Chuyên đề : Gắn kết đào tạo nguồn nhân lực với nghiên cứu khoa học phục
vụ phát triển nông nghiệp - kinh nghiệm quốc tế và bài học thực tiễn của Học viện
Nông nghiệp Việt Nam
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đang đứng
trước những cơ hội mới nhưng cũng đang phải đối mặt với những
thách thức không nhỏ bởi các yếu tố khách quan, đặc biệt là biến đổi
khí hậu, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và cạnh tranh về nguồn
nhân lực chất lượng cao cũng như giao thương nông sản trong bối
cảnh hội nhập quốc tế. Nông nghiệp đã và đang là bệ đỡ quan trọng
trong nền kinh tế của Việt Nam nhưng đứng trước thách thức của bối
cảnh mới, Việt Nam cần phát triển một nền nông nghiệp thông minh,
nền nông nghiệp tri thức, ứng dụng công nghệ cao để sử dụng hiệu
quả tài nguyên, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và
phát triển bền vững.
Nhiều nước và vùng lãnh thổ đã và đang phát triển nông nghiệp
thông minh: Isarel có chương trình nông nghiệp thông minh về giống,
vật liệu, chẩn đoán, dự báo, rôt bốt, nông nghiệp thông minh trên xa
mạc (giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 120.000-150.000 USD/năm/ha);
Mỹ đã phát triển trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano và công nghệ 3D
trong tạo giống, các trạm quản lý nông nghiệp thông minh, nông trại
thông minh; Hà Lan phát triển ngành sản xuất nông nghiệp tuần
hoàn, giảm đầu vào tăng giá trị đầu ra trong sản xuất rau hoa quả,
chăn nuôi, chế biến giá trị cao thương mại toàn cầu (GDP đóng góp do
lao động nông nghiệp có hiệu quả tương đương với các ngành nghề
khác). Thái Lan đã triển khai Chương trình hành động về nông nghiệp
thông minh: hình thành trung tâm cho 4 vùng nông nghiệp với các
nông trại thông minh để sản xuất ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế;
Trung Quốc thực hiện chương trình Tầm nhìn phát triển nông nghiệp
thông minh với các hợp phần. Nền nông nghiệp mới, nông dân mới,
ruộng vườn nông thôn mới hài hòa với thành thị; Nhật Bản đã đi sâu
thứ 11 trong số 12 nước Châu Á tham gia xếp hạng. Chỉ số cạnh tranh
của nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế xếp thứ 73/133 quốc gia được xếp hạng.
Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triển
nền nông nghiệp hiện đại và nông thôn văn minh là yêu cầu cấp bách
và là thách thức lớn nhất đối với các cơ sở đào tạo nông nghiệp của
nước ta hiện nay. Sinh viên tốt nghiệp đại học ngày nay không những
phải có kiến thức và trình độ chuyên môn giỏi mà còn phải có những
kỹ năng để không bị thay thế bởi robot và trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là
kỹ năng sáng tạo, hợp tác, kỹ năng tư duy phản biện... Sinh viên tốt
nghiệp đại học phải có năng lực tự chủ và thích ứng tốt với môi trường
làm việc thay đổi nhanh chóng, có ý thức trách nhiệm cao với bản
thân, với gia đình, cộng đồng và đất nước (Trích bài phát biểu của TBT
Nguyễn Phú Trọng ngày 30/9/2018 tại Học viện Nông nghiệp Việt
Nam). Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng đào tạo nhất thiết phải
đi đôi với năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm, năng lực nghiên cứu
và làm chủ công nghệ để theo kip xu hướng chung của thế giới.
