Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan rèn kỹ năng thực hành hóa học cho học sinh trung học phổ thông - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THU XÂY DỰNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH
QUAN RÈN KỸ NĂNG THỰC HÀNH HÓA HỌC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC HÀ NỘI – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THU

XÂY DỰNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
RÈN KỸ NĂNG THỰC HÀNH HÓA HỌC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Những đóng góp mới của đề tài
4
9. Cấu trúc của luận văn
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI……
6
1.1. Tầm quan trọng của thực hành hoá học
6
1.2. Ưu điểm của TNKQ đối với dạy học hoá học
8
1.2.1. Phân loại câu hỏi trắc nghiệm
8
1.2.2. Ưu nhược điểm của TNKQ
9
1.3. Các kỹ năng thực hành hoá học
13
1.4. Một số dụng cụ thí nghiệm quen thuộc
16
1.5. Các tiêu chí đánh giá trắc nghiệm khách quan
18
1.5.1. Độ khó
18
1.5.2. Độ phân biệt
19
1.5.3. Độ giá trị
19
Tiêu kết chương 1
20

3.3. Giáo án bài thực hành hóa học lớp 12
85
Tiểu kết chương 3…………………………………………………………
90
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……………………………
91
4.1. Mục đích
91
4.2. Nhiệm vụ
91
4.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm
91
4.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
91
4.4.1. Đối tượng, địa bàn thực nghiệm
91
4.4.2. Tổ chức thực nghiệm sư phạm
93
4.5. Kết quả thực nghiệm và xử lý kết quả
93
4.5.1.Đánh giá một cách định tính kỹ năng thực hành của học sinh
93
4.5.2. Dùng phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu KHGD
94
4.6. Phân tích câu hỏi, đề thi trắc nghiệm khách quan
99
4.6.1. Phân tích câu hỏi TNKQ
99
4.6.2. Phân tích đề thi trắc nghiệm khách quan
101

hành so với chương trình cũ. Tuy nhiên, do tập quán người Việt Nam thường
không coi trọng thực hành. Tập quán sai lầm này dẫn đến những hậu quả tai hại
như học xa với thực tiễn, đất nước thiếu tài nguyên quan trọng nhất cho sự phát
triển là nguồn nhân lực trình độ cao.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách
quan rèn kỹ năng thực hành hoá học cho học sinh Trung học phổ thông ”.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Trên thế giới
Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các phương pháp trắc nghiệm đo
lường thành quả học tập đã được chú ý tại Châu Âu.
Năm 1904 nhà tâm lí học người Pháp - Alfred Binet trong quá trình
nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về
trí thông minh. Năm 1916, Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm
này ra tiếng Anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh được goi là trắc nghiệm
Stanford- Binet. 2
Vào đầu thế kỷ XX, Edward Thorndike là người thiết kế anpha test và
beta test dành cho lính Mỹ trong thời kỳ đại chiến thế giới thứ nhất.
Trong những năm gần đây khoa học kiểm tra, đánh giá ngày càng phát
triển, trong đó trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị trong giáo dục. Hiện
nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển mang tính đại trà một số môn
đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến.
2.2. Ở Việt Nam
Trắc nghiệm khách quan được sử dụng từ rất sớm trên thế giới song ở Việt Nam
thì trắc nghiệm khách quan xuất hiện muộn hơn, cụ thể:
Ở miền nam Việt Nam, từ những năm 1960 đã có nhiều tác giả sử dụng
trắc nghiệm khách quan một số ngành khoa học ( chủ yếu là tâm lí học).
Năm 1969, tiến sĩ Dương Thiệu Tống đã đưa một số môn trắc nghiệm

rèn kỹ năng thực hành chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong các đề thi trắc nghiệm
Hóa học, chưa tương xứng với tầm quan trọng của nội dung này.
2.3. Các sách trắc nghiệm Hoá học phổ thông ở Việt Nam
Đã có nhiều tác giả quan tâm đến trắc nghiệm Hoá họcphổ thông như:
- Nguyễn Xuân Trường: Trắc nghiệm và sử dụng trắc nghiệm trong dạy học
Hoá học ở trường phổ thông, NXB Đại học sư phạm Hà nội 2006; Bài tập trắc
nghiệm khách quan hóa vô cơ có nội dung thực nghiệm
- Trần Trung Ninh: 555 câu trắc nghiệm hóa học, NXB Đại học quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh, 2007
- Đặng Thị Oanh: Bài tập trắc nghiệm Hoá học10, Tuyển tập câu hỏi trắc
nghiệm hoá học trung học phổ thông, NXB Đại học sư phạm Hà nội 2007,vv
- Ngô Ngọc An: Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm hoá học lớp 10, NXB Giáo dục, Hà
Nội 2007 4
Tuy nhiên các sách tham khảo chủ yếu dùng cho học sinh ôn, luyện thi Tú tài,
Đại học, Cao đẳng cho nên nội dung rèn kĩ năng thực hành còn rất ít.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
+ Xây dựng hệ thống các câu hỏi và bài tập trắc nghiệm cho các tiết thực
hành trong chương trình hoá học Trung học phổ thông.
+ Sử dụng hợp lí, có hiệu quả các câu hỏi trắc nghiệm rèn kĩ năng thực hành,
nâng cao chất lượng của các giờ thực hành.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
+ Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học Hoá học ở phổ thông.
+ Đối tượng nghiên cứu : các bài tập trắc nghiệm rèn kĩ năng thực hành Hoá
học.
5. Vấn đề nghiên cứu
Làm thế nào để rèn kĩ năng thực hành hoá học cho học sinh Trung học phổ
thông?

