Tổ chức, hoạt động cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối
cao – Lý luận và thực tiễn.
A. MỞ ĐẦU
Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, trải qua nhiều biến động
thăng trầm, nhiều lần thay đổi về tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, thẩm quyền,
nhưng trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) từ năm 1960 đến
nay luôn ghi nhận sự tồn tại của Cơ quan điều tra (CQĐT) và hoạt động điều tra
vụ án hình sự luôn được xác định là hoạt động không thể thiếu trong việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân.
Từ đó đến nay, Cơ quan điều tra ngành Kiểm sát nhân dân đã liên tục được
đổi mới về cả chất và lượng. Tổ chức bộ máy từng bước được kiện toàn, với đội
ngũ cán bộ, Điều tra viên có phẩm chất tốt, có trình độ chuyên môn, năng lực,
kinh nghiệm trong hoạt động điều tra, đã đạt được những kết quả quan trọng
trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ
Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Khi nói đến Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
(VKSNDTC) thì có hai CQĐT là: CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
CQĐT Viện kiểm sát quân sự trung ương.1 Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài
này sinh viên chỉ đề cập và nghiên cứu về tổ chức, hoạt động của CQĐT Viện
kiểm sát nhân dân tối cao.
1 Điều 7, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015
1
B. NỘI DUNG
I.
Lý luận chung về Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối
2
đó là: chất lượng hoạt động tư pháp cũng chưa cao; vẫn còn tình trạng bắt, giam,
giữ người trái pháp luật, để xảy ra oan, sai trong điều tra, truy tố, xét xử; một bộ
phận cán bộ tư pháp xuống cấp về đạo đức. Vì vậy, việc duy trì Cơ quan điều tra
của Viện kiểm sát với tư cách là một Cơ quan điều tra chuyên trách, độc lập để
phát hiện, điều tra, xử lý khách quan và phòng ngừa có hiệu quả đối với các tội
phạm này là rất cần thiết.
Thứ ba, tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, nhiều
quốc gia có quy định thẩm quyền điều tra của cơ quan công tố/kiểm sát. Các cơ
quan công tố tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Italia, Trung Quốc
đều có thẩm quyền điều tra đối với một số loại tội phạm. Ví dụ: ở Trung Quốc,
theo Luật tổ chức Viện kiểm sát và Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc, Viện
kiểm sát tổ chức hệ thống cơ quan điều tra từ Trung ương đến địa phương và có
quyền điều tra đối với nhiều loại tội phạm, một trong những loại tội phạm mà cơ
quan này có thẩm quyền điều tra là tội phạm tham nhũng, tội phạm về chức vụ.
Ở Italia, Văn phòng Công tố viên Quốc gia có nhiệm trực tiếp điều tra và truy tố
tội phạm do các tổ chức mafia thực hiện. Đây là những kinh nghiệm cần tham
khảo, vận dụng khi nghiên cứu vấn đề tổ chức lại các CQĐT ở nước ta.
Thứ tư, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp, tại phiên
họp lần thứ tư của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, sau khi nghe Ban
Cán sự đảng báo cáo các đề án, Chủ tịch nước, Trưởng Ban có kết luận về vấn
đề thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao như sau: “Pháp luật
hiện hành đó có các quy định về thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, cần thực hiện theo quy định này và tiếp tục nhiệm vụ, tổng kết thực tiễn
thi hành để có kiến nghị phù hợp khi sửa đổi, bổ sung pháp luật về tố tụng hình
sự”.
2. Thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSNDTC
Cũng như CQĐT trong Công an nhân dân và CQĐT trong Quân đội nhân
Tiếp nhận, thu thập và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố thuộc thẩm quyền; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy
định của pháp luật;
Thực hiện công tác phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực tư pháp;
phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm trong hoạt động
4
tư pháp để tham mưu với Viện trưởng VKSND tối cao kiến nghị với
các cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục, phòng ngừa, xử lý tội
phạm và vi phạm pháp luật;
Dự báo tình hình tội phạm trong hoạt động tư pháp để tham mưu với
Viện trưởng VKSND tối cao về các biện pháp tăng cường công tác
điều tra, thực hành quyền công tố, đấu tranh phòng, chống tội phạm
thuộc thẩm quyền;
Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Viện trưởng VKSND
tối cao giao.