1
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG NGHIỆP CHẤT
LƯỢNG CAO TRÊN THẾ GIỚI
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy giáo dục - nghiên cứu nông nghiệp
4.0 là một cuộc cách mạng để xây dựng các hệ sinh thái: đào tạo nghiên cứu, doanh nghiệp, người dân hợp tác chặt chẽ tạo ra hệ
thống nghiên cứu - đổi mới sáng tạo vận hành liên tục, biến các mảnh
ruộng và người nông dân trở thành các cơ sở và nhà nghiên cứu cung
cấp số liệu để các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp tạo ra sản phẩm
nông nghiệp 4.0. Xây dựng được hệ thống thu thập được số liệu lớn
Mô hình thực tiễn: Hiệp hội cây trồng - cầu nối
đào tạo-nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh
Tại ĐH Bang Kansas (ĐH Land Grant đầu tiên của Hoa
kỳ), PGS. TS Ignacio Ciampitty vừa là trưởngLab nghiên cứu
về sinh lý, dinh dưỡng cây trồng (tập trung vào cây ngô,
đậu tương là hai cây trồng chính tại đây), đồng thời phụ
trách mảng khuyến nông cây trồng của trường. Mỗi tuần
TS. Ignacio sẽ làm việc tại trụ sở chính và dành thời gian 12 ngày/tuần làm công tác khuyến nông tại cơ sở khuyến
nông của trường được bố trí tại chính các vùng sản xuất
quan trọng trong toàn Bang Kansas (Bang Kansas có diện
tích gần bằng Việt Nam). Ngoài các nghiên cứu cơ bản về
sinh lý, dinh dưỡng đã được thiết lập trước đây, từ năm
2013 nhóm nghiên cứu của TS Ignacio bổ sung thêm hướng
nghiên cứu khai thác ảnh vệ tinh và máy bay không người
lái, thu thập số liệu từ các hiệp hội cây trồng, cuộc thi năng
suất cây trồng do Hiệp hội ngô, đậu tương tổ chức để
nghiên cứu mô hình nhằm đưa ra các số liệu và khuyến
nông cập nhật phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Hoạt động khuyến nông của Hoa kỳ không thể thành
công nếu thiếu sự đóng góp của các hiệp hội. Hiệp hội Ngô
của Bang Kansas là tổ chức trung gian cầu nối giữa: cơ sở
nghiên cứu- người dân và doanh nghiệp. Hiệp hội Ngô có
vai trò quan trọng trong hỗ trợ đào tạo nông nghiệp thông
qua tổ chức các ngày trình diễn công nghệ, ngày STEM cho
học sinh phổ thông, ngày hướng nghiệp cho sinh viên đại
học theo tháng hay quý, tại đó trường đại học trình bày kết
quả nghiên cứu mới và doanh nghiệp trình bày các gói giải
pháp nông học, công nghệ nông nghiệp. Kinh phí cho hoạt
nghiệp đẳng cấp thế giới tại Hà Lan:
Với định hướng rõ ràng là phát triển một nền nông
nghiệp xuất khẩu sản phẩm cây trồng và chế biến giá trị
cao, Hà Lan đã phát triển hệ thống giáo dục cho thế hệ trẻ
và hệ thống giáo dục hướng nghiệp, giáo dục đại học hàn
lâm có đặc thù riêng. Ngoài ra để tạo ra một nền nông
nghiệp dựa vào tri thức và có tính lan toả toàn cầu, Hà Lan
đã xây dựng các thung lũng hạt giống- seed valley, thung
lũng thực phẩm- food valley, trung tâm horticulture toàn
cầu, trung tâm thực phẩm toàn cầu phục vụ đào tạo đổi mới
sáng tạo. Đầu mối để xây dựng các trung tâm này là Đại học
Wageningen (www.wur.nl)- trường đại học được xếp hạng số
1 thế giới về nông nghiệp(a tiny country feeds the World,
National Geographic, 2018).
