Xây dựng bài tập thực nghiệm hóa học lớp 10 - Pdf 51

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hoá học là một môn khoa học vừa mang tính trừu tượng vừa mang tính thực
nghiệm. Đối tượng mà hóa học nghiên cứu là cấu tạo chất, là nguyên tử, là phân tử,
là phản ứng hóa học diễn ra ở kích thước vi mô nhưng lại là kiến thức cơ bản cần
truyền đạt cho Hs, do đó trong giảng dạy hóa học ta buộc phải dùng những mô hình
ở kích thước vĩ mô, các thí nghiệm để bằng quan sát những biểu hiện bên ngoài mà
tư duy ra tính chất và cấu tạo. Vì thế, có thể khẳng định rằng, thí nghiệm hóa học là
rất cần thiết cho dạy học hóa học.
Một trong những mục tiêu dạy học hoá học ở trường phổ thông là ngoài việc
cung cấp kiến thức lí thuyết còn phải tạo điều kiện cho Hs phát triển tư duy hoá học
và kĩ năng thực hành hoá học, để từ đó có khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc
sống, đáp ứng yêu cầu giáo dục kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp cho Hs phổ thông
khi ra trường.
Thực tế dạy học ở trường PT hiện nay, tuy các kiến thức thực hành đã được
quan tâm nhưng còn rất hạn chế. Nguyên nhân của thực tế này thì có nhiều, trong
đó quan trọng là do cơ sở vật chất nhà trường chưa đáp ứng, Gv thường phải dạy
nhiều tiết trong một buổi nên không có thời gian chuẩn bị các TN, Gv thường có
tâm lí “ngại ” thí nghiệm và có xu hướng chủ yếu là “dạy chay”. Vì vậy, hầu như rất
ít Gv thực hiện đủ các TN cần thiết trong toàn bộ chương trình, hậu quả dẫn đến hạn
chế phát triển tư duy và kĩ năng thực hành của Hs. Để khắc phục tình trạng này, bên
cạnh việc tăng cường sử dụng TN trong các giờ học, còn đòi hỏi Gv phải thường
xuyên sử dụng và thiết kế các BTTN trong dạy học để Hs có điều kiện phát triển tư
duy và trau dồi kĩ năng thực hành hoá học, đặc biệt trong điều kiện không tiến hành
được nhiều TN.
Trong thực tiễn dạy học, BTHH đóng vai trò rất quan trọng, nó vừa là mục đích,
vừa là nội dung vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho
Hs kiến thức, con đường dành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui của quá trình
khám phá, tìm tòi, phát hiện, của việc tìm ra đáp số, mang lại cho người học một
trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức.
Xu hướng phát triển bài tập hóa học hiện nay là tăng cường khả năng tư duy cho

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn hóa ở trường THPT.
- Đối tượng nghiên cứu: Bài tập thực nghiệm trong chương trình hóa học 10 cơ
bản.
5. Phương pháp nghiên cứu:
+ Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
-Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết.
-Phương pháp phân loại và hệ thống.
-Phương pháp lịch sử.
+ Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra giáo dục.
- Phương pháp thực nghiệm khoa học.
2


- Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
+ Các phương pháp xử lý số liệu.
6. Đóng góp mới của đề tài
Xây dựng bài tập thực nghiệm hóa học 10 ứng dụng trong dạy học hóa học. Góp
phần hoàn thiện các dạng bài tập ở bậc THPT.

3


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ
thông hiện nay
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học – Một nhu cầu tất yếu của xã hội học

những phương tiện dạy học hiện đại với nhiều chức năng hỗ trợ cho việc dạy học
đạt kết quả tốt hơn như: Phòng đa chức năng, giáo án điện tử, thư viện điện tử, bài
4


