BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
, THỂ THAO VÀ DU
BỘ VĂN HÓA
LỊCH VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
-----------------------
ĐỖ NGỌC QUANG
XÂY DỰNG NỘI DUNG NGOẠI KHÓA NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ
CHUYÊN MÔN CHO SINH VIÊN CHUYÊN SÂU THỂ DỤC TRƢỜNG
ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Hà Nội – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
, THỂ THAO VÀ DU
BỘ VĂN HÓA
LỊCH VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
-----------------------
ĐỖ NGỌC QUANG
XÂY DỰNG NỘI DUNG NGOẠI KHÓA NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ
CHUYÊN MÔN CHO SINH VIÊN CHUYÊN SÂU THỂ DỤC TRƢỜNG
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
5
1.1. Giáo dục đại học ở nước ta.
5
1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục đại học.
5
1.1.2. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến đào tạo cán bộ
quản lý, giáo viên, huấn luyện viên và hoạt động tập luyện ngoại
khóa Thể dục thể thao cho đối tượng học sinh, sinh viên các cấp.
7
1.1.3. Chất lượng đào tạo đại học.
8
1.1.4. Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ.
1.4.1. Khái niệm ngoại khóa Thể dục thể thao.
21
1.4.2. Khái niệm về trình độ chuyên môn.
28
1.5. Đào tạo môn chuyên sâu Thể dục tại Trường Đại học TDTT
Đà Nẵng.
29
1.5.1. Đặc điểm môn chuyên sâu Thể dục.
29
1.5.2. Phân loại Thể dục.
30
1.5.3. Đặc điểm cơ bản hoạt động ngoại khóa của sinh viên
chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
1.5.4. Những yêu cầu chung khi xây dựng nội dung tập luyện
33
ngoại khóa cho Sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
50
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
50
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm.
51
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm.
51
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm.
52
2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
55
2.2.6. Phương pháp toán học thống kê.
56
2.3. Tổ chức nghiên cứu.
58
3.1.4. Thực trạng mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội đối với sinh viên
môn chuyên sâu Thể dục.
79
3.1.5. Sự cần thiết của việc tổ chức tập luyện ngoại khóa nâng cao
trình độ chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu Thể dục.
86
3.1.6. Bàn luận về kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1.
88
3.2. Xây dựng nội dung tập luyện ngoại khóa cho sinh viên
chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
96
3.2.1. Cơ sở xây dựng nội dung tập luyện ngoại khóa cho
sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
96
3.2.2. Xây dựng nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên
môn cho sinh viên chuyên sâu Thể dục.
103
3.2.3. Xây dựng chương trình ngoại khóa cho sinh viên chuyên sâu
1. Kết luận.
131
2. Kiến nghị.
132
3. Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố có
liên quan đến luận án.
4. Tài liệu tham khảo.
DANH MỤC BIỂU BẢNG
STT
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
3.10
NỘI DUNG
Thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy môn Thể dục Trường
Đại học TDTT Đà Nẵng
Ý kiến phản hồi của sinh viên về công tác giảng dạy môn
3.11
ngoại khóa môn chuyên sâu Thể dục đối với việc nâng cao
73
trình độ chuyên môn
3.12
Ý kiến phản hồi của sinh viên chuyên sâu Thể dục về hứng thú,
mức độ, thời gian, thời điểm và địa điểm ngoại khóa
74
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17
3.18
3.19
3.20
3.21
3.22
3.23
3.24
Ý kiến phản hồi của sinh viên về nhu cầu tập luyện ngoại khóa
nâng cao trình độ môn chuyên sâu Thể dục
81
82
83
85
87
Kết qủa phỏng vấn lần 1 lựa chọn nội dung xây dựng chương
3.25
trình ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho nam sinh
viên chuyên sâu Thể dục
105
Kết qủa phỏng vấn lần 1 lựa chọn nội dung xây dựng chương
3.26
trình ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho nữ sinh
105
viên chuyên sâu Thể dục
Kết qủa phỏng vấn lần 2 lựa chọn nội dung xây dựng chương
3.27
trình ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho nam sinh
105
3.36
Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nam sinh viên
