Vận dụng kí họa vào dạy học phân môn vẽ tranh trong chương trình mỹ thuật lớp 8 tại trường trung học cơ sở minh cường - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

NGUYỄN HUYỀN TRANG

VẬN DỤNG KÍ HỌA
VÀO DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH TRONG
CHƯƠNG TRÌNH MỸ THUẬT LỚP 8 TẠI TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ MINH CƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN MỸ THUẬT
Khóa 2 (2016 - 2018)

Hà Nội, 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

NGUYỄN HUYỀN TRANG

VẬN DỤNG KÍ HỌA
VÀO DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH TRONG
CHƯƠNG TRÌNH MỸ THUẬT LỚP 8 TẠI TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ MINH CƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN MỸ THUẬT
Mã số: 8140111



Nxb

PPCT

:

Phân phối chương trình

SGK

:

Sách giáo khoa

THCS

:

Trung học Cơ sở


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ................ 11
1.1. Cơ sở lý luận về dạy học phân môn vẽ tranh trong chương trình Mỹ
thuật lớp 8 .................................................................................................... 11
1.1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài........................................................ 11
1.1.2. Khái quát về chương trình Mỹ thuật lớp 8 ........................................ 13
1.1.3. Khái quát phân môn vẽ tranh trong chương trình Mỹ thuật ở trường



1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc dạy và học môn mỹ thuật đã hiện diện khá lâu trong chương
trình phổ thông cơ sở của nước ta. Tuy nhiên tôi thấy ở môn Mỹ thuật lớp 8
khi bước vào loạt bài vẽ tranh theo các đề tài như tranh cổ động, minh họa
truyện cổ tích, bố cục tranh gia đình hay đề tài về Ngày nhà giáo Việt Nam
thì các học sinh rất lúng túng, rất nhiều học sinh không biết làm thế nào để
vẽ được hình theo ý mình. Thời gian làm bài trên lớp không đủ cho học
sinh vừa tư duy hình ảnh, vừa sáng tạo ý tưởng gắn liền nội dung bài học,
vừa ghi lại, hầu hết đành lấy các hình mẫu trên mạng hoặc từ sách báo để
chép và nộp cho có bài. Cách làm như vậy chưa đúng với mục đích giáo
dục trong bộ môn Mỹ thuật ở trường Trung học Cơ sở, thậm chí có thể làm
hỏng khả năng sáng tạo của học sinh.
Phân môn vẽ tranh trong chương trình giáo dục mỹ thuật Trung học
Cơ sở là phân môn có tính tổng hợp: vẽ theo mẫu, sử dụng màu sắc, sắp
xếp bố cục, khả năng quan sát, ghi nhớ... Nhằm vẽ lại, sáng tạo hình ảnh
của một phong cảnh, một bố cục sinh hoạt hay nêu lên một vấn đề trong
cuộc sống. Mục đích để phát triển khả năng sáng tạo của học sinh, đây
cũng là phân môn tạo được nhiều hứng thú học tập cho học sinh.
Bước đầu tôi tìm hiểu kỹ tất cả các bài vẽ tranh của môn Mỹ thuật
lớp 8 THCS để xem xét về các mặt: hiệu quả, tạo dáng nhân vật, lựa chọn
bối cảnh, cách thức bố cục, nguồn gốc các hình tượng nhân vật, hiệu quả
đường nét - hình mảng - đậm nhạt - màu sắc. Cần xem xét thực tế giảng
dạy môn mỹ thuật ở trường THCS - cụ thể ở đây là trường THCS Minh
Cường để tham khảo ý kiến các thầy cô về vần đề này. Được sự đồng ý của
thầy hiệu trưởng và các thầy cô giáo dạy bộ môn mỹ thuật trường THCS

cho đồng nghiệp, lên ý tưởng bài vẽ tranh phong phú và đa dạng.


