh chụp SEM bề mặt màng PES và màng PES-g-PEGMA ............................ 40
Hình 3.13. Phổ hồng ngoại phản xạ bề mặt màng PES và màng PES-g-PEGMA ................ 41
Hình 3.14. Mức độ trùng hợp ghép quang hóa PEGMA lên bề mặt màng PES .................... 42
Hình 3.15. Tính năng tách lọc protein của màng nền PES43 và các màng trùng hợp ghép
PES-g-PEGMA (UV) ................................................................................................................... 43
Hình 3.16. Mức độ duy trì năng suất lọc của màng theo thời gian ........................................... 45
Hình 3.17. Lượng protein hấp phụ trên màng PES và màng PES-g-PEGMA (UV)............. 45
Hình 3.18. Ảnh chụp SEM bề mặt và mặt cắt các màng nền PES và màng PES-g-PEGMA
(redox) ............................................................................................................................................ 46
Hình 3.19. Phổ hồng ngoại phản xạ bề mặt màng nền PES và màng trùng hợp ghép khơi
mào oxi hóa khử với PEGMA .................................................................................................... 47
Hình 3.20. Mức độ trùng hợp ghép PEGMA lên bề mặt màng PES (redox) ......................... 49
Protein huyết thanh bò
FM
Maintained flux ratio
Độ duy trì năng suất lọc theo
thời gian
FTIR-ATR
Attenuated total reflectance-Fourier
Phổ hồng ngoại phản xạ toàn
transform infrared spectroscopy
phần biến đổi
GD
Graft degree
Mức độ trùng hợp ghép
MA
Maleic acid
Acid maleic
PEG
Poly( ethylene glycol)
PEGMA
Poly(ethylene glycol) methacrylate
PES
Polyethersulfone
PVA
Poly(vinyl ancol)
Ra
Average roughness
Độ thô nhám trung bình
Rms
Root mean square
Độ thô nhám bình phương
trung bình
UV
Ultra violet
Bức xạ tử ngoại
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, công nghệ màng lọc phát triển mạnh mẽ và được
ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Ưu điểm của kỹ thuật lọc màng là có thể tách
được các cấu tử có kích thước khác nhau, từ cỡ hạt đến cỡ ion, các cấu tử cần tách
không phải chuyển pha, quá trình tách không cần sử dụng thêm các hóa chất khác, là
phương pháp tách hiện đại, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường.
Màng lọc là bộ phận quan trọng nhất trong hệ tách dùng màng, trong đó lớp
bề mặt màng đóng vai trò quyết định khả năng tách lọc của màng. Với các đối
tượng tách lọc khác nhau, những đặc tính đã có của bề mặt màng có thể chưa đáp
ứng hoặc đáp ứng chưa tốt yêu cầu đặt ra. Để có thể nâng cao tính năng tách lọc
của màng đồng thời giảm thiểu ảnh hưởng của những tính chất không mong muốn,
người ta đã tìm cách biến tính bề mặt màng. Phương pháp biến tính bề mặt màng
có nhiều ưu điểm. Một mặt, có thể thay đổi đặc tính lớp bề mặt mà không ảnh
hưởng đến cấu trúc bên trong của màng, vì vậy, vẫn giữ được những đặc tính tốt
của vật liệu màng ban đầu. Mặt khác, lớp bề mặt sau khi biến tính có những đặc
tính phù hợp hơn với đối tượng tách. Ngoài ra, do chỉ cần tác động lên lớp bề mặt
nên có thể tiết kiệm được khá nhiều chi phí so với việc nghiên cứu chế tạo vật liệu
hoàn toàn mới.