Thực nghiệm là một trong những đặc trưng của dạy học môn khoa học như
Hoá học. Các nhà khoa học và giáo dục đều nhất trí rằng thực hành thí nghiệm
giữ một vai trò quan trọng trong dạy học Hoá học. Hiệu quả của các hoạt động
thực nghiệm nằm trong bản chất và nội dung các hoạt động thực nghiệm và
những mục tiêu được đề ra.
Theo một nghiên cứu của Viện khoa học giáo dục quốc gia Hoa kỳ, sau 6
tháng lưu giữ được chỉ 10% những gì đã đọc, 20% những gì đã nghe, 30%
những gì đã nhìn, 50% những gì đã được làm. Người Trung Quốc có câu: nói
cho tôi thì tôi sẽ quên, chỉ cho tôi xem tôi sẽ nhớ, cho tôi làm thì tôi sẽ hiểu.
Có rất nhiều hoạt động thực nghiệm như : rèn luyện kĩ năng, minh họa của
thầy để nêu tình huống thảo luận, các hoạt động giải quyết vấn đề, và các hoạt
động thực hành tự khám phá được thiết kế để giúp học sinh kết luận tổng quát
hoá. Vì thế câu hỏi cần được đặt ra là loại hoạt động thực nghiệm nào cần được
tiến hành để đạt được các mục tiêu cụ thể đề ra của một nội dung học thuật,
hoặc của cả quá trình đào tạo. Tuy mục tiêu các môn khoa học thực nghiệm,
trong đó có Hoá học thay đổi theo thời gian và sự phát triển lí thuyết dạy- học,
công cụ dạy-học, tình huống dạy- học và hoàn cảnh kinh tế xã hội, khảo sát gần
đây cho thấy mục tiêu chung của thực nghiệm trong hoá học:
 Khuyến khích quan sát và mô tả chính xác
 Làm cho các hiện tượng quan sát xác thực hơn
 Kích thích và duy trì hứng thú học tập
 Cổ vũ cách tư duy logic và hợp lí
Với mục tiêu khác nhau cần các loại hoạt động thực hành khác nhau: 7
 Các bài thí nghiệm minh hoạ ngắn để thảo luận và học tập các khái
niệm.
 Các hoạt động thực hành để phát triển các kĩ năng và thao tác thực
hành. Các hoạt động thực hành để mở rộng phát triển các kĩ năng khảo sát,

kiểm tra đánh giá học sinh khi học các bài học này cũng khó khăn hơn vì phải
kiểm tra nội dung kiến thức rộng trong thời gian ngắn. Tôi nghĩ rằng việc sử
dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm có chất lượng về rèn kỹ năng thực hành sẽ có tác
dụng tốt nâng cao hiệu quả dạy học Hoá học ở phổ thông.
1.2. Ƣu điểm của trắc nghiệm khách quan đối với dạy học hoá học
1.2.1. Phân loại câu hỏi trắc nghiệm
Một cách tổng quát, các bài kiểm tra hay thi học sinh phải viết khi làm
bài được chia thành hai loại: loại tự luận và loại trắc nghiệm khách quan. Cả hai
loại đều được gọi là trắc nghiệm, chứ không phảỉ chỉ có loại thứ hai như nhiều
người vẫn nhầm lẫn.
Loại trắc nghiệm tự luận đòi hỏi thí sinh viết câu trả lời, thường gồm
nhiều dòng, tương ứng với mỗi câu hỏi, hay mỗi phần câu hỏi. Chữ khách quan
dùng để chỉ loại trắc nghiệm có kết quả chấm đáng tin cậy khi có nhiều người
chấm nhờ có đáp án rõ ràng, tường minh.
Chỉ trong loại trắc nghiệm điền vào chỗ trống học sinh được tự do diễn
đạt câu trả lời trong một giới hạn nào đó để được chấp nhận đúng; còn trong các
loại trắc nghiệm khách quan khác, học sinh sẽ được điểm như nhau với bất kỳ
người chấm là ai, ngoại trừ sai số do sự vô ý nhất thời của người chấm. Vậy nên
loại trắc nghiệm này được gọi là khách quan, do tính chất hai hay nhiều người
cùng chấm bài kiểm tra hay thi sẽ cho điểm như nhau hay khác nhau rất ít.
Trắc nghiệm khách quan có thể chia làm 4 loại:
 Loại điền vào chỗ trống hay cần câu trả lời ngắn 9
Trong loại này thí sinh viết câu trả lời khoảng một đến tám hay mười chữ,
các câu trả lời thường thuộc loại đòi hỏi trí nhớ. Tuy nhiên trong trường hợp toán
hay khoa học tự nhiên, câu trả lời có thể đòi hỏi óc suy luận hay sáng kiến.
 Loại đúng, sai
Trong loại này, thí sinh đọc những câu phát biểu và phán đoán xem nội