3

2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Kí họa được đề cập rất nhiều trong các ấn phẩm nghiên cứu mỹ
thuật, những tài liệu mang tính khái quát, cung cấp nhiều ví dụ cụ thể, đưa
ra khái niệm mang tính lý thuyết.
Mary Suffudy (1988), Les secrets du croquis, Nxb Broquet,
Incorporated. Sách có 144 trang, nghiên cứu về kí họa nói chung, dụng cụ
và các kỹ thuật cơ bản; nêu một số các đề tài; kí họa hình dáng theo mẫu,
bố cục và các sắc độ; áp dụng từ kí họa đến vẽ tranh; sửa chữa hoàn chỉnh
tác phẩm. Nội dung đưa ra khá nhiều nhưng chưa sâu. Theo James Gurney
và Thomas Kiukade hai họa sĩ góp kiến thức xây dựng lên quyển sách này,
có bốn cách khác nhau khi vẽ kí họa: 1- vẽ nguệch ngoạc, 2- vẽ chơi, 3- vẽ
theo mẫu và 4- kí họa sắc độ. Sẽ học cách vẽ đường viền như thế nào,
hướng dẫn sử dụng bút than và mực nâu, đen để tạo ra những đường nét
tinh tế của cơ thể con người, sử dụng màu nước và sắc độ thích hợp với kí
họa thực hiện tại chỗ; bên ngoài phòng vẽ. Không chỉ giúp làm quen với
các dụng cụ chủ yếu cần để vẽ kí họa cũng với kỹ thuật thể hiện cơ bản, mà
còn hướng cho người đọc phong cách thẩm mỹ, cá tính của người vẽ thông
qua tác phẩm.
Ocvirk, Stinson, Wigg, Bone, Cayton (1997, tái bản lần thứ 8), Art
Rundamentals, Nxb McGraw-Hill. (Bản tiếng Việt là Lê Thành dịch
(2006), Những nền tảng của mỹ thuật, Nxb mỹ thuật - Công ty văn hóa
Minh Trí, nhà sách Văn Lang). Sách gồm 10 chương, trong đó có rất nhiều
lý thuyết và minh họa cụ thể, trở thành tài liệu tham khảo của đề tài nghiên
cứu: Bố cục, đường nét, tính chất biểu cảm của đường nét, sắc độ. Cụ thể

tỉ lệ của đường, về kết cấu. Chương 4: Các bước và phương pháp cơ bản để


5

vẽ chậm chân dung người, quan sát chỉnh thể, nắm vững đối tượng; bố cục
cấu trúc của hình; định hình đặt bút vẽ; khẳng định về bố cục; hoàn thành
điều chỉnh. Sách chủ yếu dạy cách vẽ tốc họa, vẽ tốc họa bằng đường nét,
một số hình thức và luyện tập chính của tốc họa. Đa số các bài tốc họa điển
hình ở đây rất đẹp và chi tiết nhưng chỉ nghiên cứu vẽ người mà thiếu tốc
họa phong cảnh, động vật, tốc họa ở đây chỉ là một trong những hình thức
của kí họa, để nghiên cứu sâu về kí họa thì chưa đủ.
Gia Bảo (2013), Vẽ kí họa. Nxb Mỹ Thuật, Hà Nội. Gồm bẩy
chương, bao quát về dụng cụ chuẩn bị, phương pháp luyện tập, các bước
tiến hành, đôi điều cần biết về phương pháp vẽ nhanh, kỹ xảo vẽ thực, cải
tiến và cuối cùng là thưởng thức tác phẩm ví dụ. Có hình mẫu và hình kí
họa đặt cạnh, đi sâu vào kết cấu người, dựa theo phương pháp mô phỏng vẽ
phác họa ngũ quan chi tiết khuôn mặt; kết cấu của tay, chân; nếp nhăn
quần áo; kí họa dáng người và cảnh xung quanh, nhóm người, có nhiều
hình minh họa cụ thể. Nhưng chưa thực sự đầy đủ, thiếu về nghiên cứu kí
họa phong cảnh và mới giới thiệu dụng cụ chuẩn bị cơ bản có phần sơ sài
như: bút chì, giấy, kẹp vẽ..
Nguyễn Lăng Bình (2004), Kí họa. Nxb Đại học sư phạm. Giáo trình
đào tạo giáo viên Trung học Cơ sở hệ cao đẳng sư phạm, gồm ba chương
chính. Chương 1 nêu rõ khái niệm về kí họa; mục đích, yêu cầu của kí họa;
vai trò của kí họa trong học tập và sáng tác hội họa; các thể loại vẽ kí họa;
kí họa nhanh; kí họa thâm diễn; giới thiệu một số tranh vẽ kí họa của họa sĩ
Việt Nam và thế giới. Chương 2: Mục đích và yêu cầu kí họa cảnh; phương
pháp, cách vẽ kí họa cảnh bằng chì. Chương 3: Kí họa động vật, người.
Nêu mục đích, yêu cầu, phương pháp và cách thực hành vẽ kí họa dáng

thuật là một môn học bắt buộc. Chương trình đảm bảo cho học sinh về
năng lực thẩm mỹ: Kết hợp được các giác quan để khám phá đối tượng