5. Nguyên tắc làm việc của CQĐT VKSNDTC
Nguyên tắc là những tư tưởng, quan điểm chủ đạo, cốt lõi mang tính định
hướng đường lối, làm kim chỉ nam xuyên suốt mọi hành động, mọi vấn đề.
CQĐT VKSNDTC được tổ chức và hoạt động dựa trên năm nguyên tắc cơ bản
sau đây:
Cơ quan điều tra làm việc theo chế độ Thủ trưởng. Mọi hoạt động
của Cơ quan điều tra phải tuân thủ quy định của pháp luật, quy định
của Ngành. Công chức thuộc Cơ quan điều tra phải thực hiện đúng
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn.
Hoạt động kiểm tra, xác minh, điều tra của Cơ quan điều tra chịu sự
kiểm sát của Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án
xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt
động tư pháp VKSND tối cao.
trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Trên cơ sở nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 256/TTg ngày 01/7/1959 quy định về
nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố. Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số
256/TTg thì trong các hoạt động của Viện công tố có hoạt động điều tra vụ án
hình sự.
Giai đoạn này, hoạt động tư pháp của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa xuất hiện ngay từ khi nước ta giành được độc lập (1945). Mặc dù mới được
thành lập nhưng đã hình thành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và do nhiều cơ
quan thực hiện. Trong đó, điều tra gắn liền với công tố, điều tra phục vụ cho
hoạt động công tố đã được thể hiện một cách rõ ràng. Cơ quan Công tố ban đầu
nằm trong hệ thống Tòa án, nhưng sau đó đã tách ra thành một hệ thống cơ quan
2 Điều 4, Quy chế tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân tối cao (Ban hành kèm
theo Quyết định số 18/QĐ-VKSTC-C1 ngày 20/11/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
6
độc lập; có vị trí, vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự và bộ máy Nhà nước
ta.
2. Giai đoạn 1960 – 1988 (trước khi ban hành BLTTHS năm 1988)
Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh số 20/L-CTN công bố
Luật Tổ chức VKSND, đây là văn bản đánh dấu sự ra đời của hệ thống VKSND
trong bộ máy Nhà nước ta. Ngày 16/4/1962, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông
qua Pháp lệnh quy định về tổ chức của VKSND tối cao và ngày 18/4/1962 Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 12/L-CTN công bố Pháp lệnh. Điều 5 của Pháp
lệnh này quy định về bộ máy của VKSND tối cao có 8 đơn vị, trong đó có Vụ
điều tra thẩm cứu (trên thực tế thì tại thời điểm này mới thành lập Phòng điều tra
thẩm cứu; đến năm 1978, Vụ Điều tra thẩm cứu chính thức được thành lập ở
VKSND tối cao trên cơ sở Phòng Điều tra thẩm cứu), quy định tại Điều 5 của
Pháp lệnh này đã đánh dấu cho sự hình thành tổ chức Cơ quan điều tra trong
lệnh Tổ chức điều tra hình sự, các văn bản này đã quy định rõ CQĐT của
VKSND là một trong hệ thống các CQĐT chuyên trách. Về tổ chức bộ máy, giai
đoạn này, Cơ quan điều tra VKSND được tổ chức ở hai cấp: VKSND tối cao có
Cục điều tra; ở VKSND cấp tỉnh có Phòng điều tra, nhưng chỉ thành lập 36
Phòng điều tra của 36 tỉnh, thành.
Đến năm 2000, chức năng, nhiệm vụ của VKSND có sự thay đổi một cách
cơ bản nên thẩm quyền của Cơ quan điều tra VKSND cũng có sự thay đổi. Theo
tinh thần tại Thông báo số 136/TB-TW ngày 25/01/1996 của Bộ Chính trị đánh
giá và định hướng cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, Viện
trưởng VKSND tối cao ban hành Chỉ thị số 01/2000/CT ngày 10/01/2000 về
công tác kiểm sát của ngành KSND năm 2000, trong đó về công tác điều tra của
Cơ quan điều tra VKSND đã nêu rõ: Thực hiện đổi mới Cơ quan điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân theo hướng tăng cường tổ chức và hoạt động của Cục
điều tra thuộc VKSNDTC, chỉ để lại Phòng điều tra Viện kiểm sát cấp tỉnh ở
những nơi xét thấy thật cần thiết. CQĐT của VKSND chỉ tập trung vào việc điều
tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ của các
cơ quan tư pháp.