 Ưu điểm
+ Giáo viên có thể dùng loại câu này để kiểm tra đánh giá những mục
tiêu dạy học khác nhau như:
- Xác định mối tương quan nhân quả
- Nhận biết các điều sai lầm
- Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau
- Định nghĩa các khái niệm
- Tìm nguyên nhân của một số sự kiện
- Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều sự vật hoặc hiện
tượng
- Xác định nguyên lí hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện
- Xác định thứ tự hay cách sắp đặt nhiều sự vật hiện tượng
- Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm
+ Độ tin cậy cao hơn: yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều so với
lọai trắc nghiệm khách quan khác khi số phương án lựa chọn tăng lên
+ Tính giá trị tốt hơn: với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa
chọn, người ta có thể đo được các khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lí, định
luật, tổng quát hóa rất hữu hiệu.
+ Thật sự khách quan khi chấm bài. Điểm số của bài trắc nghiệm khách
quan không phụ thuộc vào chữ viết , khả năng diễn đạt của học sinh và trình độ
của người chấm bài
11
 Nhược điểm
+ Loại câu này khó soạn vì chỉ có một câu trả lời đúng nhất, còn những
câu còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng phải có vẻ hợp lí. Ngoài ra còn phải soạn
thế nào đó để đo được các mức trí năng cao hơn biết, nhớ, hiểu.
+ Có những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu

luận nhanh, có thể giải nhẩm được. Đáp án “nhiễu” có thể là chuyển vị trí dấu
phẩy hay đảo thứ tự chữ số của đáp số.
1.2.2.3. Câu trắc nghiệm ghép đôi
 Ưu điểm
Câu ghép đôi dễ viết, dễ dùng, loại này thích hợp với tuổi học sinh trung
học cơ sở hơn. Có thể dùng loại câu này để đo các mức trí năng khác nhau. Nó
đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá các khả năng nhận biết các hệ thức hay
lập các mối tương quan.
 Nhược điểm
Loại câu trắc nghiệm ghép đôi không thích hợp cho việc đánh giá các khả
năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức. Muốn soạn loại câu hỏi này để đo
mức trí năng đòi hỏi nhiều công phu. Ngoài ra, nếu danh sách mỗi cột dài thì
tốn nhiều thời gian cho học sinh đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi.
1.2.2.4. Câu trắc nghiệm điền khuyết
 Ưu điểm
Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra từ hoặc cụm
từ cần tìm. Dù sao việc chấm điểm cũng nhanh hơn trắc nghiệm tự luận song
rắc rối hơn những loại trắc nghiệm khách quan khác. Loại này cũng dễ soạn
hơn loại câu nhiều lựa chọn.
 Nhược điểm
Khi soạn loại câu này thường mắc sai lầm là trích nguyên văn các câu từ
trong sách giao khoa. Phạm vi kiểm tra của lọai câu này chỉ giới hạn vào chi tiết 13
vụn vặt. Việc chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn loại câu
hỏi nhiều lựa chọn.
1.3. Các kĩ năng thực hành Hoá học
1.3.1. Kĩ năng thực hiện an toàn và khoa học các nội qui, qui tắc thí nghiệm
Làm việc với các dụng cụ thủy tinh dễ vỡ, làm việc với các chất Hoá học