Đề tài luận văn "Biến tính bề mặt màng lọc Polyethersulfone (PES)” tiến
hành nghiên cứu biến tính bề mặt màng PES bằng các phương pháp trùng hợp ghép
quang hóa dưới bức xạ tử ngoại và trùng hợp ghép khơi mào oxy hóa khử, với hai tác
nhân sử dụng cho quá trình trùng hợp ghép là Poly(ethylene glycol) methacrylate
Kích thước lỗ của lớp đỡ cũng lớn hơn nhiều so với kích thước lỗ của lớp hoạt
động. Lớp đỡ làm tăng độ bền cơ học của màng, giúp cho lớp hoạt động không bị
rách nhưng không ảnh hưởng đến vận chuyển chất và dung môi qua màng. Các lớp
đỡ thường có cấu trúc xốp kiểu ngón tay hay kiểu tổ ong. Do cấu trúc đặc biệt như
vậy, màng bất đối xứng có hiệu quả tách cao, độ bền cơ học tốt và được sử dụng
nhiều trong quá trình siêu lọc, lọc nano, tách khí, thẩm thấu ngược. Tùy theo loại
vật liệu và điều kiện chế tạo màng mà ta có thể thay đổi chiều dày và và kích thước
lỗ của lớp hoạt động, cũng như thay đổi cấu trúc xốp của lớp đỡ. Lớp hoạt động và
lớp đỡ có thể làm từ cùng một loại vật liệu hay từ các vật liệu khác nhau [5, 50].
2
Màng composite là trường hợp đặc biệt của màng bất đối xứng, có lớp đỡ và
lớp hoạt động làm từ hai loại vật liệu khác nhau, tính năng của mỗi lớp có thể tối ưu
một cách độc lập khi chế tạo. Loại màng này có hiệu quả tách rất cao, có tính năng
cơ học và hóa học rất tốt [5, 69].
Cấu trúc đối xứng
Cấu trúc bất đối xứng
Lớp đỡ xốp, lớp bề
mặt xốp
Màng xốp dạng mao quản
Lớp đỡ xốp, lớp bề
mặt không xốp
Màng xốp dạng tổ ong
Lớp đỡ xốp, lớp bề
mặt không xốp làm
lọc còn sử dụng để lọc trong nước quả, độ đục của nước táo ép giảm xuống rõ rệt
sau khi lọc qua màng, nước táo lọc qua màng có thời gian sử dụng lâu hơn do loại
bỏ được tối đa lượng enzym và vi sinh vật có trong nước táo sau khi nghiền [5,11].
Thẩm thấu ngược và lọc nano
Màng thẩm thấu ngược và lọc nano có kích thước lỗ bề mặt vô cùng nhỏ,
khoảng một vài nm. Có cấu trúc bất đối xứng và thường được dùng để lọc tách các
tiểu phân có kích thước nhỏ. Màng có khả năng tách được ion và các chất tan có
trọng lượng phân tử thấp trong môi trường nước. Trở khối thủy lực của quá trình
thẩm thấu ngược và lọc nano lớn hơn nhiều so với vi lọc và siêu lọc. Bên cạnh ảnh
hưởng bởi áp suất động lực thì quá trình thẩm thấu ngược và lọc nano cũng bị ảnh
hưởng bởi nồng độ chất tan. Thẩm thấu ngược và lọc nano có nhiều ứng dụng
quan trọng như làm ngọt nước mặn (50% ứng dụng), sản xuất nước sạch và siêu
sạch phục vụ cho công nghệp dược, xử lý nước thải, trong công nghiệp thực phẩm
(cô đặc sữa, dịch quả) [40]. Hình 1.2 chỉ ra giới hạn tách của các quá trình màng
dùng động lực áp suất.
4
Na+
(3.7 Å)
H2O
(2 Å)
Hemoglobin
(70 Å)
Sucrose
(10 Å)
Bacteria
thẩm thấu ngược), còn có các quá trình màng khác như thẩm tách, điện thẩm tách,
tách khí, thẩm hơi qua màng, chưng cất qua màng [5].
