TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ THU
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM VIOLET
ĐỂ XÂY DỰNG BÀI TẬP TRẮC
NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG MÔN
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ THU
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM VIOLET
ĐỂ XÂY DỰNG BÀI TẬP TRẮC
NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG MÔN
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
TNTL
Trắc nghiệm tự luận
TNKQ
Trắc nghiệm khách quan
TNXH
Tự nhiên và Xã hội
CNTT
Công nghệ thông tin
SGK
Sách giáo khoa
NXB
các dạng bài tập này trong dạy học môn TNXH lớp 3 .............................. 10
1.3.1. Bài tập điền khuyết ........................................................................ 10
1.3.2. Bài tập ghép đôi ............................................................................ 11
1.3.3. Bài tập đúng sai ............................................................................ 12
1.3.4. Bài tập nhiều lựa chọn .................................................................. 14
1.4. Đặc trƣng môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 ............................................ 14
1.4.1. Mục tiêu chương trình .................................................................. 14
1.4.2. Nội dung môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 ....................................... 15
1.4.3. Đặc điểm môn Tự nhiên và Xã hôi lớp 3 ...................................... 17
1.4.4. Những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng bài tập trắc
nghiệm khách quan trong dạy học môn TNXH lớp 3 ............................. 17
1.5. Phần mềm Violet và vai trò của phần mềm trong thiết kế bài tập trắc
nghiệm khách quan ....................................................................................... 18
1.5.1. Giới thiệu phần mềm ..................................................................... 18
1.5.2. Chức năng của phần mềm trong thiết kế bài tập trắc nghiệm khách
quan ......................................................................................................... 20
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 21
CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
TRONG MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 3 DỰA VÀO PHẦN MỀM
VIOLET ......................................................................................................... 22
2.1. Nguyên tắc xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan trên phần
mềm Violet ..................................................................................................... 22
2.2. Quy trình thiết kế bài tập trắc nghiệm khách quan trên phần mềm
Violet ............................................................................................................... 25
2.3. Các bƣớc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trên phần mềm
Violet
.......................................................................................................... 26
phẩm chất năng lực đạo đức của con người. Nếu học sinh không có điều kiện
học tập, tiếp xúc trực tiếp với các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên thì máy vi
tính và phần mềm dạy học sẽ đem lại cho các em các hình ảnh sống động như
đang diễn ra trong chính môi trường ấy. Để đáp ứng mục tiêu của hệ thống
giáo dục và của giáo dục Tiểu học, chương trình môn Tự nhiên và Xã hội đề
ra mục tiêu phải khơi dậy tính tích cực trong hoạt động của học sinh. Trên cơ
1
sở đó đòi hỏi hoạt động tổ chức, hướng dẫn của giáo viên phải hướng tới hoạt
động tự chiếm lĩnh kiến thức và học tập rèn luyện khả năng học tập cho học
sinh. Mục tiêu này đòi hỏi giáo viên trong tổ chức phải phối hợp linh hoạt các
phương pháp dạy học có tác dụng phát huy tính tích cực, chủ động trong nhận
thức của người học.
Để nâng cao chất lượng dạy học trong giai đoạn phát triển khoa học
công nghệ như hiện nay thì không thể không nhắc đến việc sử dụng phần
mềm dạy học. Trong đó đáng chú ý là phần mềm Violet. Đây là một trong
những phần mềm có tính năng rất ưu việt. Các loại câu hỏi trắc nghiệm kết
hợp với các hình ảnh trực quan trên màn hình đẹp, rõ ràng luôn gây hứng thú,
kích thích trí tò mò. Các em tập trung, tự giác, tích cực tham gia xây dựng bài
học, làm giờ học sôi nổi lôi cuốn. Trong thực tiễn dạy học cho thấy việc áp
dụng phần mềm Violet vào trong thiết kế bài tập trắc nghiệm khách quan
trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 là việc làm mới, giáo viên sử
dụng chưa nhiều. Nguyên nhân là do phần đông giáo viên chưa có kinh
nghiệm hay tìm hiểu các tính năng của phần mềm tin học. Ngoài ra, cũng còn
tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng trường, nội dung bài học và đối
tượng học sinh mà giáo viên có phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin
với mức độ và hình thức khác nhau sao cho khoa học và hiệu quả.
Từ những lí do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng
- Nghiên cứu câu hỏi trắc nghiệm dùng trong kiểm tra đánh giá kiến
thức Tự nhiên và Xã hội của học sinh lớp 3.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo,
nội dung chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng phần mềm
Violet để thiết kế bài tập trắc nghiệm khách quan trong môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 3
Chương 2: Thiết kế bài tập trắc nghiệm khách quan trong môn Tự nhiên
và Xã hội lớp 3 dựa vào phần mềm Violet
3
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ BÀI TẬP
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI
LỚP 3 DỰA VÀO PHẦN MỀM VIOLET
1.1. Một số khái niệm công cụ
1.1.1. Bài tập
Theo từ điển Tiếng Việt 2009 của Viện Ngôn ngữ học, NXB Trung tâm
từ điển. Bài tập là bài ra cho học sinh để tập vận dụng điều đã học.