chuyên sâu Thể dục trước thực nghiệm sư phạm
Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nữ sinh viên chuyên
sâu Thể dục trước thực nghiệm sư phạm
Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nam sinh viên
chuyên sâu Thể dục sau 6 tháng thực nghiệm sư phạm
Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nữ sinh viên chuyên
sâu Thể dục sau 6 tháng thực nghiệm sư phạm
Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nam sinh viên
chuyên sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm sư phạm
Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nữ sinh viên chuyên
sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm sư phạm
119
121
123
124
125
127
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
3.1
NỘI DUNG
Kết quả kiểm tra năng lực vận động chuyên môn của hai
nhóm trước thực nghiệm sư phạm
sinh viên chuyên sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm
127
Kết quả kiểm tra năng lực tổ chức giờ học và triển khai
3.6
phương pháp giảng dạy - kết quả học tập của nữ sinh viên
128
chuyên sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm
DANH MỤC SƠ ĐỒ
STT
3.1
NỘI DUNG
Các bước tiến hành thực nghiệm ứng dụng nội dung tập
luyện ngoại khóa môn chuyên sâu Thể dục
TRANG
114
DANH MỤC VIẾT TẮT
CHXHCN:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CLB:
KNKX :
Kỹ năng kỹ xảo
NĐC:
Nhóm đối chứng
NTN:
Nhóm thực nghiệm
SL:
Số lượng
SV:
Sinh viên
TDTT:
Thể dục thể thao
TD:
Thể dục
VĐV:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ và quy định của Bộ GD-ĐT,
Trường ĐH TDTT Đà Nẵng đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ năm 2013. Đào
tạo theo hình thức này, thời lượng các môn học nói chung và môn CSTD
2
được rút ngắn. Để đáp ứng yêu cầu của CTĐT, có kết quả học tập tốt cũng
như nâng cao trình độ chuyên môn SV cần phải tích cực, chủ động ngoại
khóa. Tuy nhiên, để ngoại khóa có hiệu quả thì cần có một nội dung phù hợp
và được tổ chức chặt chẽ, bài bản.
Các môn thực hành nói chung và môn chuyên sâu Thể dục (CSTD) nói
riêng của Trường Đại học TDTT Đà Nẵng được tổ chức đào tạo theo hệ thống
tín chỉ, đào tạo theo hình thức này sinh viên CSTD phải tích cực tự học, ngoại
khóa và giảng viên cần giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm thì
mới đạt hiệu quả cao, tuy nhiên khai thác triệt để hình thức đào tạo theo hệ
thống tín chỉ hay tuyên truyền, khuyến khích SV tự học, ngoại khóa chưa
được chú ý quan tâm đầy đủ. Vì vậy, việc tập luyện ngoại khóa để nâng cao
trình độ chuyên môn của sinh viên CSTD chỉ mang tính tự phát, chưa phát
triển thành phong trào sâu rộng, hơn nữa việc chưa có một nội dung ngoại
khóa phù hợp, khoa học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tập luyện.
Trong quá trình nghiên cứu nhằm xây dựng một hệ thống lý luận và
thực tiễn của công tác đào tạo liên quan đến giờ học không chính khóa, đã có
sự đóng góp rất đáng trân trọng của nhiều giảng viên, nhà khoa học, chuyên
gia, các nhà quản lý TDTT có kinh nghiệm như tác giả Mai Thị Thu Hà
(2014) “Nghiên cứu hiệu quả tập luyện và thi đấu Thể dục Aerobic trong hoạt
động ngoại khoá đối với học sinh tiểu học” [27]. Nguyễn Văn Long (2010)
“Nghiên cứu đề ra các giải pháp tổ chức tập luyện ngoại khoá nhằm nâng
cao hiệu quả học tập môn Điền kinh cho sinh viên Trường Đại học TDTT Đà
Nẵng” [43]. Nguyễn Mạnh Hùng (2015) “Đánh giá sự hứng thú đối với môn
Thực trạng nhu cầu ngoại khóa của sinh viên CSTD.
Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động ngoại khóa của sinh viên CSTD.
Ý thức tham gia ngoại khóa của sinh viên CSTD.
Mục tiêu 2: Xây dựng nội dung ngoại khóa cho sinh viên chuyên sâu
Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Xây dựng trên cơ sở dựa vào nội dung và hình thức tổ chức hoạt động
ngoại khóa TDTT đã được áp dụng rộng rãi từ trước đến nay.
4
Xây dựng trên cơ sở phỏng vấn chuyên gia, GV và SV.
Xây dựng dựa trên kế hoạch học tập chính khóa của sinh viên CSTD.
Xây dựng trên cơ sở kết quả học tập môn CSTD.
Xây dựng dựa trên nhu cầu xã hội (các đơn vị sử dụng) đối với SV tốt
nghiệp môn CSTD.