1.2. Cơ chế tách qua màng
Quá trình vận chuyển chất qua màng là một quá trình phức tạp. Các nhà khoa
học đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau để giải thích cơ chế của quá trình tách qua
màng như:
- Thuyết sàng lọc
- Thuyết hòa tan khuếch tán
- Thuyết hấp phụ mao quản.
Thuyết sàng lọc
Thuyết này cho rằng bề mặt màng gồm nhiều mao quản có kích thước lỗ xác
định. Cấu tử nào có kích thước bé hơn kích thước lỗ mao quản thì sẽ vận chuyển
qua màng, còn cấu tử có kích thước lớn hơn thì bị màng lưu giữ lại [69]. Thuyết này
chỉ phù hợp trong việc giải thích cho các quá trình siêu lọc và vi lọc (chất tan có
kích thước lớn). Trong trường hợp phân tử chất tan và phân tử dung môi có kích
thước tương đương nhau thì thuyết này không giải thích được.
5
Thuyết hòa tan khuếch tán
Thuyết này cho rằng dưới động lực áp suất, dung môi và chất tan đều khuếch
tán qua màng. Các phân tử sau khi thẩm thấu vào màng sẽ khuếch tán, nhưng dòng
khuếch tán chất tan và dòng khuếch tán dung môi khác nhau về tốc độ, tốc độ này tỉ
lệ với hệ số khuếch tán của chúng trong màng. Hệ số khuếch tán của dung môi càng
lớn và của chất tan càng nhỏ thì quá trình tách càng hiệu quả. Thuyết này cho thấy
ảnh hưởng của vật liệu tạo màng đến hiệu quả tách [69].
Thuyết hấp phụ mao quản
Thuyết này cho rằng màng bán thấm được cấu tạo từ nhiều mao quản, trên
bề mặt màng bán thấm và trong ống mao quản hình thành một lớp nước liên kết hấp
Tắc màng (fouling) được dùng để mô tả sự kết bám không mong muốn của các
tiểu phân bị lưu giữ trên bề mặt và bên trong các lỗ xốp của màng trong quá trình
lọc tách, làm cho năng suất lọc của màng giảm xuống theo thời gian, khi đó, thường
phải tăng áp suất vận hành, để duy trì lưu lượng dòng mong muốn. Các phương
pháp làm sạch màng thường được áp dụng để loại bỏ các tác nhân gây tắc màng
(foulants) và để phục hồi lưu lượng qua màng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp,
sự tắc màng là bất thuận nghịch và sau một khoảng thời gian màng có thể bị tắc
nghẽn hoàn toàn và buộc phải thay thế [8,25,27,53]. Để giải quyết vấn đề này việc
nghiên cứu các giải pháp chống tắc màng có ý nghĩa quan trọng và đang rất được
quan tâm.
Hiện tượng fouling liên quan đến sự hấp phụ hoặc sự bắt bám (trapping) của các
tiểu phân gây tắc (foulants) có trong thành phần dung dịch tách khi dung dịch
chuyển vận qua màng lọc. Các chất gây tắc màng điển hình là protein, chất béo, vi
khuẩn vv... Nguyên nhân của hiện tượng fouling gồm: 1) sự hình thành lớp bề mặt
mới hay còn gọi là bánh lọc trên bề mặt màng phía dung dịch đi vào, đặc biệt với
các màng siêu lọc; 2) sự bám phủ các tiểu phân gây tắc ở bên trong cấu trúc xốp của
màng, đặc biệt đối với các màng vi lọc và 3) sự bít lỗ màng do các tiểu phân bị lưu
giữ bởi màng.
Hiện tượng fouling khác với sự phân cực nồng độ (concentration polarization).
Sự phân cực nồng độ dẫn đến sự hình thành lớp gel trên bề mặt màng khi nồng độ
chất bị lưu giữ đạt tới một giới hạn xác định, giữa lớp gel tạo thành và bề mặt màng
có lực tương tác thấp, trong khi fouling là sự hấp phụ bất thuận nghịch của chất bị
lưu giữ trên bề mặt màng với lực tương tác mạnh hơn.
