PHÒNG GD&ĐT .....
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THCS ......
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
..........., ngày 29 tháng 04 năm 2017
BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
NĂM HỌC ..........
Họ và tên:
.............
Trình độ chuyên môn: ĐH VĂN
Chức vụ: Giáo viên
Tổ:
Khoa học xã hội
Công việc được giao: Dạy Văn 7A,7B; Văn 9; Bồi dưỡng HSG Văn 7.
1. NỘI DUNG 1
2. NỘI DUNG 2
Để góp phần dạy tốt môn Ngữ văn 9
Các môn học ở phổ thông, ngữ văn là một trong hai môn thi bắt buộc trong các
kỳ thi tuyển sinh. Hơn thế, học văn còn là học làm người, để mỗi người sống nhân
hậu, biết yêu thương và đối nhân xử thế… Để học sinh lớp 9 học tốt môn văn, các
trường THCS đã nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy trong đó việc vận dụng các
phương pháp dạy học tích cực là một việc làm tất yếu.
PHẦN MỘT: GIỚI THIỆU CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC.
3. Kĩ thuật các mảnh ghép.
Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và
liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự
tham gia tích cực của HS : nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác
(Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết
quả và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2).
- Vòng 1: Hoạt động theo nhóm, mỗi nhóm đựoc giao 1 nhiệm vụ
VD: Nhóm 1: Nhiệm vụ A; Nhóm 2: Nhiệm vụ B; Nhóm 3: Nhiệm vụ C,...
--> Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi
trong nhiệm vụ được giao, trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.
- Vòng 2: Hình thành nhóm mới (1 người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2, 1
người từ nhóm 3,...)
--> Sau khi chia sẻ thông tin vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa
thành lập để giải quyết và trình bày kết quả nhiệm vụ vòng 2.
4. Kĩ thuật "Khăn phủ bàn".
2
Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt
động cá nhân và nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường
tính độc lập, trách nhiệm cuả cá nhân HS, phát triển mô hình hợp tác giữa các HS.
- Thực hiện kĩ thuật "Khăn phủ bàn" qua 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn HS hoạt động độc lập: Các thành viên trong nhóm ngồi vào vị trí như
hình vẽ, hoạt động tư duy tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,...), sau đó trình bày ý
kiến của bản thân vào ô quy định trong "khăn phủ bàn" độc lập tương đối với các
thành viên khác.
+ Giai đoạn HS hoạt động tương tác: Các thành viên chia sẻ và thảo luận các
câu trả lời, sau đó viết ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn phủ bàn.
thành.
- Bước 2: Thực hiện dự án.
Bao gồm các công việc: Thu thập thông tin – Xử lí thông tin – Thảo luận với các
thành viên khác – Trao đổi và xin ý kiến GV hướng dẫn.
- Bước 3: Tổng hợp kết quả.
Bao gồm các công việc: Xây dựng sản phẩm – Trình bày sản phẩm – Bài học
kinh nghiệm sau khi thực hiện dự án.
PHẦN II: MỘT SỐ VÍ DỤ CỤ THỂ ÁP DỤNG CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC
Ví dụ 1: Ứng dụng "kĩ thuật mảnh ghép" và "Kĩ thuật khăn phủ bàn" khi
dạy bài "Luyện tập cách làm văn nghị luận" - Ngữ văn 9
Với mục tiêu: Giúp HS khắc sâu kiến thức đặc điểm thể loại nghị luận, vận
dụng các thao tác làm văn nghị luận. Giáo viên nên sử dụng "kỹ thuật mảnh ghép" và
"kỹ thuật khăn phủ bàn" để hướng dẫn HS.
* Sử dụng "Kỹ thuật mảnh ghép":
Sau khi cho HS tìm hiểu đề, tìm ý, GV phân nhóm học sinh thực hiện bước lập
dàn ý
+ Vòng 1: Mỗi dãy bàn hàng dọc là 1 nhóm
Yêu cầu mỗi nhóm làm một nhiệm vụ:
- Nhóm 1: Lập dàn ý phần mở bài (Viết)
- Nhóm 2: Lập dàn ý phần thân bài
- Nhóm 3: Lập dàn ý phần kết bài (Viết)
Hết thời gian quy định, HS chuyển nhóm.
