Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Giấy Tissue Sông Đuống. - Pdf 51

LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, một doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển phải trả lời được 3 vấn đề cơ bản đó là : Sản xuất ra cái gì? Sản xuất
như thế nào? Sản xuất cho ai? Đồng thời phải tôn trọng nguyên tắc hạch toán
trong kinh doanh là “lấy thu bù chi và phải đảm bảo có hiệu quả”.
Một trong những vấn đề mà doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm là luôn tăng
doanh thu và tăng chi phí nhưng tốc độ tăng của doanh thu phải lớn hơn tốc độ
tăng của chi phí.Muốn doanh thu tăng sản phẩm của doanh nghiệp không những
phải đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng mà còn đảm bảo một
mức giá có thể cạnh tranh với những sản phẩm cùng loại trên thị trường.Vấn đề
đặt ra cho doanh nghiệp là phải tìm được nguồn cung cấp những yếu tố đầu vào
có chất lượng mà giá cả phải chăng, đồng thời quản lý tốt, tính đúng, tính đủ
những khoản chi phí phát sinh trong từng giai đoạn sản xuất, tập hợp chi phí,
nghiên cứu, phân tích tình hình kinh tế, tình hình thị trường, đối thủ cạnh tranh…
để từ đó quyết định mức giá cho sản phẩm của doanh nghiệp một cách chính xác
và hợp lý.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế có vai trò
quyết định, tác động trực tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.Do đó, công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
là phần kế toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp.Nhận thức
được ý nghĩa và tầm quan trọng đó, qua thời gian thực tập tại Công ty Giấy
Tissue Sông Đuống cùng những kiến thức đã được học ở trong nhà trường, đề tài:
“Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty Giấy Tissue Sông Đuống” được lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp của
em.
Ngoài phần mở đầu, danh mục các thuật ngữ viết tắt, danh mục các sơ đồ,
bảng biểu, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3
chương.
1
Chương I: Lý luận chung về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.

*Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.Chi phí sản xuất
bao gồm:
3
- Chi phí nguyên vật, liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí sản xuất chung.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm,
xây
dựng kế hoạch giá thành và phân tích giá thành theo khoản mục, quản lý chi phí
sản xuất theo định mức.
*Ngoài hai cách phân loại trên, còn có thể phân loại chi phí sản xuất theo các
cách:
- Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí.Theo cách phân loại này chi
phí được phân loại thành: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp.
- Phân loại theo đối tượng chịu chi phí:
+ Chi phí trực tiếp
+ Chi phí gián tiếp
1.1.1.2.Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về
lao động sống, lao động vật hoá và chi phí khác có liên quan đến khối lượng đơn
vị công việc, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, hạch toán giá thành cũng như yêu cầu xây dựng
giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi tính toán
khác nhau.Về lý luận cũng như trên thực tế, giá thành sản phẩm được phân loại
theo rất nhiều tiêu thức:
- Theo thời điểm tính và số liệu về tính giá thành, giá thành được chia thành:
+ Giá thành kế hoạch
+ Giá thành định mức
+ Giá thành thực tế
- Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành sản phẩm được chia thành:

- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
- Loại hình sản xuất.
5
- Yêu cầu, trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh và yêu cầu thông tin
trong nội bộ doanh nghiệp.
Dựa vào căn cứ trên, đối tượng tính giá thành có thể là:
+ Sản phẩm cuối cùng đối với sản xuất giản đơn.
+ Thành phẩm ở bước chế tạo cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bước
chế tạo với sản xuất phức tạp.
+ Sản phẩm của từng đơn đặt hàng với sản xuất đơn chiếc và sản xuất từng
loại nhỏ.
+ Sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm đối với sản xuất hàng loạt với
khối lượng lớn.
1.1.3. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, đánh giá sản phẩm dở dang và
phương pháp tính giá thành sản phẩm.
1.1.3.1. Phương pháp tập hợp chi phí.
Có 2 phương pháp tập hợp chi phí: Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp và
phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp.
- Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: Được áp dụng trong trường hợp chi
phí sản xuất phát sinh chỉ liên quan đến một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
- Phương pháp tập hợp gián tiếp: Áp dụng trong trường hợp các chi phí sản
xuất khi phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, không
thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng.
1.1.3.2. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang.
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn
đang nằm trong quá trình sản xuất.Tuỳ theo đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình
công nghệ và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp có thể áp dụng một trong
các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang như sau:
*Đánh giá SPLD theo chi phí NVL trực tiếp hoặc chi phí NVL chính:
Theo phương pháp này chỉ tính cho SPLD cuối kỳ phần chi phí NVL trực tiếp