7

thẩm mỹ, phát hiện và nhận biết được giá trị thẩm mỹ cơ bản trong các tác
phẩm. Cảm nhận, liên tưởng thẩm mỹ, nhận biết yếu tố thẩm mỹ, sáng tạo
và ứng dụng thẩm mỹ, thực hành sáng tạo, biết liên hệ những phong cách
nghệ thuật vào trong tác phẩm, nhận định và đánh giá thẩm mỹ.
Nhìn chung các cuốn giáo trình kí họa kể trên đã nghiên cứu rất kỹ
về kí họa cơ bản, nêu ra một số các chất liệu cơ bản hay dùng để kí họa. Để
ý kỹ thì lại thấy nhiều đề mục trùng nhau, vấn đề nghiên cứu lặp đi lặp lại.
Bộ sách dành cho mục đích đào tạo giáo viên dạy mỹ thuật THCS luyện tập
kí họa nâng cao trình độ nhưng lại không có ví dụ hoặc áp dụng vào bài
học cụ thể cho chương trình mỹ thuật mà chỉ nhấn mạnh vai trò của kí họa
trong học tập và sáng tác mỹ thuật của giáo viên.
Qua tìm hiểu tôi nhận thấy có nhiều sách, giáo trình nghiên cứu về kí
họa nói chung, sơ lược có, bài bản có dành cho các học sinh, sinh viên
bước đầu chập chững biết đến kí họa cần chuẩn bị những gì, tiến hành từng
bước ra sao, nói về sự quan trọng của kí họa trong học tập và sáng tác.
Nhưng chưa có ai nghiên cứu vận dụng kí họa vào giảng dạy phân môn vẽ
tranh trong chương trình mỹ thuật lớp 8 cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài tôi muốn nêu lên những ưu điểm, giá trị nghệ thuật của ký
họa, sự cần thiết của tư liệu kí họa đối với phân môn vẽ tranh trong chương
trình mỹ thuật Trung học Cơ sở. Nghiên cứu về thực trạng dạy học môn mỹ
thuật nói chung và phân môn vẽ tranh nói riêng tại trường Trung học Cơ sở
Minh Cường. Từ đó, xây dựng bài giảng, nâng cao chất lượng dạy và học,

Luận văn áp dụng bốn phương pháp sau:
Phương pháp điều tra: Là phương pháp dùng những câu hỏi nhất loạt
đặt ra cho một lượng người nhằm thu được những ý kiến chủ quan của họ
về một vấn đề nào đó. Dựa trên cơ sở lý luận, các thông tin điều tra được là


9

căn cứ đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng bài học vẽ tranh hay tìm hiểu
mức độ yêu thích của học sinh đối với môn học.
Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu: Sưu tầm các đề tài nghiên
cứu, các sách báo liên quan đến các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của
luận văn, từ đó tổng hợp lại thông tin tìm ra hướng nghiên cứu phù hợp.
Phương pháp phân tích: Là phương pháp phân tích lý thuyết để nhận
thức khai thác các khía cạnh khác nhau của vấn đề từ đó chọn lọc những
thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Mỗi nguồn tài liệu đều có
giá trị riêng biệt, mỗi tác giả có cái nhìn riêng trước một đối tượng, cần
phân tích theo cấu trúc logic của nội dung phù hợp với đề tài nghiên cứu,
qua đó cũng đưa ra những bài tập rèn luyện phù hợp.
Phương pháp khảo sát, thực nghiệm: Sau khi nghiên cứu, phân tích
và đánh giá về tình hình học tập môn mỹ thuật lớp 8 tại một trường cụ thể
thì tôi viết giáo án cho bài giảng, sau đó xin phép hiệu trưởng của trường,
giáo viên bộ môn mỹ thuật của trường được dự giờ một số tiết học mỹ
thuật, sau đó giảng dạy bài giảng tại một lớp cụ thể và thu thập lại kết quả
để đối chiếu, so sánh giữa phương pháp mới mà tôi đưa ra có phù hợp, có
hiệu quả đối với phương pháp mà các thầy cô tại trường hiện đang sử dụng
hay không.
6. Những đóng góp của luận văn
Đóng góp về mặt lý luận: Góp phần nghiên cứu về vai trò, vẻ đẹp và
giá trị của kí họa không chỉ trong phân môn vẽ tranh ở chương trình mỹ