+ Vòng 2: Các nhóm mới được hình thành bằng cách sát nhập thành viên của ba
nhóm theo dãy bàn hàng ngang. Cứ 2 bàn là một nhóm.
Yêu cầu các nhóm trình bày dàn ý đã làm. Như vậy, lúc này mỗi nhóm đã có đủ
dàn ý 3 phần.
Vòng 1: Kết hợp ngang
Nhón 1: ViếtMB
ViếtMB
ViếtMB
+ Giai đoạn 2: Các dãy bàn hàng dọc cùng đưa ra nội dung
Các dãy bàn hàng ngang cùng đưa ra nội dung
=> GV và HS cả lớp bổ sung , chọn nội dung bài của nhóm chính xác nhất...
Ví dụ 2: Ứng dụng "kĩ thuật học theo sơ đồ KWL" khi dạy bài Dạy bài "Ôn
tập về thơ" - Ngữ văn 9
Mục tiêu: Giúp học sinh nắm một cách hệ thống các tác phẩm thơ hiện đại
Việt Nam đã học trong chương trình Ngữ văn 9, có cái nhìn khá toàn diện về nội
dung tư tưởng, nghệ thuật các tác phẩm đã học.
Sau khi hệ thống kiến thức, phần bài tập xác định các chủ đề có thể sử dụng sơ
đồ tư duy KWL.
- Từ những bài thơ đã học, học sinh tập hợp thành từng chủ đề cụ thể và tìm nét
tiêu biểu cho từng chủ đề đó.
K ( Điều đã biết)
W ( Điều muốn biết)
L ( Điều học được)
Know
What
Learn
Con cò, Nói với con, Bếp Chủ đề tình cảm gia - Tình cảm gia đình là thiêng
lửa, Khúc hát ru những đình.
liêng, quý giá.
em bé lớn trên lưng
- Giọng thơ thiết tha, trìu mến.
mẹ...
Đồng chí, Bài thơ về Chủ đề về người lính. - Vẻ đẹp trong tính cách, tâm
tiểu đội xe không kính,
hồn, lí tưởng của người lính.
Ánh trăng
- Ngôn ngữ giản dị, chân chất.
Mùa xuân nho nhỏ, Chủ đề về quê hương - Cảm xúc, niềm vui trước vẻ
NỘI DUNG KIẾN THỨC
I.CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC NƯỚC
NGOÀI ĐÃ HỌC TỪ LỚP 6 ĐẾN LỚP
9:
- Tổng số 20 văn bản
- Bao gồm nhiều thể loại thơ, kịch,
bút kí, truyện ngắn, tiểu thuyết nghị
luận XH, nghị luận văn chương.
Lập bảng thống kê, các nội dung trên theo mẫu:
TT
Tên tác phẩm
Tác giả
Nước
( Đoạn trích)
(người
(Châu)
dịch)
1
Lòng yêu nước
I- ê- ren- bua Nga
2
Xa ngắm thác núi Lư Lý Bạch
TQ
3
Cảm nghĩ trong đêm Lý Bạch
TQ
thanh tĩnh
4
Ngẫu nhiên viết Hạ
Thơ
TT 7
TNBCĐL
8
Thơ cổ thể
7
6
7
gió thu phá
Cô bé bán diêm
An- đéc- xen
Đ.Mạc
h
TBN
19
Mỹ
19
8
18
12
Pháp
17
13
Ông Giuốc..mặc lễ Mô- li-e
phục
Cố hương
Lỗ Tấn
TQ
20
14
Những đứa trẻ (tr)
Nga
20
15
16
20
20
17
18
19
20
M. Gor- ki
16,17
19
Tr.ngắn
( TT)
Tiểu thuyết
8
Truyện
ngắn
Truyện
ngắn
Truyện
ngắn
Nghị luận
xã hội
Hài kịch
9
9
9
9
9
Hoạt động 2: Hướng dẫn tổng kết
II. NHỮNG GIÁ TRỊ NỘI DUNG
nội dung (20 phút)
VÀ NGHỆ THUẬT:
- HS thực hiện kĩ thuật khăn phủ
1. Nội dung:
bàn: Các nhóm tìm nội dung, các cá nhân - Các TPVHNN phản ánh những sắc
ghi ý kiến riêng, sau đó ghi ý kiến chung. thái khác nhau về phong tục tập quán
- Trình bày, thảo luận.
của nhiêu dân tộc trên thế giới. (Bố
của Xi-mông, Đi bộ ngao du...) .