Na
2
SO
4
vào dung dịch BaCl
2

A. Cô cạn B. Chưng cất C. Lọc D. Chiết
Đáp án: C
1.3.5. Kĩ năng xác định các đại lượng vật lí: Cân khối lượng chất rắn, chất
lỏng; đo thể tích chất khí, chất lỏng; đo nhiệt độ và xác định khối lượng riêng
của các chất; xác đinh nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy của một chất; xác định
độ tan của chất rắn, lỏng, khí; xác định nồng độ của dung dịch.
Thí dụ: Khi đọc mức chất lỏng trong các dụng cụ đo, người ta phaỉ để dụng cụ
đo ở trạng thái thẳng đứng và:
A. để tầm mắt ngang với mặt khum chất lỏng
B. để tầm mắt dưới mặt khum chất lỏng
C. để tầm mắt trên mặt khum chất lỏng
D. để tầm mắt thảng từ trên xuống
Đáp án: A
1.3.6. Kĩ năng quan sát thí nghiệm, nhận biết các hiện tượng chứng tỏ có sự
hình thành sản phẩm( phản ứng Hoá học xảy ra): Sự thay đổi nồng độ, màu
sắc, mùi vị, âm thanh, phát sáng, tỏa nhiệt, tạo chất kết tủa, chất dễ bay hơi,
chất khí 15
Thí dụ: Có thể phân biệt muối amoni với các muối khác bằng cách cho tác dụng với
dung dịch kiềm mạnh vì khi đó ở ống nghiệm đựng muối amoni có hiện tượng:
A. chuyển thành màu đỏ


16
1.4. Một số dụng cụ thí nghiệm quen thuộc
1.4.1. Ống nghiệm( developmental tube hoặc test tube)
Ống nghiệm là loại ống thuỷ tinh trong suốt, hình trụ, đáy tròn, dùng để
chứa hoá chất, thực hiện các phản ứng hoá học.

1.4.2. Cặp ống nghiệm ( test tube clamp):
Có thể bằng gỗ, nhựa hoặc kim loại nhưng thường người ta sử dụng cặp gỗ
nhiều hơn. 17 1.4.3. Bình cầu ( balloon hoặc flask):
Là loại bình thuỷ tinh chịu nhiệt có hình cầu, dung tích nhiều cỡ,… được sử dng
nhiều trong các thí nghiệm hoá hữu cơ, đặc biệt trong các phương pháp trưng
cất. Có một số loại bình cầu như sau
- Bình cổ cao đáy bằng ( flat- bottom florence flask) - Bình cầu đáy tròn(round-bottom flask)


• Nếu 0,3 ≤ P < 0,4: câu hỏi có độ phân biệt khá tốt, nhưng có thể làm
cho tốt hơn.
• Nếu 0,2 ≤ P < 0,3: câu hỏi có độ phân biệt tạm được, cần phải hoàn
chỉnh.
• Nếu P < 0,2: câu hỏi có độ phân biệt kém, cần loại bỏ hay sửa chữa lại
cho tốt hơn.
- Độ phân biệt của phương án đúng càng dương thì câu hỏi đó càng có độ phân
biệt cao. 19
- Độ phân biệt của phương án nhiễu càng âm thì câu nhiễu đó càng nhử được
nhiều học sinh kém lựa chọn.
- Cách phân tích: dựa vào điểm số chia học sinh thành nhóm: nhóm điểm cao
hơn và nhóm điểm thấp hơn, mỗi nhóm gồm 30% số học sinh trả lời.
1.5.3. Độ giá trị
- Là mức độ đạt mục tiêu dạy học của kiểm tra, đánh giá. Độ giá trị được xem
xét khi phân tích, so sánh nội dung câu trắc nghiệm với mục tiêu của môn học.
- Độ giá trị của bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan được xác định thông qua
hai đại lượng:
Giá trị nội dung: Một bài trắc nghiệm khách quan được coi là có giá trị
nội dung khi các câu hỏi trong bài là một mẫu tiêu biểu của tổng thể các kiến
thức, kĩ năng, mục tiêu dạy học. Mức độ giá trị nội dung được ước lượng bằng
cách so sánh nội dung của bài trắc nghiệm khách quan với nội dung của chương
trình học. Điều này được thể hiện trong quá trình xác định mục tiêu kiểm tra và
bảng đặc trưng để phân bố câu hỏi và lựa chọn câu hỏi.
Giá trị tiên đoán: Trong một số lĩnh vực như hướng nghiệp, tuyển
chọn…từ điểm số của bài trắc nghiệm khách quan của từng người ta có thể tiên
đoán mức độ thành công trong tương lai của người đó. Muốn tính giá trị tiên
đoán cần phải làm 2 bài trắc nghiệm: một bài trắc nghiệm dự báo để có những

Tính chất
hóa học của
khí Clo và
hợp chất của
Clo
Bài thực
hành số 4.
Tính chất của
oxi, lưu
huỳnh Bài thực
hành số 6.
Tốc độ phản
ứng hóa học
Bài thực
hành số 5.
Tính chất các
hợp chất của
lưu huỳnh
Bài thực
hành số 3.
Tính chất
hóa học của
Brom và Iôt Bài thực
hành số 1.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status