giảng điện tử, bài giảng trực tuyến, phần mềm nghiên cứu dạy học, phần mềm thí
nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, phần mềm kiểm tra trắc nghiệm…
Khai thác và sử dụng có hiệu quả các phương tiện kĩ thuật hiện đại sẽ tạo nên
phương pháp dạy học mới giúp việc dạy học trở nên dễ dàng hơn và đạt hiệu quả tốt
hơn.
1.1.2.2. Khai thác đặc thù môn hoá học tạo ra các hình thức hoạt động đa
dạng, phong phú giúp HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng.
Với đặc trưng là môn khoa học thực nghiệm, do đó trong dạy học hoá học cần
tăng cường các phương tiện trực quan, đặc biệt là thí nghiệm hoá học. Sử dụng phối
hợp nhiều hình thức hoạt động của Hs, nhiều phương pháp dạy học của Gv trong đó
chú trong phương pháp trực quan, sử dụng thường xuyên tổ hợp các phương pháp
dạy học phức hợp nhằm giúp Hs học tập chủ động, tích cực, sáng tạo.
1.1.2.3. Khai thác triệt để các nội dung bài dạy theo hướng liên hệ với thực tế.
Việc khai thác nội dung học tập theo hướng liên hệ với thực tế cuộc sống sẽ làm
cho bài học có tính ứng dụng cao, kích thích hứng thú ở Hs, đặc biệt với môn hoá
học là một môn học mà đối với nhiều Hs là quá khô khan và kém hấp dẫn. Một số
nội dung cần khai thác liên hệ thực tế như: Hoá học với ứng dụng trong đời sống;
hoá học với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; hoá học với môi trường; hoá học
với sức khoẻ; hoá học với phát triển kinh tế, du lịch, quốc phòng…
1.1.2.4. Tăng cường sử dụng các bài tập có tác dụng phát triển tư duy và rèn
luyện kĩ năng thực hành hoá học.
Bài tập là một phần không thể thiếu trong dạy học nói chung và dạy học hoá học
nói riêng, việc sử dụng bài tập trong dạy học có nhiều tác dụng to lớn, hoá học là
môn khoa học thực nghiệm do đó việc sử dụng các bài tập hoá học có tác dụng phát
triển tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành là một xu hướng dạy học cần được quan

đào tạo của người học, coi trọng thực hành, TN, làm chủ kiến thức…”
Trong trường PT, TN hoá học là một phần không thể thiếu, giúp Hs làm quen
với tác phong làm việc khoa học, rèn luyện đức tính cẩn thận, kiên nhẫn, làm việc
nguyên tắc, TN hoá học còn củng cố niềm tin vào khoa học. Với hoá học, TN giữ
vai trò như một bộ phận không thể tách rời. Việc xây dựng BTHH gắn liền với TN
sẽ cung cấp, củng cố kĩ năng, kĩ xảo, các thao tác thực hành là điều rất cần thiết.
1.2.3. Nội dung bài tập phải chứa đựng các yếu tố phát triển tư duy
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, yêu cầu cấp thiết với giáo dục là phải đào tạo
ra những con người có kiến thức, trí tuệ phát triển, thông minh, năng động, sáng tạo,
đáp ứng nhu cầu xã hội. BTHH không thể tách rời mục tiêu trên. BTHH theo định
hướng giáo dục hiện nay cần ngắn gọn, súc tích, không nặng nề thuật toán mà tập
trung rèn luyện, phát triển nhận thức, tư duy cho người học.
Như vậy, xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng cường khả năng tư
duy cho Hs ở cả 3 phương diện: lí thuyết, thực hành và ứng dụng. Hạn chế sử dụng
những BT có tính chất học thuộc trong các câu hỏi lí thuyết hoặc sử dụng công cụ
toán học phức tạp trong các BT tính toán.
1.3. Phân loại bài tập hóa học thực nghiệm và tác dụng của nó trong dạy
học hóa học ở trường phổ thông
1.3.1.Khái niệm bài tập thực nghiệm
Trong từ điển tiếng Việt, “bài tập” là những bài để tập làm.
6


Trong tài liệu lí luận dạy học tác giả Nguyễn Xuân Trinh phân loại bài tập hóa
học thành: Bài tập định lượng (bài toán hoá học), bài tập lý thuyết, bài tập thực
nghiệm và bài tập tổng hợp. Còn các nhà lý luận dạy học của Liên Xô cũ lại cho
rằng: Bài tập là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời
cả bài toán và câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng, Hs nắm được một tri thức
hay kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng. Câu hỏi đó là những bài làm mà khi
hoàn thành chúng, Hs phải tiến hành hoạt động tái hiện bất luận trả lời miệng, trả


Khi giải BT này, học sinh cần phải trực tiếp tiến hành các thao tác thí nghiệm,
sử dụng các kiến thức đã học để trả lời các câu hỏi.
1.3.2.2. Bài tập hóa học thực nghiệm được thực hiện bằng thí nghiệm mô
phỏng, qua các băng hình, máy vi tính với những thí nghiệm phức tạp, khó thực
hiện, thời gian tiến hành lâu, thí nghiệm độc hại.
Là những BTHH mà khi giải phải sử dụng băng hình, phần mềm để giải.
Thường dùng với những quá trình xảy ra chậm, cần nhiều thời gian hoặc những thí
nghiệm mà độ an toàn thấp.
Ví dụ :
Hãy xem đoạn video về quy trình sản xuất axit sunfuric trong công nghiệp theo
phương pháp tiếp xúc kép sau (hình 1.1.)