- Thể hiện thiên nhiên và tình yêu
thiên nhiên ( Xa ngắm thác núi Lư,
8
? Các tác phẩm VH nước ngoài đã
học được viết dưới những thể loại nào ?
Đặc sắc của mỗi thể loại?
+ GV cho HS thảo luận nhóm 10 phút
vào phiếu học tập, sau đó đại diện
nhóm trao đổi chéo, trình bày, nhận xét
bổ sung.
+ Ngôn ngữ và hành động kịch phù
hợp.
? Phong cách sáng tác của tác giả có
những nét độc đáo như thế nào qua các
tác phẩm? Nêu ví dụ cụ thể?
- HS hoạt động cá nhân, suy nghĩ trả
lời
III. CẢM NHẬN:
? Những ấn tượng sâu sắc của em
* BT: Những tác phẩm nào? tác
khi học các tác phẩm Văn học nước giả nào em yêu thích? Vì sao?
ngoài?
- HS cảm nhận.
? Những tác phẩm nào: Tác giả nào
em yêu thích? Vì sao?
- GV hướng tới sự yêu thích bởi
những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật
9
của tác phẩm.
- Hs làm bài tập.
- Gv gọi hs trình bày.
E. TỔNG KẾT RÚT KINH NGHIỆM:
I. Củng cố: (3 phút)
Gv nhắc lại một số nội dung chính của các tác phẩm.
II. Hướng dẫn về nhà: (2 phút)
- Học bài theo yêu cầu ở tiết 1
- Đọc, tìm hiểu các TP VHNN đã thống kê: Tìm hiểu giá trị nghệ thuật,
nghiệp
vụ.
- Nên nắm vững kiến thức chung cho chương trình cấp học để có cái nhìn bao
quát về nội dung yêu cầu cho từng khối lớp.
- Soạn - giảng theo đúng chương trình mà Bộ GD&ĐT đã quy định trong phân
phối chương trình.
- Khi giảng dạy cần chú ý đến từng loại đối tượng học sinh trong lớp học để có
phương pháp giảng dạy cho phù hợp. Giáo viên cũng cần phân loại được học sinh
10
trong lớp. Dù là lớp chọn, lớp đại trà hay lớp yếu kém thì mức độ tiếp thụ, học tập
của học sinh có sự khác nhau. Từ đó xác định học sinh yếu kiến thức, kĩ năng nào để
tìm nguyên nhân, biện pháp khắc phục còn đối với học sinh giỏi bồi dưỡng nâng
cao kiến thức kĩ năng đã học để tạo hứng thú trong việc học tập bộ môn.
2. Hướng dẫn học sinh cách học (trên lớp và ở nhà)
* Khi tiếp nhận lớp cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép sao cho đúng, đủ,
khoa học, dễ học. Học sinh rất tiết kiệm, thường để lề rất ít hoặc không để lề, vì
vậy giáo viên phải kiểm tra nhắc nhở để học sinh phải để lề đủ lớn (2,5-3,0 cm) đề
dễ theo dõi bài học. Nếu cần bổ sung thì ghi vào lề cho tiện. Phần số tiết, tên bài,
các đề mục cũng cần phải ghi làm sao cho nổi bật dễ nhận thấy. Sau mỗi tiết học
cần có thói quen kẻ hết bài để dễ học, dễ kiểm tra.
* Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh xác định nội dung học tập
- Với phân môn Văn (Phần văn bản)
+ Đọc lại toàn bộ văn bản trước khi học (Mặc dù ở phần học chính khoá đã
đọc). Đối với văn bản là tác phẩm thơ phải học thuộc, là văn xuôi phải tóm tắt dược
nội dung của văn bản, học thuộc dẫn chứng.