Xây dựng được nội dung ngoại khóa phù hợp cho sinh viên CSTD
Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây
dựng cho sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Tiến hành thực nghiệm nội dung ngoại khóa đã xây dựng trên đối
tượng sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây
dựng cho sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Kiểm nghiệm đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây dựng và
hoàn thiện quá trình nghiên cứu.
Giả thuyết khoa học: Tổ chức tập luyện khoa học, bài bản các nội
dung ngoại khóa đã xây dựng thì trình độ chuyên môn của sinh viên CSTD sẽ
được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao về
TDTT cho đất nước.
thức, sáng tạo của người học” [2].
6
Nghị quyết trên đã nhấn mạnh, trong giáo dục đại học cần chú trọng
hơn nữa đến phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự làm giàu tri thức,
sáng tạo của SV. Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện
hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, chủ động lập kế hoạch học
tập và thực hiện, trên cơ sở đó tạo cơ hội học tập suốt đời.
Quyết định số 711/QĐ-TTg, ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục của nước ta giai đoạn 20112020 đã chỉ rõ: “…đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy
độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực
ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm
và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ
phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới” [72].
Công văn số 184/2016/BGDĐT-VP, ngày 18/01/2016 của Bộ GD-ĐT
về việc triển khai đánh giá giai đoạn I, Chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo
năm 2011-2020 theo Quyết định số 711/QĐ –TTg, ngày 13/6/2012 của Thủ
tướng Chính phủ đã nêu ra mục đích: “Đề xuất, kiến nghị điều chỉnh lại một
số chỉ tiêu, giải pháp mới trong thực hiện giai đoạn II Chiến lược phát triển
giáo dục 2011-2020 cho phù hợp với thực tế ” [10].
Hơn nữa, Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng và Chỉ thị số 1973-CT/Tg, ngày 07/11/2011 của Thủ tướng
Chính phủ đã nhấn mạnh: “Tiếp tục chỉ đạo việc biên soạn chương trình, giáo
trình về đạo đức Hồ Chí Minh để giảng dạy ở các cấp học, bậc học thuộc hệ
thống giáo dục quốc dân và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các học viện, trường
chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp” [71].
Tóm lại, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến lĩnh vực giáo dục, nhất
là giáo dục đại học, coi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt có vị trí rất quan
nghiệp và động lực làm việc, tạo ra giá trị của cải cho xã hội. Nâng cao chất
lượng đào tạo đại học giúp SV có những kỹ năng, kiến thức, tư duy sáng tạo,
có khả năng làm việc, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động nhân lực.
Nguyễn Như Ý (1998), từ điển tiếng Việt: “Chất lượng là cái tạo nên
phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc, cải tạo nên bản chất sự
vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [90].
9
Nguyễn Đức Chính: “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hay sự
đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chất lượng là một khái niệm mang tính
tương đối, rộng, đa chiều và với những người khác nhau có những ưu tiên
khác nhau khi xem xét nó” [16].
Hoàng Phê và cộng sự (1998): “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất,
giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [57].
Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh: “Chất lượng là sự tuyệt hảo,
hoàn mỹ, chuẩn mực cao” [20].
Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau. Do
con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu về chất
lượng cũng khác nhau. Nói như vậy, không phải chất lượng là một khái niệm
quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương
đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi. Tuy nhiên, cần tuân thủ một
số đặc điểm sau của khái niệm chất lượng: Chất lượng được đo bởi sự thỏa
mãn nhu cầu. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu
chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém. Do chất lượng được đo bởi sự
thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn
luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.
Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, xét và chỉ xét đến mọi đặc
tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các
định chất lượng giáo dục được thực hiện theo chu kỳ 5 năm/lần” [5].
Xu thế toàn cầu hóa trong giáo dục đại học đang diễn ra mạnh mẽ, sự
cạnh tranh có mức độ khốc liệt lớn. Trong cuộc cạnh tranh đó, trường nào có
thương hiệu mạnh sẽ thắng cuộc và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chính
là thương hiệu mạnh của trường đó.
1.1.4. Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ.
Nghị quyết số 06/NQ-CP, ngày 07/3/2012 về việc ban hành Chương
trình hành động của Chính phủ đã nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục và đào tạo” [17].
11
Phần 3, điều 3, Quyết định số 17/2014/VBHN-BGDĐT, ngày
15/5/2014 của Bộ GD-ĐT về việc ban hành quy chế đào tạo cao đẳng, đại học
chính quy theo hệ thống tín chỉ đã quy định rõ: “Đối với những học phần lý
thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải
dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” [8].