Tại Wageningen, chương trình nghiên cứu và đào tạo
được phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp. Các hướng nghiên
cứu và chương trình đào tạo mới hình thành được xây dựng
theo 3 trục gắn kết và tương tác (kỹ thuật, xã hội và theo
đặt hàng của doanh nghiệp). Ngoài các nhóm nghiên cứu
chuyên sâu thì đa số các nhóm nghiên cứu có sự phối hợp
với doanh nghiệp và các thung lũng công nghệ. Trưởng
nhóm nghiên cứu trong trường đại học có thể đồng thời phụ
trách các bộ phận kinh doanh thuộc trường đồng thời có thể
dễ dàng tham gia các doanh nghiệp công nghệ tại thung
lũng Thực phẩm đặt trong thành phố liền kề khuôn viên của
Trường.
Để duy trì sự phát triển một nền nông nghiệp- thực phẩm phức
hợp với giá trị rất cao về kiến thức và công nghệ. Chính phủ Hà Lan
doanh nghiệp trong khi đó cơ sở đào tạo cung cấp khối kiến thức lý
thuyết cơ bản và mang tính học thuật. Đến nay, hơn 65% người học
đã chọn hình thức đào tạo nghề kép này. Với nền tảng là nước có nền
công nghiệp phát triển, hầu như tất cả các ngành nghề và lĩnh vực
cần thiết cho phát triển nông nghiệp 4.0 của Đức đều thuộc nhóm dẫn
đầu thế giới. Trong bối cảnh nông nghiệp 4.0 đòi hỏi nguồn nhân lực
phải có chất lượng cao và chuyên môn hóa, các ngành nghề đào tạo
như sinh học, công nghệ sinh học, khoa học sự sống, công nghệ thông
tin, công nghệ chế tạo máy, công nghệ tự động hóa và cơ điện tử đều
được Đức xếp vào nhóm những ngành nghề cơ bản và được ưu tiên
đào tạo. Chính vì vậy, nguồn nhân lực được đào tạo ra hoàn toàn phù
hợp và đáp ứng được nhu cầu của xã hội về mặt chất lượng. Tuy
nhiên, trong điều kiện hiện nay nguồn nhân lực ở Đức đang bị thiếu
hụt, do đó chính phủ đã có các chính sách thu hút nguồn nhân lực trẻ
đến từ nhiều nước trong cộng đồng Châu Âu (EU) và các nước khác.
Hầu hết các lực lượng lao động đều được đào tạo tại Đức sau đó tiếp
tục làm việc cho các công ty, doanh nghiệp Đức (Nguyễn Đức Bách,
2018).
Tại Thái Lan: Thái Lan có nền nông nghiệp tiên tiến, xuất khẩu
giống và sản phẩm nông sản chế biến đến nhiều thị trường giá trị cao
trên thế giới. Xác định rõ yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển
của nông nghiệp Thái Lan 4.0 là nhân tố con người. Chính phủ đặt
trọng tâm mục đích đào tạo người Thái thành những người có năng
lực mạnh trong thế kỷ 21 và hòa nhập thế giới thông qua các biện
pháp cải cách hệ thống giáo dục để tạo nguồn nhân lực mới giúp Thái
Lan trở thành quốc gia dẫn đầu trong khu vực, hội nhập thế giới và
chuyển đổi hệ sinh thái thành học tập có mục đích, học tập dựa trên
kết quả và vì tinh thần cá nhân cũng như quốc gia. Những thay đổi
đang tích cực xây dựng, đề xuất định mức kinh tế - kỹ thuật, khối
lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực, và xây dựng cơ chế đặt
hàng, giao nhiệm vụ đào tạo và NCKH gắn với giao kinh phí (thí điểm
tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2018-2020) áp dụng
trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực để phát triển nông nghiệp.