+ Với những tác phẩm có tác giả cần nắm chắc được về tiểu sử tác giả (Năm
sinh năm mất- nếu có- tên khai sinh, bút danh, quê quán), sự nghiệp văn chương
của tác giả đó, hiểu được hoàn cảnh sáng tác tác phẩm
trong đoạn văn
cũng cần có phần nêu, phần nội dung và kết thúc.
VD: Nêu ý nghĩa tình huống truyện "Làng" của Kim Lân
"Làng" là một thành công của Kim Lân. Truyện thể hiện tình yêu làng của nhân
vật ông Hai. Tình cảm ấy của ông Hai được đặt trong một tình huống thử thách,
tình huống ông đột ngột nghe tin dữ: làng quê ông - làng Chợ Dầu, theo giặc lập tề.
Làng Chợ Dầu mà ông hằng tự hào, hãnh diện bấy lâu nay bỗng theo giặc. Tình
huống ấy giúp nhà văn có thể đi sâu khai thác nội tâm nhân vật để thể hiện rõ tình
yêu làng và tinh thần kháng chiến của những người nông dân phải rời làng đi tản cư
như ông Hai.
+ Đối với dạng tự luận dài, giáo viên hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết học
sinh có thể vận dụng để lập dàn ý một cách thuần thục. Giáo viên cũng c ần viết
mẫu cho học sinh một số bài văn để học sinh có thể dựa vào đó mà vận dụng.
Nên rèn cho học sinh cách viết bài cho các kiểu văn bản nhất là văn bản nghị
luận. Trước hết là phần mở bài để ít nhất khi đọc một đề văn học sinh biết tự làm
phần mở bài (dù là học sinh yếu). Muốn thế giáo viên có thể cung cấp cho học sinh
nhiều cách mở bài., hướng dẫn cho học sinh một cách mở bài và viết gợi ý cho học
sinh một cách mở bài. Để lên các lớp trên học sinh biết viết phần thân bài (từ khâu
viết đoạn).
* Sau mỗi tiết dạy, ra bài tập và hướng dẫn học sinh cách làm, những nôi dung
cụ thể cần học thuộc, cần ghi nhớ để học sinh chuẩn bị cho tiết sau.
3. Đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, đánh giá
Với việc kiểm tra thường xuyên, giáo viên cần đa dạng hoá để học sinh phải tự
giác học tập.
- Kiểm tra vở ghi: Kiểm tra chữ viết, kiểm tra nội dung ghi chép có đầy đủ
không (nhắc nhở về cách ghi chép)
- Kiểm tra sách, tài liệu - sách tham khảo, vở nháp của học sinh. Học sinh nào
chưa có, chưa đúng yêu cầu nhắc nhở để kiểm tra lại. Nên giới thiệu một số sách
tham khảo cho học sinh sưu tầm để học tập.
- Kiểm tra đầu giờ"
đầu có thể kiểu tra học sinh từ điểm 4 đến 4.75) cần cho học sinh ôn lại để kiểm
tra theo sự bố trí của giáo viên.
5. Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, với GVCN
Thông báo cho Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm về tình hình học tập chung
của học sinh, nhất là những học sinh chưa chịu khó, chưa tích cực đề xuất các hình
thức khen thưởng, kỉ luật kịp thời.
6. Kết hợp gia đình học sinh
Phối hợp với gia đình để nâng cao chất lượng dạy - học: Giáo viên dạy Văn
thường là các giáo viên chủ nhiệm nên có thể trao đổi với phụ huynh qua buổi họp
phụ huynh, nếu không có thể đến gặp gỡ với gia đình, trao đổi qua điện thoại, thư,
… để gia đình đôn đốc nhắc nhở, kiểm tra học sinh giúp học sinh chăm chỉ tích cực
hơn nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
Có thể đề nghị nhà trường tổ chức họp phụ huynh từng lớp hoặc theo đối tượng
học sinh (Trung bình, Yếu) để thông báo với gia đinh, bàn với gia đình những biện
pháp nâng cao chất lượng học tập.
Trên đây là một số kinh nghiệm có thể áp dụng để nhằm nâng cao chất lương
dạy học bộ môn. Tuy nhiên đó cũng chỉ là những ý kiến cá nhân. Trong thực tế còn
có rất nhiều các kinh nghiệm từ các đồng nghiệp. Rất mong sự đóng góp của các
thầy cô.
