.........................................................................................................................................................................................................................................
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TH BẢN KHOANG
A.
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở các trường vùng sâu, vùng xa
của Sa Pa còn gặp nhiều khó khăn. Là một người làm công tác giảng dạy ở vùng
học sinh dân tộc thiểu số gần 10 năm, thấy được những khó khăn khi trình độ nhận
thức của học sinh còn hạn chế, vốn tiếng Việt của các em chưa đáp ứng được yêu
cầu dẫn đến chất lượng dạy và học ở đây còn rất thấp. Tôi cùng với đồng nghiệp
luôn trăn trở và tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học
sinh dân tộc như xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho dạy
và học, vận động trẻ ra lớp, đổi mới phương pháp dạy học... đặc biệt là tìm ra các
giải pháp để tăng cường tiếng Việt giúp các em có vốn tiếng Việt đủ để chủ động
tiếp thu kiến thức và có khả năng giao tiếp trong quá trình dạy và học, giáo viên và
học sinh giảm bớt đi những khó khăn, rào cản về ngôn ngữ nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục và duy trì phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi. Sau nhiều năm
nghiên cứu và áp dụng chỉ đạo thực hiện một số giải pháp cụ thể về tăng cường
tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học Bản Khoang, chất lượng
giáo dục ở đây đã được nâng lên.
Khi các em có được vốn tiếng Việt đủ để nghe, hiểu thì việc giao tiếp hàng ngày
đặc biệt là quá trình tiếp thu bài của các em sẽ trở nên dễ dàng hơn. Với tầm quan
trọng và cần thiết của việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số giúp
nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc nói chung và học sinh dân tộc
Bản Khoang.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Tổng hợp số liệu về thực trạng tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số ở huyện
Sa Pa nói chung và ở trường tiểu học Bản Khoang nói riêng; tổng hợp các số liệu
về đội ngũ, cơ sở vật chất.
- Phân tích, so sánh chất lượng, hiệu quả đào tạo trước khi chưa thực hiện giải
pháp và sau khi áp dụng những giải pháp.
- Trao đổi với đồng nghiệp và học sinh về những thuận lợi, khó khăn; hiệu quả
đạt được, những hạn chế khi thực hiện những giải pháp hỗ trợ, tăng cường tiếng
Việt.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
-2-
.........................................................................................................................................................................................................................................
Tiếng Việt là một môn học hết sức quan trọng đối với tất cả các bậc học của
nước ta hiện nay. Với học sinh là người dân tộc thiểu số, việc tăng cường tiếng Việt
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc là một trong những vấn đề
đang được các cấp, các ngành, các trường học đặc biệt quan tâm. Do đó, trình độ
tiếng Việt (vốn từ, kiến thức về tiếng Việt và kỹ năng sử dụng vốn từ trong học tập,
giao tiếp) có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng học tập các môn
học của học sinh. Thực tế cho thấy, học sinh người dân tộc thiểu số càng học lên
lớp trên thì khả năng đạt chuẩn chương trình các môn học càng thấp vì nhiều
nguyên nhân như cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện kinh tế, điều kiện học tập,
trình độ nhận thức... trong đó, sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ là nguyên
nhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng trên.
Trong những năm vừa qua, Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở vùng sâu,
vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội gặp nhiều khó khăn đã và đang được
sinh yếu; tổ chức các hình thực học tập như học theo nhóm, đôi bạn cùng tiến,
nhiều tiết học kéo dài 60 đến 70 phút... song chất lượng vẫn chưa được nhu mong
muốn vì rất nhiều học sinh vốn tiếng Việt rất hạn chế có khi 1 câu hỏi mà giáo viên
đưa ra đến 3 lần nhưng các em vẫn không hiểu, không trả lời được. Học sinh sau
khi lên lớp vẫn còn tình trạng đọc chưa thông, viết chưa thạo "ngồi sai lớp", tỷ lệ
lưu ban sau mỗi năm học vẫn còn cao.Xảy ra tình trạng này không phải là do giáo
viên cho học sinh lên lớp khi chưa đủ điều kiện lên lớp mà do các em còn ít vốn
tiếng Việt nên các em tiếp thu kiến thức một cách thụ động (học vẹt) nên rất dễ
quên. Do đó trong thời gian nghỉ hè các em đã quên khá nhiều kiến thức trong đó
đặc biệt quan trọng là quên việc đọc, viết và làm toán dẫn đến tình trạng nhiều học
sinh "ngồi sai lớp".