Thứ hai, các cơ sở giáo dục đã chuyển đổi theo Luật Giáo dục
nghề nghiệp; thực hiện tự chủ, đổi mới quản trị nhà trường. Từ đầu
năm 2017 đến nay, đã kiện toàn và đổi tên 17 trường cao đẳng nghề,
01 trường trung cấp nghề, 03 trường trung học chuyên nghiệp thành
trường cao đẳng, trường trung cấp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp
(được Quốc hội thông qua từ năm 2014) phù hợp với khung tham
chiếu ASEAN, tạo thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế. Mô hình thí
điểm tự chủ theo Nghị quyết 77/NQ-CP đã được Thủ tướng Chính phủ
cho phép thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam2 (Quyết định
873/QĐ-TTg ngày 17/6/2015) nhằm chủ động khai thác, sử dụng hợp
lý, hiệu quả các nguồn lực để đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo,
đảm bảo các đối tượng chính sách, đối tượng thuộc hộ nghèo có cơ
hội học tập.
Thứ ba, các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nông nghiệp
ngày càng đa dạng về cơ cấu đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng
cao phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp hiện đại
và nông thôn mới. Mục tiêu cuối cùng của các trường trung cấp
chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học là người lao động có học vấn
trung bình nhưng có kỹ năng nghề nghiệp giỏi vẫn có thể được coi là
người lao động có chất lượng cao. Đến năm 2018, cả nước có 38 cơ sở
đào tạo trong ngành, phân bổ rộng khắp cả nước (Đồng bằng sông
Hồng: 20 trường; Trung du, miền núi phía Bắc: 4 trường; Bắc Trung Bộ
và Duyên hải miền Trung: 4 trường; Tây nguyên: 2 trường; Đông Nam
cũng liên kết ngày càng chặt chẽ hơn với đơn vị sử dụng lao động;
tham vấn các doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo;
đồng thời các doanh nghiệp mời trường đến đào tạo tại chỗ. Bên cạnh
đó, các Bộ: Nông nghiệp và PTNT, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
đã thực hiện nhiều Hiệp định hợp tác đào tạo, phái cử sinh viên tham
gia các chương trình thực hành kỹ thuật nông nghiệp tại Isael, Nhật
Bản,… nhằm tăng cường kỹ năng nghề nghiệp, tiếp cận công nghệ
hiện đại trong nông nghiệp. Việc làm này giúp các trường đào tạo
được đúng người, đúng việc và có hiệu quả. Phương pháp giảng dạy
cũng không ngừng được đổi mới theo hướng hiện đại. Các giảng viên
bước đầu đã biết kết hợp thành tựu của khoa học và công nghệ hiện
đại trong giảng dạy nhằm khơi dậy, phát huy tính tích cực của người
học. Với những nỗ lực nêu trên, nhiều trường (như Học viện Nông
nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp) đã đạt chuẩn kiểm định
chất lượng giáo dục theo Bộ tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT. Học viện Nông
nghiệp Việt Nam đã kiểm định thành công 02 Chương trình tiên tiến
theo Bộ Tiêu chuẩn của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á
(AUN-QA). Hiện tại, Học viện đang tiếp tục thực hiện tự đánh giá các
CTĐT và dự kiến sẽ kiểm định 10 chương trình đào tạo vào năm 2020.
Ngoài ra, để hỗ trợ các trường nâng cao chất lượng đào tạo, Đảng và
Nhà nước đã thể hiện quyết tâm chính trị và thể chế hóa bằng các
chính sách cụ thể như chính sách về đầu tư phát triển cơ sở vật chất,
cụ thể là Chủ tịch nước đã phê chuẩn Hiệp định tài trợ của dự án
"Nâng cao chất lượng giáo dục đại học" do Ngân hàng Thế giới tài trợ
cho các trường đại học tự chủ. Các trường đã tích cực trong đầu tư cơ
sở vật chất để đảm bảo cho giảng viên và sinh viên những điều kiện
tốt nhất.
Tuy nhiên, công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt
Nam gặp nhiều thách thức, có thể nêu ra một thách thức chính sau
đây:
ký vào 10 ngành có nhiều nguyện vọng đăng ký nhất3 chiếm 43,02%.
Trong khi tổng số 19 ngành đào tạo khối nông lâm ngư4 chỉ chiếm
0,92% số nguyện vọng đăng ký xét tuyển. Đây là nguyên nhân khách
quan của những khó khăn về công tác đào tạo nhân lực chất lượng
cao phục vụ phát triển nông nghiệp.