Tự nhận xét và đánh giá
+ Tiếp thu kiến thức và kỹ năng quy định trong mục đích, nội dung chương
trình, tài liệu BDTX (5 điểm);
Qua quá trình học tập, bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, bản thân đã nắm được
những vấn đề cơ bản để góp phần dạy tốt môn Ngữ văn 9 hướng tới chú trọng
năng lực người học, hướng tới quan điểm tinh giản, hiện đại, bồi dưỡng cho học
13
sinh khả năng tự học, kỹ năng hợp tác,làm việc nhóm và khả năng tư duy độc
lập...Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh.
năng lựa chọn một mẫu lời nói lễ phép trong tình huống cho trước và biết sử dụng mẫu
đó một cách đúng đắn; hoặc thay vì học một lượng kiến thức liên quan đến môi trường
(trong môn Sinh học, Địa lí...), học sinh có khả năng hành động đề bảo vệ môi trường
xung quanh mình...
DHTH đuợc hiểu là quá trình dạy học sao cho trong đó toàn bộ các hoạt động học
tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần
thiết cho học sinh, nhằm phục vụ các quá trình học tập tiếp theo và chuẩn bị cho học
sinh bước vào cuộc sống lao động. Mục tiêu cơ bản của tư tưởng sư phạm tích hợp là
nâng cao chất lượng giáo dục học sinh phối hợp với các mục tiêu giáo dục toàn diện của
nhà trường.
Cần thiết phải đưa vào phương pháp dạy học tích cực
14
Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hoá sâu, song song với
tích hợp liên môn, liên ngành càng rộng, chính vì thế việc giảng dạy các môn khoa học
trong nhà trường phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, không thể giảng dạy các
khoa học như là các lĩnh vực tri thức riêng rẽ. Mặt khác, khối lượng tri thức khoa học
đang gia tăng nhanh chóng mà thời gian học tập trong nhà trưởng lại có giới hạn, do đó
phải chuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp.
Nếu trong nhà trưởng phổ thông, học sinh quen tiếp cận các khái niệm một cách
rời rạc, học sinh có nguy cơ sau này tiếp tục suy luận theo kiểu khép kín. Những chương
trình nghiên cứu quốc tế đã cho thấy hiện tưởng "mù chữ chức năng", đó là trường hợp
những ngưởi đã lĩnh hội được kiến thức trường tiểu học nhưng không có khả năng sử
dụng các kiến thức đó vào cuộc sống hằng ngày; Họ có thể đọc được một văn bản,
nhưng không thể hiểu ý nghĩa của nó; có thể biết làm tính cộng, nhưng khi có một vấn
đề của cuộc sống hằng ngày đặt ra cho họ thì họ không biết phải làm tính cộng hay tính
trừ... Điều này đặt ra một đòi hỏi: cần phải dạy học trong sự tích hợp để đào tạo những
con ngưởi đáp ứng được yêu cầu luôn luôn biến động của thực tiễn.
Mặt khác, với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học và kĩ thuật, nguồn
thức này đến phần kiến thức khác. Giảng dạy phỏi hợp với quy luật nhận thức, dẫn giải,
suy luận từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp một cách có hệ thống. Làm rõ sự phát
triển tất yếu từ kiến thức này đến kiến thức khác. Cụ thể là đảm bảo mối liên hệ logic
giữa các phần, bảo đảm bài dạy là một hệ toàn vẹn, mỗi phần là một phân hệ, các phân
hệ gắn bó chãt chẽ tạo nên một hệ toàn vẹn.
- Bài soạn phải xác định được nội dung, phương pháp làm việc của thầy và trò
trong cả tiết học: Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với một tiết học. Từ chỗ giáo viên
nắm vững nội dung kiến thức, vận dụng thành thạo kiến thức đến cho truyền thụ cho
được kiến thức đó đến học sinh, để họ nắm bắt và vận dụng được đòi hỏi ở ngưởi thầy
sự động não, sự dày công thực sự. Muốn như vậy thầy giáo phải lựa chọn được phuơng
pháp thích hợp ứng với từng giờ giảng và trong bài soạn phải nêu được một cách cụ thể
công việc của thầy và trò trong tiết học cụ thể. Xác định đồ dùng dạy học và phương
pháp sử dụng chúng.
