MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ quan trọng vào
bậc nhất là trau dồi ngôn ngữ cho học sinh, trang bị cho học sinh những tri
thức Việt ngữ học và quy tắc sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp.
Chính tả là một trong sáu phân môn của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học.
Đây là phân môn có nhiệm vụ hình thành, rèn luyện và phát triển kĩ năng
viết. Nắm vững chính tả, học sinh mới có thể nói được, viết được, nói hay,
viết hay – góp phần giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt – thứ
của cải vô cùng quý báu của dân tộc.
Là một trong số các môn học ở bậc tiểu học, môn Tiếng Việt đã và
đang thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa theo hướng tăng
cường dạy các kĩ năng lời nói ( đọc, viết, nghe, nói ) trên cơ sở dạy những
hiểu biết cơ bản, hiện đại về tiếng Việt nhằm đổi mới và nâng cao chất
lượng dạy môn tiếng mẹ đẻ trong nhà trường tiểu học.
Dạy chính tả trong trường tiểu học có ý nghĩa lớn trong việc phát triển
trí thông minh, khả năng tư duy (vì phải sử dụng các thao tác như phân tích,
so sánh, đối chiếu, khái quát hóa và trừu tượng hóa để rút ra quy tắc chính
tả) và khả năng ghi nhớ máy móc (các trường hợp chính tả bất quy tắc) cho
các em, góp phần giáo dục ý chí và những đức tính tốt như tính kỉ luật, tính
cẩn thận, cần cù, nhẫn nại, óc thẩm mĩ đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng
yêu quý tiếng mẹ đẻ, cách biểu thị tình cảm tốt đẹp khi giao tiếp.
Theo tờ trình Quốc hội về chủ trương đổi mới chương trình sách giáo
khoa của giáo dục phổ thông số 1004/CP-QHQH ngày 3/11/2000, một trong
năm định hướng đổi mới giáo dục phổ thông là “Chương trình tạo cơ hội và
điều kiện học tập cho mọi trẻ em, bồi dưỡng những học sinh có năng lực đặc
biệt”. Đây là một định hướng phù hợp với xu thế giáo dục trên thế giới và
phù hợp với thực tiễn dạy học. Một số công trình nghiên cứu về sự phát triển
của học sinh trong quá trình giáo dục đã cho thấy: mỗi học sinh là một cá
1
nhân , có nhu cầu và năng lực phát triển, khả năng nhận thức không hoàn
tổ chức học sinh tham gia các hoạt động thực tế tại địa phương nhằm hỗ trợ
cho việc học tập; giúp đỡ học sinh yếu kém vươn lên hoàn thành yêu cầu
học tập hoặc bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn Toán, môn Tiếng Việt,
có năng khiếu về Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục; dạy học các môn học tự chọn
Ngoại ngữ, Tin học, tiếng Dân tộc; tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Đối với những trường ở vùng khó khăn, việc tổ chức dạy học 2
buổi/ngày có thể chỉ nhằm tăng thêm thời lượng học tập, tạo điều kiện thuận
lợi cho học sinh đạt được chuẩn kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu của chương
trình không thêm nội dung dạy học.
Mặc dù đã có nhiều quy định rõ ràng về dạy học 2 buổi/ngày nhưng
trong quá trình thực tế triển khai còn gặp nhiều khó khăn về cách thức thực
hiện, nguồn tài liệu dạy học… Một số giáo viên, thậm chí ở cả cấp lãnh đạo
trường quan niệm giờ học tự chọn là giờ học thêm, làm cho chương trình
quá tải lại càng quá tải hơn, gây áp lực cho học sinh. Các em học hai buổi
trên lớp, buổi tối về còn phải làm bài tập khiến cho việc học đối với các em
thật nặng nề. Mặt khác, nguồn tài liệu dạy học trong giờ học tự chọn hiện
nay chưa có nhiều, nhiều giáo viên vừa dạy vừa phải tìm tài liệu, mất nhiều
thời gian. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên tự lựa chọn tài liệu vào dạy học tự
chọn một cách tùy tiện, nhiều khi không đúng với mục tiêu dạy học đề ra…
Do đó, việc đầu tư để tiếp tục bổ sung các nội dung, các chủ đề tự chọn và tổ
chức biên soạn tài liệu sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn triển khai dạy học
tự chọn giúp học sinh, giáo viên có thêm nguồn tài liệu dạy học phong phú
để lựa chọn là một nhu cầu cấp thiết.