8
Với sự ra đời của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và các văn bản pháp
luật khác, Cơ quan điều tra VKSND đã trở thành hệ thống Cơ quan điều tra
chuyên trách, độc lập trong hoạt động tố tụng. Hoạt động của Cơ quan điều tra
VKSND thời kỳ này đã góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của VKSND và nâng cao uy tín của ngành KSND, được dư luận đồng
tình, ủng hộ; góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và
các cơ quan bảo vệ pháp luật.
4. Giai đoạn từ năm 2003 – 2014 theo quy định của BLTTHS năm
2003 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004
Sau khi BLTTHS năm 2003 được ban hành, thể chế hóa chủ trương cải
chức và hoạt động của Cục điều tra VKSND tối cao. Theo Quy chế trên, Cơ
quan điều tra VKSND tối cao được tổ chức thành 5 phòng nghiệp vụ và 2 Đại
diện thường trực Cơ quan điều tra VKSND tối cao tại các tỉnh miền Trung – Tây
Nguyên và miền Nam với tổng số 52 biên chế. Về cán bộ lãnh đạo Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thời điểm này gồm có: Cục trưởng và 5 Phó
Cục trưởng; 5 Trưởng phòng, 8 Phó Trưởng phòng và 16 Đội Trưởng Đội
nghiệp vụ, trong đó có 33 Điều tra viên các cấp (15 Cao cấp, 16 Trung cấp và 2
Sơ cấp).
5. Giai đoạn từ năm 2014 đến nay theo quy định của Luật Tổ chức
VKSND năm 2014, BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức CQĐT
hình sự năm 2015
Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLTTHS
năm 2015, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và Luật Tổ chức Cơ quan điều tra
hình sự năm 2015. Theo đó, Cơ quan điều tra VKSND có thẩm quyền điều tra
tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy
định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật Hình sự xảy ra trong hoạt
động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra,
Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt
động tư pháp (Điều 163 BLTTHS năm 2015, Điều 20 Luật Tổ chức VKSND
năm 2014, Điều 30 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015).
Với quy định này, có thể thấy thẩm quyền điều tra, diện chủ thể của tội
phạm và địa bàn điều tra của Cơ quan điều tra VKSND đã được mở rộng hơn rất
10
nhiều so với quy định tại BLTTHS năm 2003, Luật Tổ chức VKSND năm 2002
và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004. Theo thống kê thì với quy định
mới như hiện nay, Cơ quan điều tra VKSND tối cao có thẩm quyền điều tra với
38 tội danh, bao gồm 24 tội danh thuộc chương các tội phạm xâm phạm hoạt
động tư pháp và 14 tội danh thuộc chương các tội phạm tham nhũng, chức vụ.
tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong Đại diện thường trực Cơ quan điều tra có
Phòng Điều tra tội phạm xảy ra tại các tỉnh, thành phố theo địa bàn được phân
công.
Về cán bộ lãnh đạo Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thời
điểm này gồm có: Thủ trưởng và 04 Phó Thủ trưởng; 10 Trưởng phòng.
III. Thực tiễn hoạt động của CQĐT VKSNDTC hiện nay
Năm 2010, thực hiện Quy chế số 1169 của Viện trưởng VKSND tối cao,
Cơ quan điều tra đã tiếp nhận tổng số 497 tố giác, tin báo về tội phạm, tăng
14,5% so với năm 2009; đã phân loại xác định có 178 tố giác, tin báo liên quan
đến hoạt động tư pháp, tăng 89,36% so với cùng kỳ. Trong đó có 62 tố giác, tin
báo về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra VKSND tối
cao; đã kết thúc điều tra, xác minh 45 tố giác, tin báo về tội phạm, đạt tỷ lệ
72,58%. Khởi tố thụ lý, điều tra 21 vụ/42 bị can, tăng 110% so với năm 2009.