Việc tạo thói quen và bồi dưỡng tiếng Việt của các em ở gia đình và cộng đồng
cũng gặp khó khăn vì người dân ở thành từng cộng đồng và thường ở sâu trong
rừng bên cạnh những con suối để có nước thuận lợi cho việc làm nông nghiệp nên
ít gặp gỡ với người Kinh, không có điều kiện giao tiếp bằng tiếng phổ thông.
Nhiều người trong gia đình không nói được tiếng Việt hoặc ít sử dụng tiếng Việt
nên việc sinh hoạt giao tiếp trong gia đình hầu như bằng tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, khi
trẻ ra lớp thường chưa nói và hiểu được tiếng Việt.
Bên cạnh đó, trình độ dân trí vẫn còn thấp, các gia đình chưa thực sự quan tâm
đến việc học tập của con em. Nhiều em học sinh vì hoàn cảnh gia đình khó khăn
nên thường xuyên phải nghỉ học để ở nhà giúp đỡ gia đình như giữ em, chăn bò,
-4-
.........................................................................................................................................................................................................................................
làm nương rẫy... Khi vào thăm, nhiều gia đình không có bàn ghế, điện thắp sáng,
không có góc học tập để các em học ở nhà.
Tôi mạnh dạn đưa ra đây một số giải pháp mà bản thân đã tích lũy nhiều năm
.........................................................................................................................................................................................................................................
Hiểu được tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số, trường tiểu học Bản Khoang đã
có những chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học
sinh và nhiều giáo viên ở trường tiểu học Bản Khoang đã áp dụng những phương
pháp phù hợp tùy theo các môn học nhưng đều chú trọng đến những yếu tố vừa
truyền đạt kiến thức của bài học đồng thời tăng cường tiếng Việt bằng những trò
chơi ở tất cả các môn học (chủ yếu là các trò chơi về ngôn ngữ, trò chơi trí tuệ sử
dụng ngôn ngữ) như:
- Đóng vai
Đóng vai là một trong những phương pháp gây được hứng thú trong học tập
cho học sinh (học mà chơi, chơi mà học), rèn tính tự tin, tinh thần đoàn kết đặc biệt
đây cũng là điều kiện tốt để tăng cường tiếng Việt cho học sinh song để mang lại
hiệu quả, giáo viên và học sinh phải đầu tư nhiều.
Trong những tiết dự giờ ở các điểm trường, tôi đã thấy giáo viên tìm tòi và viết
kịch bản, dàn dựng khá công phu những câu chuyện phù hợp với nội dung bài học
ở những môn học như tự nhiên- xã hội, đạo đức, lịch sử, kể chuyện... để hướng dẫn
học sinh thực hiện. Các em hào hứng tham gia, tiết học trở nên sôi động và hấp
dẫn, hiệu quả của những tiết dạy này khá thành công, vốn tiếng Việt của các em
cũng được cải thiện đáng kể. Vì vậy tôi đã khuyến khích giáo viên phát huy
phương pháp này, tổ chức Hội giảng để nhân rộng đến toàn thể giáo viên trong nhà
trường để thực hiện. Đến nay rất nhiều giáo viên thường xuyên thực hiện phương
pháp này trong quá trình giảng dạy.
- Thảo luận theo nhóm
Là một trong những phương pháp có sự tham gia tích cực của học sinh. Thảo
luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự
do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm
bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết
vấn đề khó khăn.
Với những kết quả đạt được trong quá trình sử dụng phương pháp thảo luận
giao nhiệm vụ. Những em học sinh khác cũng có động lực cố gắng có được vốn
tiếng Việt để trả lời được những câu hỏi do chính bạn mình đặt ra bằng tiếng Việt.
Ví dụ trong một tiết toán lớp 2, bài "bảng chia 2". Sau khi giáo viên cùng học
sinh xây dựng xong bảng chia 2 đến phần bài tập. Giáo viên lần lượt 3 em lên đặt
câu hỏi và tự các bạn mời các bạn trả lời. "Bạn nào cho mình biết: 8 chia cho 2
bằng mấy? Mời bạn A trả lời. "Thưa bạn, 8 chia 2 bằng 4". Bạn A trả lời đúng chưa
các bạn? Đúng rồi, cho mình cảm ơn bạn! Mời bạn ngồi xuống... Lớp học cũng vì
-7-
.........................................................................................................................................................................................................................................
vậy mà trở nên nhẹ nhàng, thân thiện, gần gủi, sôi động hơn, giúp học sinh hứng
thú học tập đặc biệt những tiết học dùng phương pháp này giúp tăng cường tiếng
Việt cho các em học sinh một cách hiệu quả.