Hình 1.1.

quy trình sản xuất axit sunfuric trong công nghiệp.MP4

a. Vì sao giai đoạn tinh chế khí SO2 là giai đoạn quan trọng nhất?
b. Vì sao giai đoạn oxi hoá SO2 thành SO3 cần duy trì nhiệt độ 4500C – 5000C?
c. Vì sao dùng axit sunfuric đặc để hấp thụ SO3?
Hướng dẫn:
a. tinh chế SO2 không chỉ loại bỏ tạp chất và bụi mà còn loại bỏ các chất độc có
hại với chất xúc tác, đặc biệt loại bỏ asen là chất làm tê liệt chất xúc tác.
b. Vì phản ứng oxi hoá SO2 thành SO3 là phản ứng thuận nghịch toả nhiệt, ở
nhiệt độ thấp phản ứng xảy ra chậm, còn ở nhiệt độ cao phản ứng chuyển dịch theo
chiều nghịch, mức nhiệt độ phù hợp là 4500C – 5000C.

8



Khi giải BT này Hs cần phải tư duy về kiến thức hoá hoc, kiến thức thực hành
và phải dùng hình vẽ để giải. (hình 1.2)

9


Hình 1.2
Ví dụ 2 : (Đề thi ĐH khối A năm 2014)
Cho hình vẽ mô tả thí nghiệm điều chế khí Y từ dung dịch X (hình 1.3)

Hình 1.3
A. NH4Cl + NaOH NaCl + NH3 + H2O
B. NaCl (rắn) + H2SO4 (đặc) NaHSO4 + HCl
C. C2H5OH C2H4 + H2O
D. CH3COONa + NaOH CH4 + Na2CO3
Phân tích
Ta thấy đây là phương pháp thu chất bằng cách đẩy nước nên chất tạo thành
muốn thu lấy không được tan cũng như phản ứng được với H2O. Chỉ có đáp án C
sinh ra khí C2H4 thỏa mãn. Chú ý khí CH4 cũng thỏa mãn nhưng sơ đồ điều chế từ
chất lỏng còn đáp án D là chất rắn.
Khi giải BT dạng này, Hs cần phân tích thí nghiệm dựa trên hình vẽ để giải.
1.3.3. Tác dụng của bài tập hóa học thực nghiệm trong dạy học hóa học ở
trường phổ thông
10


Theo M.A. Đanhilop, nhà lí luận dạy học Xô Viết: “Kiến thức sẽ được nắm
vững thật sự nếu Hs có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những
bài tập lí thuyết và thực hành” [15, tr.17]. Bài tập nói chung và bài tập hóa học nói
riêng vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu

quan hệ và liên hệ mang tính quy luật của các chất và các hiện tượng hoá học xảy ra
trong tự nhiên, phản ánh thông qua các khái niệm hoá học, các quá trình hoá học và
11


các định luật hoá học. Tư duy hoá học giúp con người vận dụng các quy luật hoá
học để cải tạo thế giới và phục vụ cuộc sống con người.[15, tr.25]
1.4.2. Kĩ năng thực hành hóa học
1.4.2.1. Kĩ năng
Theo M.A Đanhilop: “Kĩ năng là khả năng con người biết sử dụng có mục đích
và sáng tạo những kiến thức của mình trong hoạt động lí thuyết cũng như thực tiễn,
kĩ năng bao giờ cũng xuất phát tư kiến thức và dựa trên kiến thức, kĩ năng chính là
kiến thức trong hành động”. [15, tr.27]
1.4.2.2.Kĩ năng thực hành hóa học
Kĩ năng thực hành hoá học bao gồm các kĩ năng thí nghiệm và kĩ năng ứng
dụng hoá học trong thực tiễn. Ở bậc phổ thông cần đạt được cho HS những kĩ năng
cơ bản sau:
- Kĩ năng thực hiện an toàn và khoa học nội quy, quy tắc phòng thí nghiệm.
- Kĩ năng sử dụng một số dụng cụ thí nghiệm đơn giản.
- Kĩ năng làm việc với một số hoá chất thường gặp.
- Kĩ năng thực hiện một số thao tác cơ bản trong thực hành hoá học.
- Kĩ năng xác định các đại lượng vật lí.
- Kĩ năng lắp đặt dụng cụ.
- Kĩ năng giải thích hiện tượng, vận dụng kiến thức hoá học vào thực hành và
thực tiễn.
- Kĩ năng chế tạo dụng cụ.
1.4.3. Mối quan hệ giữa phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành
trong bài tập hóa học thực nghiệm
Bài tập hoá học thực nghiệm luôn chứa đựng các vấn đề hoá học, giải BTHHTN
có nghĩa là đi tìm mối quan hệ giữa tư duy lí thuyết hoá học và kĩ năng thực hành