Theo Tâm lý học: Mỗi thời điểm học sinh có hai trình độ (Trình độ hiện
tại và trình độ phát triển gần nhất). Khi học sinh tự giải quyết được nhiệm vụ
học tập, không cần sự giúp đỡ trực tiếp của giáo viên thì đó là trình độ hiện
tại. Nhiệm vụ học tập này gọi là bài tập.
Từ những quan niệm trên có thể hiểu bài tập là nhiệm vụ mà giáo viên
đưa ra dưới hình thức các câu hỏi nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức,
kỹ năng sau khi đọc xong bài học, đồng thời để vận dụng những điều đã học
Kiểm tra là giai đoạn kết thúc quá trình giảng dạy và học tập một môn học, là
một chức năng cơ bản và chủ yếu của quá trình dạy học.
1.1.3.2. Đánh giá
Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2006, NXB Đà Nẵng), đánh giá là
nhận định giá trị. Đây là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học.
Theo giáo sư Trần Bá Hoành, đánh giá là quá trình nhận định, phán
đoán về kết quả công việc, dựa vào việc phân tích những thông tin thu được,
đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định
thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh và nâng cao hiệu quả công việc.
Trong giáo dục, theo một số học giả phương Tây đánh giá là một quá
trình được tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về
các mục tiêu đào tạo. Nó có thể bao gồm những sự mô tả (liệt kê) về mặt định
tính hay định lượng những hành vi (hoạt động) của người học cùng với sự
nhận xét, đánh giá những hành vi này đối chiếu với sự mong muốn đạt được
về mặt hành vi đó.
Như vậy có thể hiểu kiểm tra là phương tiện, công cụ để đánh giá.
Trong cách dùng của tiếng Việt kiểm tra và đánh giá thường nằm trong cụm
từ ghép “Kiểm tra đánh giá” nghĩa là khi đánh giá phải kiểm tra và kiểm tra
để đánh giá. Đôi khi nói đánh giá thì cũng bao gồm cả kiểm tra trong đó.
5
1.2. Định hƣớng đổi mới kiểm tra đánh giá và vấn đề sử dụng bài tập trắc
nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá môn TNXH lớp 3
1.2.1. Định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá ở tiểu học
Đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những yêu
cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải được chuyển biến
mạnh theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo của học sinh, khuyến
khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống
và tham gia đánh giá ; tự học, giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn
luyện để tiến bộ. Các bậc phụ huynh sẽ cùng tham gia đánh giá quá trình học
và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực,
phẩm chất của con em mình.
Hình thức đánh giá là đánh giá thường xuyên bằng nhận xét. Đối với
đánh giá về học tập, quy định mới đã bãi bỏ việc dùng điểm số để đánh giá
thường xuyên, đồng thời bãi bỏ việc xếp loại học tập theo thang Giỏi – Khá –
Trung bình… như trước đây. Đánh giá về hạnh kiểm được thay thế bằng việc
đánh giá về năng lực, phẩm chất của học sinh như khả năng tự phục vụ, tự
quản; giao tiếp và hợp tác; tính chăm chỉ, tự tin, tự chịu trách nhiệm...
Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả
học tập của học sinh, bộ công cụ đánh giá được bổ sung các hình thức đánh
giá khác nhau như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm, chú ý hơn tới
đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, quan tâm tới mức độ hoạt
động tích cực, chủ động của học sinh trong từng tiết học, kể cả ở tiết tiếp thu
tri thức mới lẫn tiết thực hành, thí nghiệm. Điều này đòi hỏi giáo viên bộ môn
đầu tư nhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn. Lãnh đạo nhà trường cần
quan tâm và giám sát hoạt động này.
Để thực hiện tốt việc đổi mới trong cách thức kiểm tra, đánh giá học
sinh tiểu học theo định hướng đổi mới hiện nay, hình thức đánh giá bằng
nhận xét sẽ được thay thế bằng điểm số. Câu hỏi đặt ra là phải tìm ra phương
7
án tối ưu nhất để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, vì vậy không thể
không kể đến ứng dụng của bài tập trắc nghiệm khách quan trong quá trình
dạy học. Qua đó giáo viên có thể nắm bắt được mức độ hiểu, mục tiêu cần
đạt, nội dung qua từng bài, bao quát từng chương… của số lượng đông học
sinh thông qua các dạng bài tập trắc nghiệm. Căn cứ vào những câu trả lời
giáo viên phải có sự khéo léo dẫn dắt học sinh hướng vào bài mới và đây là
biện pháp rất hiệu quả.