Thứ ba, việc xây dựng cơ chế tự chủ, xã hội hoá cho đào tạo gặp
khó khăn, trở ngại do mức học phí thấp, điều kiện tài chính của người
học gặp nhiều khó khăn. Sinh viên theo học tại các trường đại học,
cao đẳng, trung cấp nông nghiệp chủ yếu là con em nông dân, vùng
nghèo, vùng dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Năm
2017, tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tỷ lệ sinh viên đến từ khu
vực 2 và khu vực 3 chỉ đạt 35,4%; còn lại 64,6% thuộc về khu vực 1
(25,1%) và khu vực 2 nông thôn (39,5%).
Thứ tư, lao động được đào tạo không về nông thôn do thu nhập,
lương thấp, điều kiện làm việc còn hạn chế.Tâm lý phổ biến của các
lao động đã được đào tạo có chất lượng cao không muốn về nông
thôn, họ bám trụ ở đô thị để có cơ hội việc làm và mức lương cao hơn,
dù phải làm việc trái ngành, trái nghề được đào tạo. Tâm lý đó được
tạo ra bởi thực tế khách quan là nông thôn, đa số các cơ sở hợp tác xã
chưa có đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật để sử dụng người lao động tay
nghề cao, các cá nhân ít có cơ hội thăng tiến về nghề nghiệp cũng
như phát huy được tính năng động sáng tạo.
Như vậy, khả năng đào tạo đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng
cao gặp nhiều trở ngại. Theo Quy hoạch phát triển nhân lực ngành
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2011 – 20205, giai
đoạn 2016-2020, ngành nông nghiệp cần đào tạo mỗi năm 185 tiến
sĩ, 2.520 thạc sĩ, 18.000 kỹ sư. Tuy nhiên, đến năm 2018, ước tổng số
NCS tuyển được trong năm là 32, đạt 17,3% do thay đổi về điều kiện
viên (>4000 sinh viên/năm). Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt
nghiệp ra trường 1 năm đạt 93%. Để đạt được kết quả trên, Học viện
coi chất lượng đào tạo và đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột phá, có
tính quyết định đến tương lai phát triển của Học viện. Cụ thể, Học
viện đã và đang triển khai các giải pháp:
Thứ nhất, đa dạng hóa chương trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu
xã hội:
Học viện đã tiến hành đa dạng hóa chương trình đào tạo. Đến
năm học 2017-2018, Học viện đã xây dựng 33 ngành đào tạo đại học
với 77 chương trình đào tạo đại học, 20 chương trình đào tạo trình độ
thạc sĩ và 20 chương trình đào tạo trình độ tiến sỹ nhằm đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động đa dạng ở
trong nước và quốc tế.
+ Trình độ đại học: Học viện đã hình thành rõ nét 3 hướng đào
tạo chính:
(1) Định hướng hàn lâm (academy), đào tạo bằng tiếng Anh chủ
yếu theo mô hình của các trường đại học nghiên cứu danh tiếng của
Hoa Kỳ như UC Davis, ĐH Wisconsin Medison (tăng từ 02 Chương trình
tiên tiến thành 05 Chương trình đào tạo chất lượng cao);
(2) Định hướng nghề nghiệp (profession - oriented higher education - POHE) đào tạo các cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý phù hợp
với thực tiễn sản xuất NN&PTNT của Việt Nam theo mô hình của Đại
học Khoa học Ứng dụng Saxion và Đại học Khoa học ứng dụng Van
Hall Larenstein của Hà Lan (tăng từ 01 Chương trình đào tạo POHE lên
09 Chương trình);
(3) Đào tạo theo các chương trình thường quy của Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
Đồng thời, cùng với các lớp đào tạo bằng tiếng Anh theo chương
trình tiên tiến, Học viện còn khuyến khích các khoa mở các lớp đào
Thứ ba, đổi mới phương thức đào tạo:
Để hội nhập với khu vực và thế giới, Học viện đã chuyển đổi toàn
diện phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ, thực hiện
từ năm học 2008-2009 với trình độ đại học và bắt đầu từ năm học
2009-2010 với bậc đào tạo trình độ thạc sĩ. Đồng thời, Học viện đã áp
dụng quy trình CDIO để thiết kế chương trình đào tạo trên cơ sở xác
định nhu cầu nhân lực và chuẩn đầu ra phù hợp với từng học phần,
từng chương trình đào tạo. Nhiều học phần được chuyển sang phương
thức giảng dạy project, E-learning.