Wilhelm Friedrich Hegel - nhà triết học người Đức) "phương pháp là ý
thức về hình thức của sự vận động bên trong của nội dung". Phương pháp
hiểu theo nghĩa chung nhất là cách thức phải tiến hành để đạt tới mục tiêu.
Khái niệm dạy học: Dạy là hoạt động của giáo viên nhằm định
hướng, tổ chức, điều khiển giúp cho người học tự mình tìm kiếm chiếm
lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng thay đổi tình cảm và hình thành thái độ.
Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn
nhập và xử lí thông tin từ môi trường xung quanh.
Khái niệm phương pháp dạy học: Là những cách thức tổ chức dạy
học của giáo viên và của học sinh, giáo viên là người chỉ đạo và thông qua
hoạt động dạy truyền tài kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giới
quan và năng lực cho học sinh. Học sinh chủ động tham gia các hoạt động
học tập do giáo viên đề ra nhằm đạt được mục tiêu dạy và học. Trong quan
hệ đó, phương pháp dạy quyết định, điều khiển phương pháp học, phương
pháp học là cơ sở để lựa chọn phương pháp dạy.
1.1.1.2. Học sinh Trung học Cơ sở
Học sinh, học trò là những thiếu nhi, thiếu niên trong độ tuổi đi học (6 18 tuổi) đang theo học tại các trường tiểu học, trung học, lứa tuổi cần có sự
giáo dục của cả gia đình và nhà trường. Học sinh trung học cơ sở (độ tuổi
thiếu niên) đây là độ tuổi của người chưa thành niên (điều 18 Bộ luật dân sự


12

Việt Nam năm 2005), giai đoạn chuyển tiếp trong sự phát triển của con người
giữa thiếu nhi và trưởng thành. Ở góc nhìn sinh học thì đây là lứa tuổi có bước
nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, thời gian đến trường sinh hoạt và học tập có
tác động rất lớn đối với học sinh giai đoạn này.
1.1.1.3. Kí họa
Kí họa là khi họa sĩ vẽ vội một cách khái quát những đặc điểm
hình thái cơ bản của thiên nhiên, kiến trúc, đồ vật, động vật và con

trang trí lều trại, trang trí đồ vật dạng hình vuông; hình chữ nhật.
- Họa tiết trang trí: là khi vẽ người ta thường dùng các họa tiết hoa
lá, chim thú, các hình kỷ hà (vuông, tròn, tam giác...), đôi khi là hình dáng
người cách điệu. Học sinh cần có sự sáng tạo, tư duy ngoài ra còn biểu hiện
cảm xúc, phong cách riêng, cá tính riêng.
- Cách điệu họa tiết dùng cho trang trí từ một đối tượng người vẽ cần
khái quát hóa, đơn giản hóa, cách điệu hóa, cường điệu hóa hoặc biểu trưng
hóa hình tượng mẫu đưa vào bài vẽ. Nói đến cách điệu họa tiết từ một đối
tượng thật để đưa vào dùng trong trang trí thì không nên bỏ qua phương
pháp quan sát và kí họa, bởi kí họa là vẽ nhanh và nắm bắt đặc điểm đối
tượng một cách khái quát nhất, cụ thể nhất. Dựa vào những nét cơ bản phác
hình đã là khái quát, đơn giản hóa đối tượng hoặc từ đó đưa hình mẫu về
dạng biểu trưng để sử dụng vào bài trang trí. Biến cái ghi chép từ thực tế
thành họa tiết trang trí bằng cách lược bỏ những cái không cần thiết ngoài
bản chất và nâng nó lên một hình thức mới phù hợp nội dung và hình thức
trang trí cụ thể.
- Màu sắc trong trang trí thường có đặc điểm riêng, không giống thực
mà được cường điệu hóa so với thực tế.
- Bố cục trang trí "là sự sắp xếp các ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình
như: đường nét, hình mảng, màu sắc sao cho gây được hiệu quả cao nhất
đối với chủ đề của sản phẩm" [7, tr.86]. Các hình thức thông thường trong
bố cục trang trí: Đăng đối (đăng đối đơn - đối xứng qua một trục, đăng đối
giả - hình thức giống đăng đối đơn nhưng khác nhau về dạng bề mặt của