- Sử dụng trong khâu ôn tập, củng cố hoàn thiện và nâng cao.
Sau mỗi bài, mỗi chương đều nên có những bài kiểm tra bằng hình thức
trắc nghiệm khách quan sẽ giúp học sinh nhớ kiến thức lâu hơn mà không
phải học vẹt như trước đây.
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả cần phải đổi mới
phương pháp kiểm tra, đánh giá. Một trong những phương pháp đạt hiệu quả
là sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan. Mặt khác trắc nghiệm khách quan
còn có thể sử dụng ở các khâu trong quá trình dạy học mang lại hiệu quả cao.
1.2.2.2. Thời điểm sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong
kiểm tra, đánh giá môn TNXH lớp 3
Được tiến hành sau khi học xong một nội dung bài học, một bài học,
một chủ đề, một học kỳ hoặc một năm học.
Ngoài ra, trắc nghiệm khách quan có thể sử dụng cho các trò chơi đố
vui trong các hoạt động tập thể, giờ tự học buổi chiều, thi hiểu biết chung ở
các cuộc thi như Trạng Nguyên nhỏ tuổi,…
1.2.2.3. Thời gian sử dụng
Tùy vào từng nội dung cụ thể để áp dụng cho từng phần cụ thể. Đối với
những phần bài tập kiểm tra khắc sâu kiến thức, nội dung bài học được tiến
hành trong khoảng 5-10 phút. Đối với bài ôn tập hay bài kiểm tra định kỳ thì
được tiến hành với thời gian khoảng 25-30 phút.
9
1.2.2.4. Cách thức tổ chức
Với những bài kiểm tra sau khi học xong một nội dung bài học, một bài
học giáo viên tổ chức tiến hành trên bảng lớp với các thiết bị hỗ trợ như máy
tính, máy chiếu Projecter. Còn những bài ôn tập, bài kiếm tra định kỳ có thể
Đây là loại hì nh đặc biệt của loại câu hỏi nhiều lựa chọn , trong đó học
sinh tì m cách ghép các câu trả lời ở trong cột này với câu hỏi ở cột k hác sao
cho phù hợp.
Ưu điểm: Câu hỏi ghép đôi dễ viết , dễ dùng, loại này thích hợp với
tuổi học sinh trung học cơ sở hơn . Có thể dùng loại câu hỏi này để đo các
mức trí năng khác nhau.
Nhược điểm: Loại câu hỏi trắc ngh iệm ghép đôi không thí ch hợp cho
việc thẩm đị nh các khả năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức
. Muốn
soạn loại câu hỏi này để đo mức trí năng cao đòi hỏi nhiều công phu . Ngoài
ra, nếu danh sách mỗi cột dài thì tốn nh iều thời gian cho học sinh đọc nội
dung mỗi cột trước khi ghép đôi.
Ví dụ: Nối cột A với cột B sao cho đúng đặc điểm của thân cây:
A
B
Lấy gỗ
Lim, Mít là cây
Thông
Lấy nhựa
Nhân sâm
Làm thuốc
- Loại câu hỏi này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất
, còn
những câu còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý . Ngoài ra phải soạn
câu hỏi hỏi thế nào đó để đo được các mức trí năng cao hơn mức biết
hiểu.
12
, nhớ,
- Có những học sinh có óc sáng tạo , tư duy tốt, có thể tìm ra những câu
trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thỏa mãn.
- Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán
tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm
bằng loại câu hỏi TNTL soạn kỹ.
- Ngoài ra tố n kém giấy mực để in đề loại câu hỏi này so vớ i loại câu
hỏi khác và cần nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi.
* Câu hỏi loại này có thể dùng thẩm đị nh trí năng ở mức biết , khả năng
vận dụng, phân tí ch, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn . Vì
vậy, khi viết câu hỏi loại này cần lưu ý:
- Câu dẫn phải có n ội dung ngắn gọn , rõ ràng. Tránh dùng các từ phủ
đị nh, cần phải được nhấn mạnh để học sinh không bị nhầm . Câu dẫn phải là
câu hỏi trọn vẹn để học sinh hiểu được mì nh đang được hỏi vấn đề gì .
- Câu chọn cũng phải rõ ràng , dễ hiểu và phải có cùng loại quan hệ với
câu dẫn, có cấu trúc song song nghĩa là chúng phải phù hợp về mặt ngữ pháp
với câu dẫn.