Thứ tư, tăng cường kỹ năng thực hành thực tập cho sinh viên:
Học viện đã tăng lượng thời gian thực hành của các học phần,
đặc biệt là các học phần thực tập nghề nghiệp tại các cơ sở sản xuất,
kinh doanh, nhiều học phần được tăng từ 10 tín chỉ lên 20 tín chỉ/học
phần. Các sinh viên được cử đi thực tập tại các cơ sở sản xuất kinh
doanh. Điều này sẽ giúp sinh viên sẽ tiếp cận và làm chủ các trang
thiết bị, công nghệ, kỹ thuật hiện đại và tăng khả năng thích ứng sau
khi ra trường.
Thứ năm, tăng cường trao đổi sinh viên trong và ngoài nước:
Các chương trình trao đổi sinh viên cũng ngày càng phát triển.
Nếu như trước giai đoạn 2010, trao đổi sinh viên chỉ dừng lại ở một số
chương trình nhỏ thì từ sau 2011, các chương trình ngày càng tăng về
số lượng và chất lượng. Tổng số các chương trình trao đổi sinh viên từ
năm 2011 đến nay là 45 chương trình được triển khai, tạo cơ hội cho
gần 500 sinh viên, học viên tham gia. Học viện cũng đang tích cực
xúc tiến việc cử sinh viên đi học tập, thực tập ngắn hạn (thời gian dưới
1 năm) ở nước ngoài. Những năm gần đây, Học viện đã xây dựng và
tổ chức tốt các chương trình trao đổi sinh viên, chương trình tình
nguyện viên với Trường Đại học Quốc gia Kangwon (KNU) - Hàn Quốc,
nghiên cứu Phòng Thí nghiệm công nghệ thực phẩm khoa CNTP
(2014-2017); 01 dự án thủy sản nước ngọt; Dự án xây dựng bệnh viện
thú y. Hiện, Học viện tiếp tục triển khai nhiều dự án phục vụ công tác
đào tạo và nghiên cứu: Dự án khai thác Vườn Thực vật; trang trại giáo
dục nông nghiệp; Dự án "Tăng cường năng lực đào tạo và NCKH" bằng
nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới; Dự án "Đầu tư cở sở hạ tầng,
trang thiết bị phục vụ kiểm soát bệnh truyền lây giữa động vật và
người"; Dự án "Tăng cường năng lực nghiên cứu ứng dụng, sử dụng
hiệu quả tài nguyên trong lĩnh vực nông nghiệp"; Dự án "Tăng trưởng
xanh"; Dự án "Xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao; Dự án Nâng
cấp trung tâm thông tin thư viện nhằm mục đích trở thành trung tâm
thông tin Khoa học công nghệ của khối các trường Đại học nông, lâm,
ngư Việt Nam"; Dự án Bảo tàng Nông nghiệp nhằm tạo ra các cơ sở
vật chất đa dạng theo mô hình của đại học nghiên cứu quốc tế phục
vụ phát triển trí tuệ và sáng tạo của sinh viên....