Nguyễn Trọng Hải (2013), trong bài viết: “Vài nét về đào tạo tín chỉ và
một số nhiệm vụ, giải pháp của việc đào tạo tín chỉ trong các cơ sở giáo dục
đại học của ngành Thể dục, thể thao”, tín chỉ cũng tương tự như đơn vị học
trình, đều là đơn vị đo khối lượng học tập của người học, nhưng khác ở chỗ
người học phải mất 15 giờ chuẩn bị cá nhân để tiếp thu 1 đơn vị học trình,
trong khi phải mất 30 giờ mới tiếp thu được 1 tín chỉ. Nghĩa là học chế tín chỉ
đòi hỏi thời gian tự học nhiều hơn [30].
Bản chất của phương pháp đào tạo này là phát huy tính tích cực, chủ
động, trong đó tự học, tự nghiên cứu là yếu tố quyết định kết quả học tập của
SV được đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Có thể khẳng định, tự học là hình thức
học tập không thể thiếu được của SV đang học tập tại các trường đại học.
Phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ lấy người học làm trung tâm
ở phần trình độ học vấn là: Tự học. Năm 1961, tại Hội nghị chuyên đề SV
quốc tế họp ở Việt Nam, Người kể: “Về văn hóa: Tôi chỉ học hết lớp tiểu
học... Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi, tôi mới thấy ngọn đèn điện lần
đầu tiên, 20 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên...” [45].
Ngày 17/8/1962, nói chuyện với giáo viên, học sinh trường Thanh niên
lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình, Bác kể lại: “Trước đây lúc tuổi thanh
niên, Bác hoạt động ở Pháp, cũng vừa lao động, vừa học tập, nhưng lúc đó lao
động là lao động nô lệ cho đế quốc. Bác phải làm thế để tự kiếm sống, nhưng
vẫn dành thì giờ để học tập, ngày lao động, đêm học tập, chứ Bác không được
đến trường học đâu” [47].
Người quan niệm: “Tự học là cách học tự động và phải biết tự động
học tập. Tự động học tập tức là tự học một cách tích cực tự giác, chủ động
13
không cần ai phải nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ
động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai thực hiện kế
hoạch đó một cách tự giác tích cực, tự mình làm chủ thời gian để học và tự
mình kiểm tra đánh giá việc học của mình” [46].
Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình
tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm….người tự học hoàn toàn làm chủ mình,
muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được” hay: “Tự học là cần
thiết nhưng không phải là một sự bắt buộc; ta hoàn toàn được tự do, tự chủ,
nhờ vậy nó là một cái thú” [42].
Tự học là hình thức hoạt động cá nhân do bản thân người học nỗ lực
thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập ở trên lớp hay ngoài lớp. Có thể
diễn ra khi còn đang học, khi đã ra trường và trong suốt cả cuộc đời” hay “Tự
học là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội trong hoạt động thực tiễn của
cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ mới cải tiến kinh nghiệm trau
các hành động như vậy. Khi con người có nhu cầu thực sự sẽ nảy sinh ra tính
tích cực tự giác hoạt động, học tập, lao động: “Nguồn gốc của tính tích cực và
hoạt động cá nhân của con người là nhu cầu” [88].
Tự học phải được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, tự giác và hoàn toàn
không có sự ép buộc hoặc áp lực từ bất cứ điều gì thì nó sẽ có hiệu quả cao
nhất, có nghĩa là nó phải mang đến hứng thú nhất định cho đối tượng tự học.
Tính tích cực của tự học trong giáo dục và đào tạo đã được thấy rõ. Tuy
nhiên, nếu tự học không có phương pháp, không có đường lối và sự hướng
dẫn của thầy cô thì sẽ dẫn đến những sai lầm, làm lãng phí thời gian, công sức
của người học. Hơn nữa, việc sửa chữa lại những sai lầm đã được định tính,
ăn sâu lại càng khó khăn hơn việc thực hiện giảng dạy, học tập ban đầu.
Nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo (2013), khi bàn về vấn đề tự học đã
nêu: “Trên con đường học vấn của người tự học nhan nhản những cạm bẫy
cực kỳ nguy hiểm khiến cho tri thức của họ có nguy cơ lệch lạc hoặc chứa
những lỗ hổng rất lớn mà bản thân họ không hay biết” [32].