15

họa tiết, đăng đối kép - đối xứng nhau qua nhiều trục), nhắc lại, xen kẽ,
xoay chiều, hàng lối, phá thế và bố cục theo hình thức tự do.
1.1.2.2. Phân môn vẽ tranh

hình ảnh, góc nhìn hẹp theo kiểu "2 dính - 1 rời", "3 dính - 1 rời, "3 dính - 2
rời"... để chia ra chính - phụ. Bố cục theo dạng liên kết cũng theo dạng dính
- rời hoặc là nhóm và những chỗ ráp ranh dính - rời hoặc nhóm đó sẽ có
thêm các đối tượng nhỏ khác để tạo sự liên kết và đa dạng. Bố cục theo
dạng nhóm mảng, bố cục dạng này tôi coi là một dạng khó bởi góc nhìn
rộng, phải kết hợp các nhóm mảng to - nhỏ, trong nhóm mảng lại có các
hình cụ thể nữa. Bố cục trong phân môn vẽ tranh có đôi chút khác với phân
môn vẽ trang trí ở chỗ cần tránh chia đôi tranh dù ngang hay dọc, các đối
tượng đặt trong tranh không nên bị đều đều dễ gây nhàm chán nếu không
khéo sắp đặt. Còn trong bố cục của phân môn vẽ trang trí thì ngược lại, bố
cục đối xứng qua trục, các họa tiết được lặp đi lặp lại.
1.1.2.3. Phân môn vẽ theo mẫu
Vẽ theo mẫu là vẽ lại mẫu bày trước, diễn tả lại đặc điểm tạo hình,
cấu tạo của hình mẫu.
Phân môn vẽ theo mẫu: Mục đích giúp học sinh biết cách bày mẫu
như thế nào là hợp lý, biết cách vẽ và vẽ được hình gần giống mẫu, cảm
nhận được vẻ đẹp của tranh tĩnh vật qua cách bố cục bài vẽ. Nắm được
những nét cơ bản về tỉ lệ các bộ phận trên khuôn mặt người, biết được sự
biểu hiện tình cảm trên nét mặt, tập vẽ được chân dung, thấy được vẻ đẹp
của tranh vẽ chân dung. Biết được sơ lược vể tỉ lệ cơ thể người, vẻ đẹp cân
đối của cơ thể người, nắm bắt được các hình dáng người trong các tư thế:
đứng, ngồi, đi, chạy, nhảy... Biết vẽ một vài dáng cơ bản để áp dụng vào
bài vẽ.
Nội dung cụ thể phân môn vẽ theo mẫu trong chương trình lớp 8 ở
các trường Trung học Cơ sở hiện nay như sau: Vẽ tĩnh vật lọ và quả, giới


17

thiệu tỉ lệ khuôn mặt người, vẽ chân dung bạn, giới thiệu tỉ lệ cơ thể

con người hay thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhìn thấy được. Mỹ thuật là
môn nghệ thuật có ngôn ngữ riêng, có nhiều cấp độ thưởng thức cái đẹp,
phụ thuộc vào sự hiểu biết, năng khiếu thẩm mỹ và ý thức của riêng từng
người mà quan niệm về thẩm mỹ cũng khác nhau.
Môn học mỹ thuật được giảng dạy trong các trường Trung học Cơ sở
hiện nay nhằm bồi dưỡng, phát triển học sinh ở năng lực thẩm mĩ. Quan sát
và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ, phân tích và đánh giá
thẩm mĩ, người vẽ dùng hình ảnh thị giác để thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của
bản thân và sự sáng tạo.
Phân môn vẽ tranh trong chương trình mỹ thuật dành cho học sinh
tiểu học và Trung học Cơ sở là phân môn rất quan trọng và không thể thiếu
với khối lượng bài học. Cụ thể ở chương trình mỹ thuật lớp 8 trung học cở
sở có 35 tiết, thì có đến 10 tiết là học vẽ tranh: Vẽ tranh theo đề tài, vẽ
minh họa truyện cổ tích, vẽ đề tài tự chọn.
Vẽ tranh tự do
"Tranh tự do là tranh mà người vẽ được quyền lựa chọn mọi vấn đề
mà mình thích, mình coi là sở trường và thường là các ý tưởng được nảy
sinh bất chợt trong quá trình suy nghĩ rồi thể hiện ra" [7, tr. 105]. Nếu nhìn
nhận ở góc độ khó và dễ thì vẽ tranh theo đề tài tự do sẽ khó hơn vẽ tranh
theo đề tài một chút, chính bởi không quy định, không gò bó về đề tài thể
hiện đôi khi sẽ khiến các học sinh phân vân lựa chọn nội dung, không xác
định chủ đề cụ thể khéo sẽ dễ lan tỏa theo chiều hướng phức tạp khác. Hơn
nữa, ở thể loại này đòi hỏi học sinh sự sáng tạo, phong cách riêng trong tạo
hình rất nhiều.


19

Nói đến sự sáng tạo hay muốn vẽ được chính xác những gì học sinh
nghĩ, tưởng tượng ra lại nảy sinh một vấn đề mới. Bởi nếu các em chưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status