7
Tùy thuộc vào bản chất hóa học của các tiểu phân gây tắc màng, có thể phân biệt
một số kiểu tắc nghẽn [35,45,63,69] như: tắc nghẽn do các chất vô cơ (inorganic
fouling), tắc nghẽn do các thành phần keo (colloid fouling), tắc nghẽn do các chất
tách lọc mà chọn màng có kích thước lỗ phù hợp. Kích thước lỗ màng nhỏ hơn kích
thước tối ưu sẽ làm giảm năng suất lọc, kích thước lỗ màng lớn hơn kích thước lỗ
tối ưu sẽ gây ra hiện tượng fouling, cũng dẫn đến giảm năng suất lọc
* Sự phân bố kích thước lỗ
Hầu hết các màng siêu lọc và vi lọc có dải phân bố lỗ rộng. Lưu lượng dòng
qua các lỗ có kích thước lớn nhất quyết định lưu lượng chung của quá trình màng.
Lưu lượng qua màng rất nhạy cảm với sự fouling xảy ra trong các lỗ xốp có kích
thước lớn, ví dụ, sự tích lũy protein trong cấu trúc xốp. Độ chọn lọc (khả năng lưu
giữ) của màng thấp khi màng có kích thước lỗ không đồng đều (dải phân bố lỗ
rộng)
* Các tính chất hóa lý của vật liệu màng
Tính ưa nước: Sự hình thành các liên kết hydro trên bề mặt màng ưa nước tạo
thành lớp nước liên kết, có thể ngăn cản hoặc làm giảm sự hấp phụ hay bám dính
của chất bị lưu giữ bởi màng trong quá trình lọc. Vì vậy, màng có tính ưa nước càng
tốt thì năng suất lọc của màng đối với các dung dịch nước càng cao, đồng thời làm
giảm sự tắc màng một cách hiệu quả [35,69]. Một số nghiên cứu [30,67] chỉ ra rằng
protein sẽ hấp phụ ít hơn trên bề mặt vật liệu màng ưa nước so với bề mặt màng kỵ
nước. Nghiên cứu của Sheldon [64] chỉ ra rằng sự hấp phụ protein trên bề mặt màng
kỵ nước có thể là do sự biến đổi tính chất của protein.
Điện tích bề mặt: Điện tích bề mặt màng là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng
đến tính năng tách của màng. Nếu bề mặt màng có điện tích cùng dấu với điện tích
của chất có khả năng gây tắc thì mức độ tắc nghẽn sẽ giảm, do tương tác lực đẩy
tĩnh điện giữa bề mặt màng và các tiểu phân bị lưu giữ [5,35,69]. Điện tích bề mặt
màng phụ thuộc mạnh vào vật liệu màng, pH và lực ion của dung dịch tách
[19,20,37]. Nghiên cứu của Nakao [52] cho thấy màng có điện tích cùng dấu với
protein sẽ có lưu lượng lọc tăng.
Độ thô nhám bề mặt: Cấu trúc thô nhám của bề mặt sẽ tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho các cấu tử bị lưu giữ bám dính trên bề mặt, bề mặt càng trơn nhẵn thì độ
phủ bám hoặc hấp phụ sẽ xảy ra với mức độ thấp hơn, do đó việc giảm độ thô nhám
bề mặt màng cũng góp phần làm hạn chế hiện tượng tắc nghẽn màng [34].
mong muốn, giảm bớt chi phí sản xuất vì chỉ cần tác động lên bề mặt. Việc thay đổi
đặc tính lớp bề mặt sẽ tác động đến hiệu quả của toàn bộ quá trình tách qua màng.