- Trang bị cho học sinh hiểu biết những kiến thức cần thiết, cơ bản về những nội
dung cần được tích hợp để từ đó giáo dục các em có những cử chỉ, việc làm, hành vi
đúng đắn.
- Phát triển các kĩ năng thực hành, kĩ năng phát hiện và ứng xử tích cực trong học
tập cũng như trong thực tiển cuộc sống.
- Giúp học sinh hứng thú học tập, từ đó khắc sâu được kiến thức đã học.
- Nội dung tích hợp phải phù hợp với từng đối tượng học sinh ở các khối lớp thông
qua các môn học và hoạt động giáo dục khác nhau.
- Tránh áp đặt, giúp học sinh phát triển năng lực.
II. Mục tiêu, nội dung, phương pháp của kế hoạch dạy học theo hướng tích
hợp.
1. Mục tiêu cơ bản của kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp
- Hiểu được bản chất của kế hoạch dạy học tích hợp.
- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa.
Bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể
mà học sinh sẽ gặp sau này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống.
- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn.
+ Tích hợp bộ phận, chỉ một phần của bài học, hoạt đ ộng th ực hiện n ội dung
giáo dục (mức độ trung bình);
+ Đến tích hợp toàn phần, cả một bài có nội dung trùng khớp với nội dung giáo
dục (mức độ cao).
*Ví dụ tích hợp một số nội dung môn học:
Tích hợp ngang:
Tích hợp ngang là kiểu tích hợp giữa ba phân môn Văn - Tiếng Việt -Tập làm
văn. Điều này thể hiện trong việc bố trí các bài học giữa ba phân môn một cách
đồng bộ và sự liên kết với nhau trên nhiều mặt nhằm hỗ trợ nhau, bổ sung làm nổi
bật cho nhau. Phân môn này sẽ củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức cho phân môn
khác .
Ví dụ: Khi dạy bài “Cuộc chia tay của những con búp bê ” (Ngữ văn 7-Tập 1 Trang 21) thì giáo viên tích hợp kiến thức của phân môn Tiếng Việt qua bài “Từ
láy”.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Em hãy tìm những từ láy miêu tả trạng thái của em
Thủy khi nghe mẹ ra lệnh chia đồ chơi ?
-Học sinh trả lời: (run lên) bần bật, (mắt buồn) thăm thẳm, (tiếng khóc) nức
nở tức tưởi, loạng choạng, buồn bã …
- Giáo viên đặt câu hỏi: Việc sử dụng những từ láy đó giúp em hình dung thế
nào về tâm trạng của nhân vật Thủy ?
- Học sinh trả lời: Tâm trạng bàng hoàng, đau đớn, nghẹn ngào khi biết mình
sắp phải chia tay với người anh thân yêu.
Tích hợp dọc: Tích hợp dọc là cách vận dụng quan điểm tích hợp trong cùng một
phân môn với nhau tức là giữa Văn bản với Văn bản , giữa tiếng Việt với tiếng Việt,
giữa tập làm văn với tập làm văn trong cùng một khối (lớp) hoặc khác khối (lớp)
theo chiều dọc từ trên xuống.
Thực chất, tích hợp theo chiều dọc là hệ thống hóa các kiến thức có liên quan
với nhau ở những thời điểm thích hợp sao cho học sinh có thể nắm bắt vấn đề một
17
này giúp học sinh nhận biết được sự khác nhau về kiểu cấu tạo giữa câu rút gọn và
câu trần thuật đơn.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Hãy so sánh sự khác nhau về cấu tạo giữa hai kiểu câu
trên và cho ví dụ minh họa ?
- Học sinh trả lời:
Câu trần thuật đơn
Câu rút gọn
Là loại câu do một cụm C_V tạo thành.
VD: Chúng ta học ăn, học nói, học gói,
Là loại câu có thể bị lược bỏ
một số thành phần của câu.
học mở.
VD: Học ăn, học nói, học gói, học mở.