x
SL sản phẩm
quy đổi
SL sản phẩm hoàn thành + SL sản phẩm quy đổi
Trong đó: SL sản phẩm quy đổi = Sản phẩm làm dở x Mức độ hoàn thành
*Đánh giá SPLD theo chi phí sản xuất định mức:
Phương pháp này áp dụng thích hợp với các doanh nghiệp thực hiện việc hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp định mức, có
đầy đủ hệ thống các định mức chi phí.Theo phương pháp này, căn cứ vào khối
lượng SPLD và chi phí định mức cho một đơn vị sản phẩm ở từng phân xưởng để
tính giá trị SPLD cuối kỳ, cũng có thể chỉ tính theo định mức chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp hoặc cho tất cả các khoản mục chi phí.
1.1.3.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm.
-Phương pháp trực tiếp (Còn gọi là phương pháp giản đơn):
Điều kiện áp dụng: áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất
giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất
7
ngắn.Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp này là từng sản
phẩm.
Giá thành
sản phẩm
=
TGSPLD
đầu kỳ
+
CPSX
trong kỳ
-
TGSPLD
cuối kỳ

+ CPSX
tk
– SPLD
ck
) x Hệ số phân bổ SP
i
- Phương pháp tỷ lệ:
Điều kiện áp dụng: áp dụng đối với các doanh nghiệp sản phẩm sản xuất ra là
nhóm sản phẩm cùng loại nhưng với các quy cách, kích cỡ, phẩm cấp khác
nhau.Để tính được giá thành trước hết phải chọn tiêu chuẩn phân bổ giá
thành.Tiêu chuẩn phân bổ giá thành có thể là giá thành kế hoạch, giá thành định
mức của sản phẩm.Sau đó tính ra tỷ lệ tính giá thành của nhóm sản phẩm:
Tỷ lệ tính
giá thành
=
SPLD
đk
+ CPSX
tk
– SPLD
ck
Tiêu chuẩn phân bổ
8
- Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ:
Điều kiện áp dụng: áp dụng đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá
trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu được còn có thể thu được những
sản phẩm phụ (các doanh nghiệp chế biến đường, rượu, bia, mỳ ăn liền…), để
tính giá trị sản phẩm chính, kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ khỏi tổng
chi phí sản xuất sản phẩm.Đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ quy trình công
nghệ sản xuất, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính hoàn thành.

- Phương pháp định mức:
Trên cơ sở định mức tiêu hao lao động, vật tư hiện hành và dự đoán về chi phí
sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản
phẩm.Từ đó tiến hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm bằng cách:
9
Giá thành
thực tế
sản phẩm
=
Giá thành
định mức
sản phẩm
±
Chênh lệch do
thay đổi định
mức
±
Chênh lệch so
với định mức
đã điều chỉnh
1.1.4.Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm
1.1.4.1. Doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX)
*Kế toán chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên, vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu…được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm.Tuỳ
theo phương pháp hạch toán được áp dụng mà việc xác định chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp xuất dùng là giá thực tế đích danh, nhập trước xuất trước, nhập sau
xuất trước, giá bình quân…
- Kế toán sử dụng TK 621 “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” để tập hợp chi

- Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
đơn vị sản xuất được khái quát qua sơ đồ 4.
1.1.4.2. Doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ (KKĐK)
Trong các doanh nghiệp áp dụng phương pháp KKĐK, các nghiệp vụ phát
sinh liên quan đến hàng tồn kho không được ghi sổ liên tục.Cuối kỳ doanh
nghiệp phải tiến hành kiểm kê tất cả các loại nguyên, vật liệu, thành phẩm trong
kho và tại các phân xưởng cùng với bộ phận sản xuất dở dang để xác định chi phí
của sản phẩm hoàn thành, của hàng đã bán.Vì vậy, hạch toán chi phí sản xuất
trong các doanh nghiệp này cũng có những khác biệt so với các doanh nghiệp áp
dụng phương pháp KKTX.
* Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Để phản ánh các chi phí vật liệu đã xuất dùng cho sản xuất sản phẩm, kế toán
sử dụng TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”.Các chi phí được phản ánh
trên tài khoản này không ghi theo chứng từ xuất dùng nguyên, vật liệu mà được
11
ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi tiến hành kiểm kê và xác định được
giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đang đi đường.
- Trình tự kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp KKĐK
sơ đồ 5.
* Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Tài khoản sử dụng và cách tập hợp chi phí trong kỳ cũng giống như phương
pháp KKTX.Cuối kỳ, kế toán kết chuyển về TK 631 để tính giá thành theo từng
đối tượng.
- Trình tự kế toán chi phí nhân công trực tiếp theo phương pháp KKĐK.Sơ đồ
6
*Kế toán chi phí sản xuất chung
Toàn bộ chi phí sản xuất chung được tập hợp vào TK 627 “Chi phí sản xuất
chung” và được chi tiết theo tài khoản cấp 2 tương ứng và tương tự như với
doanh nghiệp áp dụng phương pháp KKTX, trừ 2 nội dung về chi phí nguyên vật
liệu công cụ, dụng cụ sẽ hạch toán như sau:

+ Bảng chấm công
+ Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
+ Bảng thanh toán tiền lương
+ Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội (trực tiếp)
- Chứng từ kế toán chi phí sản xuất chung.Sơ đồ 11
+ Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu (gián tiếp)
+ Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội (gián tiếp)
+ Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ
+ Phiếu xuất kho
+ Hoá đơn GTGT
+ Giấy báo nợ
+ Phiếu chi
- Chứng từ kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.Sơ
đồ số 12
+ Phiếu kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
13
+ Phiếu kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
+ Phiếu kết chuyển chi phí sản xuất chung
+ Phiếu tính giá thành sản phẩm
+ Phiếu xác nhận công việc hoặc sản phẩm hoàn thành…
1.2.2. Tổ chức sổ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành quyết định số 15/QĐ/BTC ngày
20/03/2006, các doanh nghiệp được áp dụng 1 trong 5 hình thức kế toán sau:
- Hình thức kế toán Nhật ký chung - Sơ đồ 13.
- Hình thức kế toán Nhật ký sổ cái - Sơ đồ 14.
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ - Sơ đồ 15.
- Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ - Sơ đồ 16.
- Hình thức kế toán máy
14
CHƯƠNG II

ngành chế biến gỗ và giấy, kinh doanh vận tải, bốc xếp hàng hoá.
Sự thay đổi trong cơ chế quản lý đã tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, nhưng bên cạnh đó những biến động của thị trường, sự gia
tăng của các sản phẩm cùng loại cũng tạo cho công ty không ít khó khăn. Với sự
năng động sáng tạo toàn bộ đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty đã và
15
đang cố gắng, nỗ lực hết mình để đưa công ty ngày một phát triển khẳng định chỗ
đứng trên thị trường trong cũng như ngoài nước.
2.1.2.Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.2.1.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Từ khi chuyển đổi sang hướng kinh doanh mới, bộ máy của công ty đã được
thu gọn. Cách tổ chức mới cho thấy hiệu quả rõ rệt, giảm đáng kể chi phí quản lý.
Các bộ phận lao động được chuyên môn hoá và có những quyền hạn nhất định,
được bố trí thành những cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các
chức năng và phục vụ mục đích chung đã xác định của công ty.
Đứng đầu công ty là giám đốc, trực tiếp phụ trách phòng tổng hợp. Tiếp đến
là hai phó giám đốc: Một phó giám đốc kỹ thuật sản xuất, một phó giám đốc kinh
tế. Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất phụ trách phòng kỹ thuật và bốn phân xưởng:
Phân xưởng xeo giấy, phân xưởng gia công, phân xưởng gỗ và phân xưởng bảo
dưỡng. Phó giám đốc kinh tế phụ trách ba phòng: Phòng tài chính-kế toán, phòng
thị trường, phòng vật tư.
Sơ đồ 17: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty Giấy Tissue Sông Đuống.
Đặc điểm bộ máy quản lý.
Ban giám đốc:
- Giám đốc: là người đứng đầu công ty, giám sát các mặt quản lý, tổ chức sản
xuất, gia công chế biến và tiêu thụ các loại sản phẩm của công ty theo kế hoạch
Tổng công ty duyệt đạt hiệu quả cao.
- Phó giám đốc phụ trách kinh tế: chịu trách nhiệm công tác kinh tế vật tư và
các công tác khác.
- Phó giám đốc phụ trách kỹ thụât sản xuất: chịu trách nhiệm về công tác kỹ