1.5.1.3. Đối tượng điều tra
- Các Gv giảng dạy môn hoá học ở các trường THPT ở huyện Nghi Xuân gồm
các trường : THPT Nghi Xuân, THPT Nguyễn Du.
- Học sinh thuộc 2 trường ở huyện Nghi Xuân.
1.5.1.4.Phương pháp điều tra
- Gặp gỡ trực tiếp và nói chuyện với Gv, Hs và cán bộ quản lí thiết bị.
- Phát phiếu thăm dò cho Gv, Hs.
1.5.1.5.Kết quả điều tra
Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2013 tôi đã gặp gỡ, trao đổi và phát phiếu điều tra
và thu được kết quả như sau:
- Đa số Hs có hứng thú nhất với môn hoá ở nội dung liên quan đến thực
nghiệm.
- Các Gv đều đồng tình rằng việc sử dụng BTTN sẽ làm tăng hứng thú học tập
ở Hs.
- Các Gv chủ yếu sử dụng các BT có sẵn trong các tài liệu và thường chỉ sử
dụng BTTN dạng trình bày, nghĩa là việc ra đề và giải bài tập chủ yếu chỉ viết trên
giấy.
- Đa số Gv và Hs đều nhận xét BTHH sử dụng chủ yếu là kiểm tra về lí thuyết
và BT tính toán, ít BT thực nghiệm.
1.5.2. Đánh giá – Nhận xét
Từ kết quả điều tra trên, tôi nhận thấy rằng tuy BTHH dạng thực nghiệm là một
phần quan trọng khi dạy học bộ môn hoá học nhưng việc sử dụng dạng BT này còn
rất nhiều hạn chế, mà lí do một phần là vì Gv phụ thuộc nhiều vào tài liệu có sẵn, do
đó BT kém đa dạng, làm giảm hứng thú học tập của Hs.

14


TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương I, tôi đã trình bày về các nội dung sau:

Từ cấu trúc trên có thể suy ra có hai cơ sở quan trọng để thiết kế BTHHTN
- Cơ sở lí thuyết: Bao gồm các nội dung hoá học cần kiểm tra.
- Cơ sở thực nghiệm: Bao gồm các nội dung thực nghiệm và các kĩ năng thực
hành cần kiểm tra.
Như vậy để thiết kế BTHHTN có thể xuất phát từ:
- Những kiến thức và kĩ năng cần kiểm tra.
- Những sai lầm về lí thuyết và thực hành mà Hs thường mắc phải.
- Một số BT cơ bản có sẵn.
2.1.2. Nguyên tắc
- Cần phải bám sát mục đích, yêu cầu của kiến thức.
- Các bài tập được sử dụng từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, chú ý đến
hoàn cảnh sống của Hs và cơ sở vật chất của nhà trường.
- Hệ thống bài tập cần phù hợp với khả năng, trình độ nhận thức của Hs.
- Hệ thống bài tập phải phát huy được tính tích cực nhận thức và khả năng tư
duy của Hs.
- Các bài tập được thiết kế dựa trên kiến thức thường gặp hoặc có thể xuất phát
từ những bài tập có sẵn.
2.2. Các áp dụng
2.2.1. Xuất phát từ những kiến thức và kĩ năng thực hành cần kiểm tra
Ví dụ 1:
Để kiểm tra nội dung kiến thức về cách pha loãng Dd H2SO4 đặc có thể sử dụng
bài tập: H2SO4 là một hoá chất quan trọng trong công nghiệp, nó cũng thường được
dùng trong PTN và thường ở dạng Dd đặc. Hãy nêu cách tiến hành để pha loãng Dd
H2SO4 đặc.
Phân tích:
16


Dùng một lượng nước cất và một lượng Dd H2SO4 đặc vừa đủ, rót từ từ Dd
H2SO4 dọc theo đũa thuỷ tinh xuống cốc nước đồng thời khuấy đều. Không được