Thông qua công tác điều tra, xác minh các tố giác, tin báo về tội phạm và giải
quyết các vụ án thuộc thẩm quyền, Cơ quan điều tra rất chú trọng kiến nghị với
cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính và phòng ngừa vi phạm, tội phạm xảy
ra ở các lĩnh vực. Năm 2010, Cơ quan điều tra đã ban hành 25 văn bản kiến nghị
gửi tới các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Từ năm 2011 đến năm 2014, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã tiếp
nhận, thu thập 4.036 thông tin về tội phạm, đã nghiên cứu giải quyết 3.947 thông
tin (đạt 97,8%). Thụ lý giải quyết tổng số 448 tố giác, đã kết thúc kiểm tra, xác
minh, chuyển hồ sơ đến VKSND tối cao kiểm sát theo quy định 440 tố giác, tin
báo về tội phạm (đạt 98,2%). Khởi tố, thụ lý điều tra 153 vụ/160 bị can; trong
đó: Tội phạm về tham nhũng trong hoạt động tư pháp: 54 vụ/55 bị can (chiếm
35,3%); tội phạm về chức vụ trong hoạt động tư pháp: 22 vụ/20 bị can (chiếm
14,4%); tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp: 56 vụ/76 bị can (chiếm 36,6 %).
Đã kết thúc điều tra 141 vụ/153 bị can, đạt 92,1%.
Việc khắc phục, thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ án tham
nhũng, chức vụ được Cơ quan điều tra VKSND tối cao chú trọng thực hiện. Tỷ
Thanh Phong 03 năm tù giam; bị cáo Phạm Văn Út 01 năm tù giam về tội “Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, tuyên phạt Nguyễn Tuyến
Dũng 10 năm tù giam về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.
13
Vụ Nguyễn Thành Đoàn, Thẩm phán, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình đã bị CQĐT VKSND tối cao khởi tố về tội “Ra bản án trái pháp luật”
do có hành vi cố ý bỏ qua các tình tiết tăng nặng, cố ý áp dụng các tình tiết giảm
nhẹ không có thực để ra bản án trái pháp luật trong quá trình xét xử vụ án “Tổ
chức đánh bạc” và “Đánh bạc” xảy ra tại thành phố Ninh Bình.
C. KẾT LUẬN
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và VKSND tối cao cùng
với sự phấn đấu không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ cán bộ, Điều tra
viên, với sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở
Trung ương và địa phương, sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân. Cơ
quan điều tra VKSND tối cao đã không ngừng trưởng thành và lớn
mạnh, đạt được nhiều thành tích to lớn trong công cuộc đấu tranh
phòng, chống vi phạm, tội phạm thuộc thẩm quyền. Đây là cơ sở để
chúng ta tin tưởng rằng, trong thời gian tới, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, sự quan tâm chỉ đạo của
VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSND tối cao sẽ hoàn thành tốt
mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng một nền tư pháp trong
sạch, vững mạnh, củng cố và nâng cao sự tin tưởng của nhân dân đối
với hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng đối với các cơ quan nhà
nước nói chung.
14
15
16
Mục Lục
A. MỞ ĐẦU........................................................................................................1
B. NỘI DUNG....................................................................................................2
I. Lý luận chung về Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao....2
1. Cơ sở của việc thành lập Cơ quan điều tra ở VKSND........................2
2. Thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSNDTC......................................3
3. Vị trí pháp lý của CQĐT VKSNDTC...................................................4
4. Nhiệm vụ của CQĐT VKSNDTC..........................................................4
5. Nguyên tắc làm việc của CQĐT VKSNDTC........................................5
II.
Tổ chức, hoạt động của CQĐT VKSNDTC..........................................6
1. Giai đoạn trước khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân – từ năm
1945 đến năm 1959........................................................................................6
2. Giai đoạn 1960 – 1988 (trước khi ban hành BLTTHS năm 1988)......6
3. Giai đoạn 1988 – 2003 theo quy định của BLTTHS năm 1988 và
Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989...........................................8
4. Giai đoạn từ năm 2003 – 2014 theo quy định của BLTTHS năm 2003
và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004......................................9
5. Giai đoạn từ năm 2014 đến nay theo quy định của Luật Tổ chức
VKSND năm 2014, BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức CQĐT hình sự
năm 2015......................................................................................................10
III. Thực tiễn hoạt động của CQĐT VKSNDTC hiện nay......................12