- Nên có 5 phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi . Nếu số phương
án trả lời ít hơn thì yếu tố đoán mò hay may rủi sẽ tăng lên. Nhưng nếu có quá
tạo điều kiện cho học s inh thuộc lòng hơn là hiểu. Học sinh giỏi có thể không
thỏa mãn khi buộc phải chọn đúng hay sai khi câu hỏi viết chưa kĩ càng.
Ví dụ. Nếu đúng ghi Đ, nếu sai ghi S vào ô vào các câu sau:
Nhãn là loại cây thân thảo
Bí đỏ là loại cây thân thảo
Dưa chuột là loại cây thân thảo
Lúa là loại cây thân gỗ (cứng)
Cao su là loại cây thân gỗ (cứng)
1.4. Đặc trƣng của môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
1.4.1. Mục tiêu
1.4.1.1. Kiến thức
Cung cấp kiến thức cơ bản ban đầu cho HS về:
- Cơ quan hô hấp, cơ quan tuần hoàn, cơ quan bài tiết nước tiểu và cơ
quan thần kinh.
14
- Mối quan hệ họ hàng nội, ngoại, hoạt động chủ yếu ở trường, tên cơ
quan hành chính văn hóa, giáo dục, y tế và một số hoạt động thông tin liên
lạc, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại ở tỉnh (thành phố) nơi học sinh ở,
cuộc sống trước kia và hiện nay ở địa phương.
- Sự đa dạng và phong phú của thực vật và động vật, chức năng của rễ,
thân, lá, hoa, quả đối với đời sống của cây.
- Vai trò của Mặt Trời đối với Trái Đất và đời sống của con người, vị trí
và sự chuyển động của Trái Đất trong hệ Mặt Trời, sự chuyển động của Mặt
Trăng xung quanh Trái Đất, hình dạng, đặc điểm bề mặt Trái Đất, ngày đêm,
tháng, năm, các mùa.
1.4.1.2. Kĩ năng
Hình thành và phát triển các kĩ năng:
- Tự chăm sóc sức khỏe của bản thân: Cách phòng tránh một số bệnh
+ Tỉnh hoặc thành phố nơi đang sống; một số cơ sở hành chính, giáo
dục, văn hóa, y tế...; làng quê và đô thị; giữ vệ sinh nơi công cộng; an toàn
giao thông.
- Chủ đề: Tự nhiên (gồm có 31 bài)
Thực vật và động vật: Đặc điểm bên ngoài của cây xanh và một số con
vật (nhận biết đặc điểm chung và riêng của một số cây cối và con vật).
Mặt Trời và Trái Đất:
Mặt Trời: Nguồn sáng và nguồn nhiệt; vai trò của Mặt Trời đối với sự
sống trên Trái Đất; Trái Đất trong hệ mặt trời; Mặt Trăng và Trái Đất.
Trái Đất: Hình dạng, đặc điểm bề mặt và sự chuyển động của Trái
Đất; ngày đêm, năm tháng và các mùa.
Nội dung mỗi chủ đề được tích hợp giáo dục sức khoẻ một cách hợp lí:
Đi từ sức khoẻ cá nhân trong chủ đề con người và sức khoẻ đến sức khoẻ
cộng đồng trong chủ đề xã hội và sức khoẻ liên quan đến môi trường trong
chủ đề tự nhiên.
16
1.4.3. Đặc điểm của môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
- Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 được xây dựng theo quan
điểm tích hợp, quan điểm này còn thể hiện ở các khía cạnh:
+ Môn Tự nhiên và Xã hội xem xét Tự nhiên – Xã hội – Con người
trong một thể thống nhất, có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, trong đó
con người là yếu tố cơ bản.
+ Chương trình tích hợp kiến thức các môn thuộc nhiều lĩnh vực khoa
học khác nhau như: Vật lí, Sinh học, Lịch sử, Sức khỏe, Môi trường, Dân số,
Kĩ năng sống.
+Tùy theo trình độ nhận thức của học sinh ở từng giai đoạn mà chương
trình có cấu trúc cho phù hơp. Cụ thể: Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội
được cấu trúc thành 3 chủ đề lớn: Con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên
sự thuần thục trong kĩ năng soạn thảo câu hỏi. Cũng phải thừa nhận rằng để
đánh giá năng lực tư duy ở mức độ cao thì trắc nghiệm tự luận có nhiều ưu
thế hơn vì việc trả lời câu hỏi TNKQ dù khó đến đâu cũng vẫn phải thực hiện
bằng các phương án cho sẵn. Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống câu hỏi phù
hợp và có chất lượng cao là một điều cực kì quan trọng và rất cần thiết.
1.5. Phần mềm Violet và vai trò của phần mềm trong thiết kế bài tập trắc
nghiệm khách quan
1.5.1. Giới thiệu phần mềm
Violet là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng
được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả. So với
các công cụ khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm
thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác... rất phù hợp với học sinh từ tiểu
học đến THPT.
18