Qua thời gian thực hiện giải pháp này ở lớp tôi đạt được kết quả rất khả quan.
Tiết học rất nhẹ nhàng, các em rất hứng thú với phương pháp dạy học này vì được
tham gia vào các hoạt động. Nhiều em học sinh được giáo viên bồi dưỡng đã trở
thành những học sinh học giỏi, có kỹ năng nghe và diễn đạt tiếng Việt rất tốt.
c. Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Là một trường ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện còn gặp nhiều khó khăn nhưng
tôi đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp và xem đây
là điều kiện thuận lợi để các em có được những khoảng thời gian hoạt động vui
chơi tập thể giúp các em mạnh dạn, tự tin và có cơ hội để bồi dưỡng tiếng Việt một
cách hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục vì học sinh của trường chiếm
100% là học sinh dân tộc thiểu số, việc nâng cao chất lượng Giáo dục gặp rất nhiều
khó khăn do phần lớn học sinh vốn tiếng Việt chưa đáp ứng được yêu cầu nên việc
tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp là một trong những giải pháp hiệu quả để
tăng cường tiếng Việt cho các em. Do đó, tôi đã có kế hoạch cụ thể cho các đoàn
thể, khối lớp thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Qua hơn 1 năm thực đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng những giải pháp
nêu trên vào quá trình giảng dạy nhằm tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc
thiểu số góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, giảm thiểu số lượng học sinh
lưu ban. Kết quả, bản thân tôi đã thấy được hiệu quả của việc tăng cường tiếng Việt
trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục và đang tìm thêm những giải pháp
mới có hiệu quả để áp dụng vào giảng dạy. Dối với phụ huynh nhiều gia đình cũng
đã có ý thức sử dụng một phần tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày với con, em
mình nên đã có nhiều em có được vốn tiếng Việt tương đối khi đến lớp; chất lượng
học sinh đạt kết quả cao hơn.
V. KẾT LUẬN
Trong quá trình Giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học phụ thuộc rất
nhiều yếu tố song đối với các trường có nhiều học sinh dân tộc thiểu số, việc tăng
cường tiếng Việt cho học sinh là một yếu tố hết sức quan trọng. Tuy nhiên, việc
tăng cường tiếng Việt không được phép nóng vội mà phải kiên trì để tìm và kết hợp
những phương pháp, giải pháp phù hợp với điều kiện của học sinh thì mới đem lại
hiệu quả như mong muốn.
-9-
.........................................................................................................................................................................................................................................
Để các em có được điều kiện học tập và nâng cao vốn tiếng Việt ở trường, ở
gia đình và cộng đồng thì trước hết Ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể, tổ khối
phải có kế hoạch hoạt động cụ thể; đội ngũ giáo viên phải thực sự nhiệt tình, tâm
huyết, có tinh thần tự học, thiết kế những tiết học sôi nổi, hấp dẫn, thường xuyên tổ
chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, kết hợp chặt chẽ với phụ huynh nhằm giúp
đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho các em học ở nhà và thường xuyên sử dụng tiếng
phổ thông trong việc giao tiếp ở nhà và ở cộng đồng.
Gia đình và các tổ chức đoàn thể ở thôn luôn là môi trường thuận lợi trong
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA
- 11 -
.........................................................................................................................................................................................................................................
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP PHÒNG
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
1. Mục tiêu của giải pháp........................................................................... 7
- 12 -
.........................................................................................................................................................................................................................................
2. Nội dung và cách thức thực hiện những giải pháp ............................. 7
a. Tạo không khí tiết học sôi nổi, nhẹ nhàng, hấp dẫn............................ 7
b. Bồi dưỡng những học sinh thành thạo tiếng Việt để làm
"trợ giảng" cho giáo viên........................................................................... 9
c. Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp .............................................
10
d. Xây dựng cơ sở vật chất để tổ chức dạy 2 buổi/ngày
và huy động trẻ trong độ tuổi ra lớp Mẫu giáo.........................................
12
e. Tạo thói quen sử dụng tiếng phổ thông ở gia đình và cộng đồng.......
14
g. Khuyến khích giáo viên tự học tiếng dân tộc......................................
15
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.....................................................................
16
V. KẾT LUẬN...........................................................................................
17
VI. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT...........................................................................
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nghị quyết 40/2002/NQ-QH của Quốc Hội khóa IX về đổi mới giáo dục
phổ thông
- Hồ sơ của trường tiểu học Cư Pui 2 ở các năm học: 2009-2010; 20102011; 2011-2012