Thứ bảy, tăng cường hợp tác trong và ngoài nước nhằm nâng
cao kỹ năng nghề nghiệp:
Học viện đã hợp tác với trên 200 doanh nghiệp và hầu hết các
tỉnh, thành trong cả nước nhằm tạo điều kiện thực thành thực tập
thực tế cho sinh viên. Việc hợp tác chặt chẽ với khối các doanh
nghiệp, nhà tuyển dụng trong công tác đào tạo sẽ tạo thêm cơ hội
cho người học thực hành nghề nghiệp, cọ sát với thực tế, tiếp cận
được các hệ thống máy móc hiện đại, quy trình sản xuất tiên tiến nhất
hiện nay, tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên có thể kết hợp được lý
thuyết với thực tiễn sản xuất. Hàng năm, Học viện tổ chức các chương
trình đào tạo kĩ năng mềm, tăng cường khả năng tiếng Anh, tổ chức
các buổi giao lưu doanh nghiệp, ngày hội việc làm, chương trình khởi
nghiệp, đưa sinh viên đi thực tế ở các địa phương, doanh nghiệp, cơ
công nghệ:
Trong chiến lược phát triển, Học viện xác định nghiên cứu khoa
học và chuyển giao công nghệ là thành phần quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và xây
dựng nông thôn mới. Chính vì vậy, Học viện đã tập trung nguồn lực
để nghiên cứu các công nghệ mới, tạo ra nghiều sản phẩm, một mặt
phục vụ đắc lực cho tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn
mới, mặt khác giúp cho sinh viên từng bước nâng cao năng lực nghiên
cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Học viện đã thành lập 49
nhóm nghiên cứu mạnh, ưu tiên nghiên cứu 10 sản phẩm nông nghiệp
chủ lực. Đặc biệt, các nhóm nghiên cứu đang tập trung giải quyết các
vấn đề cấp bách của nền nông nghiệp như: bệnh khảm lá sắn, bệnh
dịch tả lợn Châu Phi, vắc xin thủy sản, xây dựng thương hiệu và chỉ
dẫn địa lý cho các sản phẩm nông nghiệp…
Giai đoạn 2008-2018, Học viện đã triển khai 1102 đề tài/dự án
(cấp quốc gia:172; Cấp Bộ: 501; Hợp tác quốc tế:121; cấp tỉnh: 308
đề tài/dự án) với tổng kinh phí trên 560 tỷ đồng . Ngoài ra hàng năm,
Học viên cấp kinh phí triển khai các đề tài cơ sở trên 200 đề tài/năm
phục vụ cho sinh viên nghiên cứu khoa học.Tổng số sinh viên tham
gia các đề tài dự án các cấp khoảng 23.000 lượt, chiếm 56% tổng số
sinh viên. Kinh nghiệm đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học của sinh
viên của Học viện cho thấy những sinh viên tích cực tham gia nghiên
cứu khoa học rất vững về lý luận và giỏi tay nghề, khích lệ tinh thần
khởi nghiệp của sinh viên và có cơ hội thu nhập cao. Trong hoạt động
học tập và nghiên cứu, sinh viên đã được tiếp cận, học tập và làm chủ
nhiều công nghệ, kỹ thuật tiên tiến như:
•
•
Công nghệ lên men vi sinh phụ phẩm nông nghiệp làm thức
ăn gia súc;
•
Công nghệ chăn nuôi trên đệm lót sinh học;
•
Công nghệ cây truyền phôi tươi trên gia súc...;
•
Công nghệ nuôi tôm trên cát;
•
Công nghệ nuôi tôm thẻ chân trắng nuôi trong nước ngọt;
•
Công nghệ Aquaponic quy mô lớn công nghiệp;
•
Công nghệ sản xuất vắc xin: vắc xin đa giá, thế hệ mới; kit
Các công nghệ, kỹ thuật trên đều tạo ra các sản phẩm giống cây
trồng vật nuôi, chế phẩm sinh học, vắc xin và thuốc, sản phẩm chức
năng...phục vụ đắc lực cho tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông
thôn mới, hầu hết các công nghệ đã được chuyển giao tại các địa
phương trong cả nước. Có thể nêu ra một số sản phẩm/công nghệ tiêu
biểu như sau:
•
09 giống lúa thuần (NV1, NV2, N91, ĐH6, Hương cốm, Hương
Cốm 3, Hương Cốm 4, T65, Bắc Thơm số 7 kháng bệnh bạc lá)
và 13 giống lúa lai (VL20, VL24, VL50; TH3-3, TH3-4, TH3-5,
TH3-7, TH8-3, TH7-2, TH7-5, TH17, CT16, HQ19).