Phương pháp biến tính bề mặt màng lọc có thể được thực hiện bằng một số
kỹ thuật khác nhau, nhằm làm thay đổi tính chất ưa nước, điện tích, độ thô nhám
10
của bề mặt màng. Hầu hết các loại màng lọc thương mại được làm từ vật liệu
polyme. Tính kỵ nước của vật liệu polyme làm tăng khả năng tắc màng (fouling)
trong quá trình tách, đặc biệt với đối tượng tách lọc là các chất hữu cơ và protein.
Các công trình nghiên cứu [29] chỉ ra rằng màng với bề mặt ưa nước có khả năng
chống tắc tốt hơn. Do đó, việc nâng cao tính ưa nước cho bề mặt màng là một trong
những biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề tắc màng gây bởi các chất hữu cơ,
protein, các vi sinh vật và các tiểu phân dễ bám bẩn trên bề mặt màng trong quá
trình tách. Sự tồn tại của các liên kết hydro tạo thành lớp biên nước siêu mỏng ở
trên bề mặt ưa nước, có tác dụng ngăn cản sự hấp phụ hoặc bám phủ của các tiểu
phân gây tắc màng lên trên bề mặt, đồng thời làm tăng tính thấm cho màng.
Việc làm cho bề mặt màng mang điện tích cũng là một giải pháp nhằm nâng
cao tính năng tách lọc cho vật liệu trong trường hợp các tiểu phần bị lưu giữ có khả
năng gây tắc màng mang điện tích. Khi bề mặt màng và chất bị lưu giữ mang cùng
điện tích, lực đẩy tĩnh điện sẽ cản trở sự bám phủ của chất đó lên bề mặt, làm giảm
hiệu ứng tắc màng [7]. Ví dụ, bề mặt màng mang điện tích âm sẽ thuận lợi khi thực
hiện quá trình tách protein ở môi trường pH trung tính, vì hầu hết các protein mang
điện tích âm trong điều kiện này [50]. Ngoài ra, hầu hết các tiểu phân keo, như các
chất hữu cơ (NOMs) cũng đều mang điện tích âm [41]. Tương tự, bề mặt màng mang
điện tích dương sẽ có lực đẩy tĩnh điện với các chất tan mang điện tích dương [43].
Tính thô nhám của bề mặt màng cũng có ảnh hưởng mạnh đến mức độ fouling
[29]. Độ thô nhám của bề mặt càng lớn thì mức độ tắc màng càng cao, bề mặt gồ ghề
sẽ làm tăng tăng diện tích bám phủ của chất bị lưu giữ trên bề mặt [70]. Do đó bề mặt
các trường hợp, bề mặt màng sau khi biến tính có độ ổn định tốt và có thể áp dụng
cho nhiều loại vật liệu tạo màng khác nhau (polyme, kim loại, gốm sứ). Các phương
pháp đã và đang được nghiên cứu gồm: xử lý bề mặt màng bằng tia bức xạ UV,
ozon, plasma,… trùng hợp ghép bề mặt.
1.6. Biến tính bề mặt màng lọc bằng phƣơng pháp trùng hợp ghép
Trùng hợp ghép biến tính bề mặt màng lọc là một kỹ thuật có thể tiến hành
trong pha lỏng hay pha hơi theo các phương thức khác nhau. Về nguyên tắc, quá
trình trùng hợp ghép có khả năng đưa vào bề mặt vật liệu các nhóm chức có tính
chất ưa hoặc kỵ nước. Đối với các polyme kỵ nước, kỹ thuật trùng hợp ghép có thể
làm tăng tính ưa nước cho bề mặt vật liệu bằng cách đưa vào các nhóm chức chứa
oxi hay nito (ví dụ nhóm hydroxyl, cacbonyl, amin …). Trong một số trường hợp
đặc biệt, tính kỵ nước của bề mặt vật liệu lại cần được tăng cường, điều này có thể
thực hiện bằng cách đưa vào bề mặt các nhóm chức có tính chất kỵ nước. Quá trình
trùng hợp ghép có thể tiến hành qua một bước hay còn gọi là phương pháp đồng
hành, nghĩa là sự trùng hợp xảy ra khi có mặt đồng thời cả monome và chất khơi
mào, hoặc có thể tiến hành qua hai bước như là một kỹ thuật phối hợp, ở đây trước
hết các vị trí kích thích được tạo ra trên bề mặt vật liệu, sau đó quá trình trùng hợp
12
ghép xảy ra dưới tác động của nhiệt hoặc bức xạ. Đặc tính của lớp polyme trùng
hợp ghép phụ thuộc mạnh vào các điều kiện cũng như phương thức tiến hành trùng
hợp. Bằng cách thay đổi và kiểm soát các điều kiện trùng hợp, có thể tạo được bề
mặt vật liệu với các tính chất mong muốn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, màng
sau khi trùng hợp ghép bề mặt có khả năng chống tắc (antifouling) tốt hơn so với
màng nền ban đầu.