17


Áp dụng phương pháp grap kết hợp với tiếp cận modul, chúng ta có thể biến đổi
nội dung BT có sẵn thành nhiều BT khác nhau theo 6 nguyên tắc sau đây:
1. Nghịch đảo giữa các điều kiện và yêu cầu.
2. Thay đổi điều kiện.
3. Thay đổi yêu cầu.
4. Thay đổi cả điều kiện và yêu cầu,
5. Tổ hợp nhiều BT.
6. Chuyển BT tự luận sang các BT trắc nghiệm khách quan.
Ví dụ 1:
Về nội dung làm sạch khí clo sau khi điều chế. Ta có bài tập sau:
Khi điều chế clo trong PTN (từ HClđ và KMnO4 hoặc MnO2) sản phẩm sinh ra
lẫn HCl dư và hơi H2O để loại bỏ HCl dư và hơi H2O người ta dẫn hỗn hợp sản
phẩm qua các bình đựng.
A. Dung dịch K2CO3.
B. Bột đá CaCO3.
C. Dung dịch NaCl sau đó qua H2SO4 đặc.
D. Dung dịch KOH đặc.
Hãy chọn đáp án đúng?
Đáp án :C
Ta có thể ra bài tập sau :
Mức độ 1: Trong phòng thí nghiệm người ta thường tiến hành điều chế khí clo
tinh khiết theo hình vẽ (hình 2.3). Hãy giải thích tại sao lại phải mắc sơ đồ thí
nghiệm như thế?

Hình 2.3
Phân tích:


X

Hãy sắp xếp theo thứ tự hợp lý các thao tác khi làm thí nghiệm natri cháy trong
khí ôxi.
Y
Y

1. Đốt cháy natri trên ngọn lửa đèn cồn.

2. Cho 1 lượng natri bằng hạt ngô vào muỗng lấy hoá chất.
3. Mở nắp lọ đựng ôxi.

Khí clo

4. Đưa nhanh muỗng có natri đang cháy vào lọ đựng khí oxi có sẵn một lớp cátKhí clo
5. Khi cháy xong đậy nắp lọ lại.
6. Quan sát hiện tượng, viết phương trình phản ứng và xác định vai trò của chất
tham gia phản ứng.
A. 1, 2, 3, 4, 5, 6.

B. 2, 1, 3, 4, 6, 5.

C. 2, 1, 3, 4, 5, 6.

D. 3, 1, 2, 4, 5, 6.

Hãy chọn đáp án đúng?
Đáp số: đáp án C
BT2:
Hãy giải thích cách làm sau:

- Nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy.
- Khả năng hoà tan trong các loại dụng môi.
- Trạng thái tập hợp của chất.
- Màu sắc, mùi vị.
- Các phản ứng đặc trưng.
Bài tập 1: Hãy giải thích tại sao nguyên tố oxi hoạt động hơn nguyên tố clo
nhưng ở điều kiện thường lại tỏ ra kém hoạt động hơn?
Phân tích:
Để trả lời câu hỏi này Hs cần phân tích sự phụ thuộc của tính chất hoá học của
đơn chất với độ bền liên kết, liên hệ với liên kết trong O2, Cl2 để giải thích
-

Khoảng cách giữa 2 nguyên tử oxi nhỏ hơn khoảng cách giữa 2 nguyên tử clo

-

Liên kết trong phân tử oxi là liên kết đôi trong khi liên kết trong phân tử clo là
liên kết đơn

→ Năng lượng để đơn chất phân li cho nguyên tử oxi lớn hơn → ở điều kiện
thường oxi kém hoạt động hơn clo
20


Bài tập 2: Giải thích quy luật biến thiên liên tục các tính chất vật lí: Nhiệt độ
sôi, nhiệt độ nóng chảy của các đơn chất halogen theo dãy F2,Cl2, Br2, I2.
Phân tích:
Để giải BT này, Hs cần phân tích các yếu tố về cấu tạo có ảnh hưởng đến nhiệt
độ sôi, nhiệt độ nóng chảy của chất, cụ thể ở đây là độ phân cực phân tử.
Theo dãy F2,Cl2, Br2, I2 nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy của các đơn chất

yếu tố chuyển dịch cân bằng, cụ thể ở đây là độ bền của sản phảm tạo thành và yếu
tố nồng độ chất tham gia.
Nước clo dần dần bị mất màu theo thời gian, không bảo quản được lâu là do quá
trình phân hủy HClO
Cl2(k) + H2O(l)
2HClO