Thực tiễn dạy học chính tả trong giờ học tự chọn hiện nay có nhiều
điểm chưa tốt. Trong các giờ học tự chọn phân môn Chính tả, một số giáo
viên chưa linh hoạt, trong các giờ tự chọn vẫn lặp lại y nguyên các bài tập
trong sách giáo khoa vì thế không gây được hứng thú cho học sinh. Còn một
số giáo viên có quan điểm rằng phân môn chính tả không quan trọng như
3
phân môn Tập đọc, Tập làm văn… nên trong giờ tự chọn giáo viên lại chỉ
giả đã bàn tới vấn đề xây dựng bài tập chính tả cho học sinh nhưng chủ yếu
là để sửa các lỗi chính tả do phương ngữ ở các vùng miền nhất định.
Vấn đề xây dựng bài tập Chính tả cho các lớp đã được các tác giả
nghiên cứu và xây dựng. Có các cuốn như: Tự đánh giá và kiểm tra môn
Tiếng Việt cuối cấp Tiểu học ( PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh ); Tiếng Việt 3
nâng cao ( GS.TS Lê Phương Nga (chủ biên) – TS Trần Thị Minh Phương
– TS. Lê Hữu Tỉnh ); Tiếng Việt 4 nâng cao ( Đặng Thị Lanh (chủ biên) -
Lê Phương Nga- Trần Thị Minh Phương ); Tiếng Việt 5 nâng cao ( Đặng
Thị Lanh (chủ biên) - Nguyễn Thị Lương - Lê Phương Nga - Trần Thị Minh
Phương); Bài tập thực hành Tiếng Việt 2,3,4,5 ( Lê Hữu Tỉnh – Lê Phương
Nga – Trần Mạnh Hưởng)và một số các công trình, cuốn sách của một số
tác giả khác.
Tuy nhiên, các công trình, cuốn sách này chưa đưa ra bài tập chính tả
cho học sinh lớp 2 trong giờ học tự chọn một cách đầy đủ. Các bài tập chính
tả trong các cuốn sách, công trình trên hoặc chỉ theo hình thức tự luận hoặc
trò chơi hoặc trắc nghiệm khách quan chưa có công trình nghiên cứu nào
xây dựng hệ thống bài tập theo cả 3 hình thức trên để đảm bảo các nguyên
tắc của dạy học tự chọn.
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng bài tập chính tả cho học sinh lớp 2 trong giờ học tự chọn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở xây dựng bài tập
chính tả cho học sinh lớp 2.
Tìm hiểu những nội dung dạy học chính tả trong chương trình SGK
Tiếng Việt 2.
Tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của học sinh tiểu học.
Xây dựng bài tập chính tả cho học sinh lớp 2 để dạy trong giờ học,
ngoài giờ chính khóa.
5
Tổ chức thực nghiệm các bài tập chính tả đề xuất nhằm kiểm tra tính
sinh lớp 2 để dạy học trong giờ học tự chọn.
• Chương II: Tổ hợp bài tập chính tả cho học sinh lớp 2 để dạy học
trong giờ học tự chọn.
• Chương III: Thực nghiệm
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
7
NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI TẬP
CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2
TRONG GIỜ HỌC TỰ CHỌN
1. Nhiệm vụ, vai trò của phân môn Chính tả ở tiểu học
Ở bậc tiểu học, môn Tiếng Việt có các phân môn như: Tập đọc,
Luyện từ và câu, Tập viết, Kể chuyện, Chính tả. Phân môn Chính tả có
nhiệm vụ: “Cung cấp cho học sinh các quy tắc viết đúng và rèn luyện để các
em có kĩ năng và thói quen viết đúng chính tả, rèn luyện cho học sinh một số
phẩm chất: tính kỉ luật, tính cẩn thận (vì phải viết thẳng hàng, ngay ngắn,
đẹp đẽ) đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý tiếng Việt, cách biểu
thị tình cảm tốt đẹp trong đó có việc viết đúng chính tả”.