thông qua băng tải.Bột tấm hoặc giấy lề sẽ được nghiền nhờ hệ thống máy nghiền
có tác dụng nâng độ mịn của giấy thành phẩm.Sau khi nghiền, nếu nguyên liệu
đầu vào là bột tấm sẽ được giữ trong bể chứa còn nếu nguyên liệu là giấy lề thì sẽ
được đánh tơi trước khi cho vào bể chứa để tránh cho bột bị vón cục.Từ bể chứa,
nguyên liệu được đưa vào hệ thống lọc cát nồng độ cao để loại bỏ các chất bẩn
rồi lại tiếp tục được nghiền nếu nguyên liệu là bột tấm.
- Các nguyên liệu đã qua sơ chế được cho vào bể trộn đã có sẵn các hợp chất
phụ gia như: chất làm tăng độ trắng, độ bền ướt, chất làm mềm, sút…và trộn đều
để giấy thành phẩm sau này đạt tiêu chuẩn yêu cầu.Từ bể trộn, nguyên liệu được
đưa sang bể máy và được lọc cát một lần nữa để loại bỏ những tạp chất còn sót
lại.Sau đó, nguyên liệu này lại được đưa qua sàng áp lực để loại ra những nguyên
liệu thô, to chưa đạt tiêu chuẩn.Công đoạn này quyết định độ mịn của giấy thành
17
phẩm.Đến đây, nguyên liệu đạt tiêu chuẩn được cho vào máy xeo, dàn đều và cán
mỏng trên chăn xeo cho tới khi đạt độ mỏng yêu cầu.Giấy ướt được hình thành
và được đưa qua bộ phận sấy khô.Kết thúc công đoạn này, giấy đạt độ khô từ 93-
95% và được chuyển sang máy xếp lớn để cuộn lại thành những cuộn giấy có
đường kính từ 90-100 cm.Những cuộn giấy này được bao gói cẩn thận để bán gọi
là giấy nguyên liệu hoặc tiếp tục gia công tạo thành giấy thành phẩm.
Sơ đồ 18: Dây chuyền công nghệ sản xuất giấy Tissue
2.1.2.3. Tổ chức công tác kế toán tại Công ty Giấy Tissue Sông Đuống
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý, điều kiện và trình độ quản
lý của công ty, bộ máy kế toán tổ chức theo mô hình kế toán tập trung. Tại các
phân xưởng không có bộ phận kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên thống kê
các số liệu ban đầu.Định kỳ, các nhân viên thống kê gửi số liệu lên phòng kế toán
tài chính để phục vụ cho việc hạch toán toàn nhà máy.
Phòng kế toán gồm 6 người được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của phó giám
đốc kinh tế. Đứng đầu phòng kế toán là kế toán trưởng.Về nhân lực, phòng kế
toán không quản lý các nhân viên thống kê, tuy nhiên về nghiệp vụ mọi nhân
viên thống kê đều chịu sự chỉ đạo trực tiếp của kế toán trưởng.

kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, giá trị nguyên vật liệu xuất kho
được tính bình quân sau mỗi lần nhập.
Các sổ sách kế toán được sử dụng trong việc hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại công ty:
-Sổ nhật ký chứng từ:
+Nhật ký chứng từ số 1 (Tiền mặt)
+Nhật ký chứng từ số 2 (Tiền gửi ngân hàng)
+Nhật ký chứng từ số 5 (Phải trả người bán)
+Nhật ký chứng từ số 7 (Tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh)
+Nhật ký chứng từ số 10 (Thuế GTGT được khấu trừ)
-Bảng kê:
+Bảng kê số 4 (Tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng)
+Bảng kê số 8 (Nhập xuất tồn kho hàng hoá)
-Bảng phân bổ:
+Bảng phân bổ nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ
+Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương
+Bảng tính và phân bổ khấu hao tài sản cố định
-Sổ chi tiết các tài khoản: 621, 622, 627
-Sổ cái các tài khoản: 621, 622, 627, 154
19
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY GIẤY TISSUE SÔNG ĐUỐNG
2.2.1. Kế toán chi phí sản xuất tại Công Ty Giấy Tissue Sông Đuống
2.2.1.1. Đặc điểm chi phí sản xuất tai công ty Giấy Tissue Sông Đuống
Công ty Giấy Tissue Sông Đuống là một doanh nghiệp là loại hình doanh
nghiệp sản xuất hàng loạt với các sản phẩm giấy, vở tập, các loại gỗ dán với
nhiều quy cách chủng loại khác nhau.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm tất cả giá trị nguyên vật liệu, nhiên
liệu…được dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm.Nguyên vật liệu trực tiếp của
công ty bao gồm: bột giấy, gỗ tròn các loại, ván mỏng các loại, hoá chất như chất

*Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên vật liệu trực tiếp là khoản mục chi phí cơ bản và chiếm một tỷ trọng
đáng kể trong toàn bộ cơ cấu chi phí sản xuất của công ty.Mặt khác loại nguyên
vật liệu được sử dụng thường đa dạng về chủng loại và được cung cấp từ nhiều
nguồn khác nhau.
Do vậy, công tác này được tiến hành thường xuyên và có độ chính xác cao.
Tại Công ty Giấy Tissue Sông Đuống, nguyên vật liệu trực tiếp để sản xuất
sản phẩm trên bao gồm: Bột giấy, hơi, chất tăng trắng, chất làm mềm, chất tăng
bền ướt, chất phủ lô, chất tách lô, nguyên vật liệu phụ khác.
Nguyên vật liệu xuất dùng xuất phát từ nhiệm vụ sản xuất mà cụ thể là kế
hoạch
sản xuất hàng tháng.Việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh trong
tháng được tiến hành khi kết thúc một kỳ sản xuất kinh doanh (một tháng).
Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 621
“Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”.Tài khoản này được mở chi tiết theo từng
phân xưởng
TK 62111 - Phân xưởng Gia công
TK 62112 - Phân xương Gỗ
TK 62114 – Phân xưởng Xeo giấy
Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, nhu cầu thực tế và định mức tiêu hao nguyên
vật liệu, các phân xưởng lập phiếu lĩnh vật tư thay vì sử dụng phiếu xuất
kho.Việc thay phiếu xuất kho bằng phiếu lĩnh vật tư vừa giảm bớt chi phí sổ sách,
thủ tục (thông thường phiếu yêu cầu vật tư và phiếu xuất kho) vừa góp phần làm
tăng tính chủ động của các phân xưởng, tránh tình trạng chậm trễ trong công tác
cung cấp nguyên vật liệu ảnh hưởng tới sản xuất.Phiếu lĩnh vật tư được lập thành
21
4 liên giao cho tổ trưởng phân xưởng, thủ kho, phòng vật tư, phòng kế toán giữ
để tập hợp, kiểm tra, lưu trữ và đối chiếu khi cần thiết.
Giá trị nguyên vật liệu xuất kho được tính theo phương pháp giá thực tế bình
quân sau mỗi lần nhập.Phương pháp này cho phép kế toán tính giá nguyên vật