Tích hợp liên môn (Tích hợp ngoài văn):
Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong bài học Ngữ văn với các
kiến thức của các bộ môn KHTN-KHXH các nghành khoa học, nghệ thuật khác với
các kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng, qua đó
làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học sinh.
Thực tế cho thấy, áp dụng hình thức này, học sinh tỏ ra rất hào hứng với nội
dung bài học, vốn kiến thức tổng hợp của học sinh được bổ sung nhẹ nhàng tự
nhiên nhưng rất hiệu quả. Mặt khác, các kiến thức liên nghành thông qua hình thức
18
+ Tích hợp ngang.
+ Tích hợp dọc.
+ Tích hợp liên môn.
Phần 2. Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt
động nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục
Từ việc hiểu biết được những kiến thức của việc lập kế hoạch dạy học tích
hợp đối với hoạt động dạy và học hiện nay, bản thân cũng tự xây dựng cho mình một
kế hoạch dạy học cho bộ môn Ngữ Văn mình đang trực tiếp giảng dạy.
Dưới đây là kế hoạch tích hợp bài "Đức tính giản dị của Bác Hồ"
- Môn GDCD 7: Bài "Sống giản dị".
- Môn Ngữ văn 9: Bài "Phong cách Hồ Chí Minh"
- Môn âm nhạc: "Ai yêu Bác Hồ hơn thiếu niên nhi đồng"
THCS 18: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
19
1. Dạy học tích cực
Giáo viên cần phải nắm được các thông tin sau : Thế nào là phương pháp dạy học
tích cực và những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy học tích cực là phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học này đang được chú ý nhằm đổi
mới phương pháp dạy học. Đó cũng là xu hướng quốc tế trong cải cách phương pháp dạy
học ở nhà trường phổ thông.
- Các đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực đó là:
+ Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
+ Dạy học chú trọng vào rèn luyện phương pháp tự học cho người học
+ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Như vậy, với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn
thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các
- Cung cấp kiến thức cho HS một cách chắc chắn, chính xác và trực quan; do đó hấp dẫn
và kích thích được hứng thú học tập của HS.
- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà vẫn bảo đảm HS lĩnh hội đủ nội dung học tập.
- Gia tăng cường độ lao động của cả GV và HS; do đó nâng cao hiệu quả dạy học.
- Thể hiện được những yếu tố trong thực tế khó hoặc không quan sát, tiếp cận được.
b. Các giá trị giáo dục của thiết bị dạy và học
- Thúc đẩy sự giao tiếp, trao đổi thông tin, do đó giúp HS học tập có hiệu quả.
- Giúp HS tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập được lâu bền.
- Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến thực tiễn xã hội và môi
trường sống.
- Giúp khắc phục những hạn chế của lớp học bằng cách biến cái không thể tiếp cận được
thành cái có thể tiếp cận được. Điều này thực sự đúng khi thực hiện phim ảnh mô phỏng
và các phương tiện tương tự.
- Cung cấp kiến thức chung, qua đó HS có thể phát triển các hoạt động học tập khác nhau.
- Giúp phát triển mối quan tâm về các lĩnh vực học tập và khuyến khích HS tham gia chủ
động vào quá trình học tập.
c. Yêu cầu đối với thiết bị dạy và học
Trên cơ sở phân tích thực trạng các thiết bị dạy và học ở trường phổ thông, người ta đã bổ
sung các tiêu chí đánh giá đối với các thiết bị dạy học cụ thể đó là:
- Phù hợp với nội dung chương trình , sách giáo khoa và phương pháp dạy học mới;
- Dễ sử dụng, tốn ít thời gian trên lớp;
- Kích thước, màu sắc phù hợp;
- Đảm bảo an toàn trong vận chuyển, bảo quản, sử dụng;
- Có tài liệu hướng dẫn cụ thể bằng tiếng việt.
2. Thiết bị dạy học theo môn học cấp THCS
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
8
Mã thiết
bị
Tên thiết bị
Mô tả chi tiết
Kích thước (790x540)mm
Bộ tranh dạy tác
dung sai 10mm, in offset 4
phẩm Văn học dân
CSNV1001
màu trên giấy couché có định
gian Việt Nam và
lượng 200g/m2, cán láng OPP
nước ngoài
mờ.