1.6.1. Trùng hợp ghép quang hóa dưới bức xạ tử ngoại
Phương pháp trùng hợp ghép biến tính bề mặt màng dùng bức xạ tử ngoại
nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu do một số ưu điểm như: tốc độ
300 giây [28].
Tuy nhiên, khi thực hiện các phản ứng trùng hợp ghép bằng kỹ thuật phủ
nhúng, do các tia bức xạ tiếp xúc trực tiếp với bề mặt màng nên đòi hỏi các điều
kiện khắt khe để có thể giảm thiểu tối ảnh hưởng bất lợi của tia bức xạ lên bề mặt
màng. Hơn nữa, để hạn chế ảnh hưởng của nguyên tử oxy sinh ra trong môi trường
không khí dưới tác dụng của bức xạ tử ngoại, cần tiến hành quá trình trùng hợp
ghép trong môi trường khí trơ, điều này cũng là một trở ngại đáng kể khi triển khai
kỹ thuật phủ nhúng ở qui mô công nghiệp. Trong kỹ thuật ngâm chìm, dung dịch
tác nhân trùng hợp ghép có thể hấp thụ một phần năng lượng bức xạ, do đó bề mặt
màng không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi tia bức xạ, quá trình phản ứng xảy ra êm dịu
và dễ kiểm soát hơn, mặt khác quá trình trùng hợp ghép bề mặt có thể kết nối dễ
dàng với công đoạn cuối của quá trình chế tạo màng [28].
Để tạo nên lớp polyme ghép có tính chất phù hợp và nâng cao được hiệu quả
tách lọc của màng sau khi biến tính bề mặt. Các điều kiện tiến hành quá trình trùng
hợp ghép như năng lượng tia bức xạ, thời gian trùng hợp, loại monome/polyme và
nồng độ của dung dịch ghép cũng như phương thức tiến hành quá trình... cần được
lựa chọn và kiểm soát tốt. Nếu không được kiểm soát tốt, quá trình trùng hợp ghép có
thể dẫn tới sự hình thành các homopolyme, tạo nhánh và/ hoặc liên kết chéo giữa các
chuỗi ghép, thậm chỉ có thể gây đứt gãy các liên kết và làm hư hại bề mặt màng nền.
Pieracciz và cộng sự [55] đã tiến hành quá trình trùng hợp ghép quang hóa,
sử dụng các monome ưa nước là N-vinyl-2-pyrrolidinone (NVP), Mvinylformamide (NVF) và N-vinylcaprolactam (NVC) biến tính bề mặt màng PES
có giới hạn tách 10kDa, kết quả cho thấy tính ưa nước của màng được nâng lên và
mức độ tắc màng giảm 49% khi lọc tách protein (BSA) trong dung dịch nước.
Ngoài NVP, nhiều loại monome ưa nước khác cũng có thể sử dụng để trùng hợp
14
ghép quang hóa biến tính bề mặt màng PES, như acid acrylic (AA), acid maleic
(MA), poly(ethylen glycol) methacrylate (PEGMA), N-vinylfonnamide (NVF).