•
07 giống cà chua: HT7, HT21, HT42, HT160, HT144, HT102,
HT109.
•
01 giống đậu tương: D140
•
02 giống đu đủ: VNĐĐ9 và VNĐĐ10
•
•
Máy cắt và xếp hom sắn giống theo trật tự đầu đuôi.
•
Hệ thống máy cơ giới hóa canh tác sắn (Sản phẩm đạt cúp
vàng Techmart 2009):
•
Hệ thống máy gặt đập liên hợp đa năng (Sản phẩm đạt cúp
vàng Techmart 2012).
•
Hệ thống máy, thiết bị phục vụ cơ giới hóa đồng bộ các khâu
canh tác cây đậu tương;
•
Máy ấp trứng gia cầm sử dụng phối hợp năng lượng mặt trời
và khí sinh học (biogas); Máy sấy cá biển dùng năng lượng
mặt trời;
•
Hệ thống giám sát tự động sự phát triển của cây trồng ứng
dụng trong sản xuất hoa công nghệ cao
và hỗ trợ phát triển kỹ năng thương mại hóa, hình thành doanh
nghiệp KHCN. Học viện đã xây dựng nguồn 120 công nghệ có tiềm
năng thương mại hoá để ươm tạo được thực hiện bởi các thầy cô giáo,
sinh viên và hợp tác với doanh nghiệp. Trong 3 năm gần đây, Học viện
xây dựng thu hút đầu tư trong và ngoài nước và phát triển được 30 dự
án ươm tạo, trong đó tạo ra thành công 20 sản phẩm công nghệ được
bảo hộ sở hữu trí tuệ, đăng ký kinh doanh thành công. Các công nghệ
này được tiếp tục hỗ trợ trong các dự án thương mại hoá thông qua
kết nối cung cầu, hội trợ trình diễn, khuyến nông điện tử và siêu thị
khoa học công nghệ.
Một số dự án khởi nghiệp sinh viên tiêu biểu của Học viện:
•
Dự án Hợp tác xã sản xuất và phân phối chè Shan Tuyết Bó
Đướt.
•
Dự án Công Ty TNHH MTV Rau Việt
•
Dự án Siêu thị Khởi nghiệp
•
Dự án D-Green phát triển công nghệ và thiết bị nông nghiệp
thông minh
Giống hoa lan Huệ cánh kép Việt Nam phục vụ thị trường
trong nước hướng tới xuất khẩu
•
Giống ngô nếp tím lai NT141 giàu Anthocyanin đầu tiên chọn
tạo tại Việt Nam
•
Các dòng sản phẩm trà chất lượng cao: trà sachi; trà táo mèo;
trà táo mèo - trà xanh
•
Chế phẩm NN1-Proyme sử dụng trong phòng và trị bệnh cho
vật nuôi và Chế phẩm NN1-Vitamin Plus tăng sức đề kháng
cho vật nuôi
•
Hệ thống máy, thiết bị và quy trình công nghệ sản xuất bầu
đất ươm cây (không dùng túi, khay vỉ chứa) kết hợp gieo hạt
tự động
Các hoạt động này góp phần hình thành tại Học viện một Hệ sinh
thái đào tạo cho sinh viên ý thức học tập-nghiên cứu gắn với nhu cầu
thực tiễn, rèn luyện tinh thần khởi nghiệp và phát triển nghề nghiệp,
1
Đề xuất