��

��


��

��


HOCl + HCl

2HCl + O2
21

(1)
(2)


Phản ứng (2) làm cho nồng độ HClO giảm, cân bằng hóa học của phản ứng (1)
chuyển dịch theo chiều thuận, clo sẽ phản ứng với nước cho đến hết, do đó nước clo
không bền.
Bài tập 4: Sục khí clo cho đến dư vào Dd KI có nhỏ sẵn vài giọt hồ tinh bột.

a) A1 là dung dịch gồm Cu(NO3)2, H2SO4 và HNO3 dư.
A2 là khí NO
A3 là kết tủa BaSO4
A4 là dung dịch chứa ion phức [Cu(NH3)4]2+
b) 3Cu2S + 22HNO3  6Cu(NO3)2 + 3H2SO4 + 10NO + 8H2O
2NO + O2  2NO2
22


H2SO4 + BaCl2  BaSO4 + 2HCl
NH3 + H+  NH4+
Cu2+ + 4NH3  Cu(NH3)4)2+
2.2.1.4. Phương pháp tổng hợp và điều chế các chất
Tổng hợp và điều chế các chất là BT không chỉ có ý nghĩa về mặt lí thuyết mà
còn có ý nghĩa to lớn cả về mặt thực tiễn, đây là loại BT cần được rèn luyện nhiều
để đảm bảo mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội.
Bài tập 6: Trong phòng thí nghiệm, người ta điều chế hiđro halogenua bằng
cách cho H2SO4 đặc tác dụng với muối halogenua khan.
a) Hãy cho biết phương pháp trên có thể điều chế hoặc không thể điều chế
được hiđro halogenua nào? Giải thích.
b) Cho biết phương pháp điều chế các hiđro halogenua còn lại.
Phân tích:
a) Có thể điều chế hiđro clorua và hiđro florua theo phản ứng:
CaF2 + H2SO4 → 2HF + CaSO4
NaCl + H2SO4 → HCl + NaHSO4
HF, HCl sinh ra có tính khử yếu nên không phản ứng ngược lại với H2SO4 đặc.
Không áp dụng phương pháp này cho HBr, HI được vì chúng là những chất khử
mạnh nên khi tạo thành sẽ có phản ứng:
2HBr + H2SO4 → Br2↑ + SO2 ↑+2H2O
8HI + H2SO4 → 4I2 ↓+ H2S ↑+ 4H2O

của SO4 và tạo kết tuả của Cl với Ag.
Cho Ba(CH3COO)2 vào ống nghiệm chứa các axit trên, kết tủa xuất hiện chứng
tỏ trong Dd loãng có chứa H2SO4.
Ba(CH3COO)2 + H2SO4  BaSO4 + 2CH3COOH
Cho AgNO3 vào ống nghiệm sản phẩm, kết tủa xuất hiện chứng tỏ trong Dd có
HCl.
HCl + AgNO3  AgCl + HNO3
Cho Cu vào ống nghiệm đựng các axit trên và đun nóng có khí màu nâu bay ra
chứng tỏ trong Dd có HNO3.
Cu + 4HNO3  Cu(NO3)2 + 2NO2 + 2H2O
Bài tập 9: Dung dịch A chứa các ion : SO4, SO3, CO3. Bằng những phản ứng
hóa học nào có thể nhận biết từng loại anion có trong dung dịch.
Phân tích:
Nhận biết từng loại anion trong dung dịch A: Ta có thể tiến hành theo nhiều
cách khác nhau. Sau đây giới thiệu 2 cách.
Cách 1 :
- Cho dung dịch A tác dụng với dung dịch axit HCl:
Dd A + HCl  hỗn hợp khí + Dd B
SO3 + 2H  SO2 + H2O
CO3 + 2H CO2 + H2O
- Cho hỗn hợp khí lần lượt qua dung dịch KMnO4 và sau đó là dung dịch
Ca(OH)2. Ta thấy:
+ Dung dịch KMnO4 bị nhạt màu do phản ứng:
5SO2 + 2KMnO4 + 2H2O  K2SO4 + 2MnSO4 + 2H2SO4
24


Chứng tỏ trong hỗn hợp khí có SO2, suy ra dung dịch A có SO3.
+ Dung dịch Ca(OH)2 bị vẩn đục hoặc vẩn đục rồi trở nên trong suốt do các
phản ứng:


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status