đủ theo nguyên tắc, chế độ chung.Tại Công ty Giấy Tissue Sông Đuống, chi phí
nhân công trực tiếp phát sinh cho phân xưởng nào thì tập hợp chi phân xưởng đó.
Chi phí nhân công trực tiếp được theo dõi trên TK 622 “Chi phí nhân công
trực tiếp” và được mở chi tiết theo từng phân xưởng như sau:
TK 62211 - Phân xưởng Gia công
TK 62212 - Phân xưởng Gỗ
TK 62214 – Phân xưởng Xeo Giấy
Hàng ngày, tổ trưởng hoặc trưởng ca sản xuất có nhiệm vụ theo dõi số công
nhân đi làm, nghỉ phép,…và thực hiện chấm công.Cuối tháng, bảng chấm công
được nộp cho bộ phận thống kê tại phân xưởng để tổng hợp công lao động.Sau
đó, nhân viên thống kê gửi bảng chấm công, bảng tính lương kèm theo phiếu
nhập kho sản phẩm hoàn thành lên bộ phận lao động tiền lương thuộc phòng
hành chính tổng hợp để tính toán xác định số tiền lương cho phân xưởng.
Tiền
lương
phải trả
=
Tiền
lương
thực tế
+
Tiền
lương
thêm giờ
+
Tiền
lương
nghỉ lễ,
phép
+

Hệ số lương x 350.000
x
Số công nghỉ
lễ, phép
22
23
- Tiền thưởng căn cứ vào xếp loại lao động:
+ Loại A : 60.000 đồng
+ Loại B : 40.000 đồng
+ Loại C : 20.000 đồng
- Tiền lương thực tế: Hiện nay công ty đang áp dụng hai hình thức tính lương
sau:
Tính lương theo thời gian: Hình thức này được áp dụng với các cán bộ quản lý
doanh nghiệp, bộ phận phân xưởng, nhân viên các phòng ban. Mức lương được
hưởng căn cứ vào thời gian làm việc, trình độ chuyên môn, hệ số lương…của
người lao động.
+ Cán bộ quản lý phân xưởng (quản đốc, phó quản đốc, đốc công)
Tiền lương thực tế =Thu nhập bình quân một công (của phân xưởng) x Số ngày
công x Hệ số trách nhiệm
(Hệ số trách nhiệm phụ thuộc vào vị trí, cấp bậc người lao động)
Ví dụ: Có những thông tin sau về ông Đinh Quốc Hưng, quản đốc phân xưởng
giấy:
Hệ số lương: 3.58
Số ngày công thực tế tháng: 22 công, Số công nghỉ lễ, phép: 1 công
Hệ số trách nhiệm: 1.8
Tổng lương thực tế theo sản phẩm của công nhân trực tiếp sản xuất phân xưởng
giấy (không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, tiền thưởng, phụ cấp,lương nghỉ
lễ, phép):54.317.392 đồng.
Tổng số công chuẩn của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm phân xưởng giấy:
792 công

công thực tế
x
Hệ số năng
suất lao động
22
(Hệ số năng suất lao động phụ thuộc vào giá trị sản phẩm hoàn thành nhập kho
trong tháng và bằng tổng tiền lương thực tế chia (/) tổng tiền lương định mức).
Ví dụ: Có những thông tin sau về chị Vương Thị Chỉnh, nhân viên thống kê,
hạch toán phân xưởng giấy:
Hệ số lương: 3.58
Số ngày công thực tế tháng3/2006: 21 công
Hệ số năng suất lao động phân xưởng giấy: 1.367
Tiền thưởng lao động loại B: 40.000 đồng
Lương nghỉ lễ, phép: 2 công tương đương 114.000 đồng (cách tính lương nghỉ lễ,
phép như trên)
Tiền lương của chị Chỉnh được tính như sau:
Tiền lương
thực tế
=
3.58 x 350.000
x 21 x 1.367 = 1.635.000 (đồng)
22
Tiền lương của chị Chỉnh = 1.635.000 + 40.000 + 114.000 = 1.789.000 (đồng)
Tiền lương tính theo sản phẩm và thời gian: Hàng tháng căn cứ vào phiếu nhập
kho sản phẩm hoàn thành, nhân viên thống kê các bộ phận tiến hành tập hợp,
phân loại các sản phẩm theo quy cách, chủng loại khác nhau và gửi lên phòng
hành chính tổng hợp để tính ra tổng lương sản phẩm.Công thức tính như sau:
25

Trích đoạn MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY GIẤY TISSUE SÔNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status