Kích thước (790x540)mm
Đền Hùng, Đền dung sai 10mm, in offset 4
CSNV1002 Gióng, Đền Thánh màu trên giấy couché có định
Tản Viên
lượng 200g/m2, cán láng OPP
mờ.
Kích thước (790x540)mm
dung sai 10mm, in offset 4
Hồ Gươm và Rùa
CSNV1003
màu trên giấy couché có định
CSNV1007 số loài chim ở màu trên giấy couché có định
đồng quê Bắc Bộ lượng 200g/m2, cán láng OPP
mờ.
CSNV1008 Hình ảnh Côn Sơn Kích thước (790x540)mm
dung sai 10mm, in offset 4
màu trên giấy couché có định
22
Dùn
g
Ghi
cho chú
lớp
6
6
6
6
6
6
6
7
Số
13 CSNV1013 thành phố Hồ Chí
Minh
14
CSNV101
4
Hình ảnh về đức
tính giản dị của
Bác Hồ
15
CSNV101
5
Ảnh Đèo Ngang
16
CSNV101
Tập ảnh ca Huế
23
lượng 200g/m2, cán láng OPP
mờ.
Kích thước (790x540)mm
dung sai 10mm, in offset 4
màu trên giấy couché có định
lượng 200g/m2, cán láng OPP
mờ.
Kích thước (790x540)mm
Dùn
g
Ghi
cho chú
lớp
7
7
7
7
7
7
7
7
Số
T
T
Đình
Chiểu
Ảnh tư liệu về
anh bộ đội Cụ Hồ
21 CSNV1021
trong kháng chiến
chống Pháp
Hình ảnh đoàn xe
bộ đội ở Trường
22 CSNV1022 Sơn những năm
kháng
chiến
chống Mỹ
23 CSNV1023 Hình ảnh về các cô
gái thanh niên xung
phong mở đường
chống Mỹ
24
dung sai 10mm, in offset 4
màu trên giấy couché có định
lượng 200g/m2, cán láng OPP
mờ.
Kích thước (790x540)mm
dung sai 10mm, in offset 4
màu trên giấy couché có định
lượng 200g/m2, cán láng OPP
mờ.
Kích thước (790x540)mm
dung sai 10mm, in offset 4
Ghi
cho chú
lớp
8
8
9
9
9
9
9
Số
T
T
Mã thiết
bị
Tên thiết bị
Mô tả chi tiết
mờ.
-Đồ dùng trực quan có nhiều loại,đồ dùng trực quan hiện vật,đồ dùng trực quan tạo
hình,đồ dùng trực quan quy ước...Vì thế khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn đồ dùng trực
quan phù hợp với mục đích, yêu cầu bài học,đi theo một trình tự nhất định thì mới đạt
được hiệu quả bài dạy.
- Giáo viên phải khéo léo đưa ra những câu hỏi vừa sức với học sinh, tránh những
câu hỏi thách đố để các em rơi vào thế bí điều đó chỉ làm mất thời gian tiết dạy. Giáo viên
phải biết kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như miêu tả, tường thuật, phân tích,
hướng dẫn nhằm huy động tối đa kỹ năng làm việc của học sinh: tai nghe, mắt thấy, biết
phân tích suy luận vấn đề.
- Trong các bài dạy về Văn bản giáo viên biết vận dụng được CNTT để hổ trợ cho
giảng dạy thì hiệu quả đạt được sẽ cao.
-Tuy nhiên nếu sử dụng thiết bị không phù hợp với mục tiêu bài học, hoặc quá lạm
dụng nó thì dễ làm cho học sinh bị phân tâm,phân tán tư tưởng trong tiết học dẫn đến
năng lực tư duy trừu tượng bị hạn chế.
- Việc sử dụng đồ dùng trực quan không được lạm dụng quá nhiều thời gian,không
làm loãng trọng tâm bài dạy.
-Khi dạy tiết học có sử dụng thiết bị giáo viên cần quản lý,tổ chức dạy học hợp lý
nhằm huy động mọi học sinh cùng tham gia vào việc học.
25