Chất lượng học tập của các phân môn Tiếng Việt có quan hệ chặt chẽ,
chi phối nhau, phân môn này có ảnh hưởng, hỗ trợ cho phân môn kia. Nếu
học tập tốt phân môn Chính tả, học sinh có một công cụ hết sức đắc lực và
hữu ích để ghi chép bài chính xác, nhanh đẹp. Nếu các em học yếu phân
môn Chính tả, các em sẽ gặp nhiều khó khăn, sai sót trong việc ghi chép bài
học, làm bài tập…
2. Các nguyên tắc xây dựng bài tập chính tả cho học sinh lớp 2 trong
giờ học tự chọn
2.1. Bám sát mục tiêu, chương trình chính tả âm vần lớp 2
Việc xây dựng bài tập chính tả cho học sinh lớp 2 để dạy học trong
7 1 Phân biệt ui/uy, tr/ch, iên/iêng 57
2 Phân biệt ui/uy, tr/ch, iên/iêng 61
8 1 Phân biệt ao/au, r/d/gi, uôn/uông 65
2 Phân biệt ao/au, r/d/gi, uôn/uông 69
9 ÔN TẬP GIỮA HỌC KÌ I 70
10 1 Phân biệt c/k, l/n, dấu hỏi/dấu ngã 79
2 Phân biệt c/k, l/n, dấu hỏi/dấu ngã 84
11 1 Phân biệt g/gh, s/x, ươn/ương 88
2 Phân biệt g/gh, s/x, ươn/ương 93
12 1 Phân biệt ng/ngh, tr/ch, at/ac 97
2 Phân biệt iê/yê/ya, r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã 102
13 1 Phân biệt iê/yê, r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã 106
2 Phân biệt iê/yê, r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã 110
9
14 1 Phân biệt l/n, i/iê, ăt/ăc 114
2 Phân biệt l/n, i/iê, ăt/ăc 118
15 1 Phân biệt ai/ay, s/x, ât/âc 120
2 Phân biệt ai/ay, s/x, ât/âc 125
16 1 Phân biệt ui/uy, tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã 131
2 Phân biệt ao/au, tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã 136
17 1 Phân biệt ui/uy, r/d/gi, et/ec 140
2 Phân biệt ao/au, r/d/gi, et/ec 145
18 ÔN TẬP CUỐI HỌC KÌ I 147
19 1 Phân biệt l/n, dấu hỏi/dấu ngã 7
2 Phân biệt l/n, dấu hỏi/dấu ngã 11
20 1 Phân biệt s/x, iêt/iêc 16
2 Phân biệt s/x, iêt/iêc 20
21 1 Phân biệt tr/ch, uôt/uôc 25
2 Phân biệt tr/ch, uôt/uôc 29
22 1 Phân biệt r/d/gi, dấu hỏi/dẫu ngã 33
hiểu rằng chính tả tiếng Việt còn là loại chính tả ngữ nghĩa. Do đó, các bài
tập chính tả đưa các từ vào các trường hợp sử dụng tức là mỗi từ gắn với
một nghĩa xác định giúp học sinh ghi nhớ tốt, nhanh hơn.
Mục đích dạy học chính tả là hình thành cho học sinh năng lực viết
thành thạo, thuần thục chữ viết tiếng Việt theo các chuẩn chính tả, nghĩa là
giúp học sinh hình thành các kĩ xảo chính tả. Hình thành cho học sinh kĩ xảo
chính tả nghĩa là giúp học sinh viết đúng chính tả một cách tự động hóa, không
cần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả, không cần đến sự tham gia của ý
chí. Để đạt được điều này, có thể tiến hành theo hai cách: có ý thức và không
có ý thức. Cách không có ý thức tốn nhiều thời gian, công sức và không thúc
đẩy sự phát triển tư duy chỉ củng cố máy móc ở một mức độ nhất định. Cách
có ý thức là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao. Đối với học sinh tiểu học
cần vận dụng cả hai cách nói trên. Do hoạt động của hệ thông tín hiệu thứ
nhất tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng được phát
triển hơn trí nhớ từ ngữ logic. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những biểu
tượng về sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa,
những lời giải thích dài. Ghi nhớ máy móc của các em thường chiếm ưu thế.
Do đó, cách không có ý thức chủ yếu được vận dụng ở các lớp đầu cấp Tiểu
11
học. Các bài tập chính tả trong khóa luận không đưa ra các quy tắc viết đúng
chính tả mà cho học sinh thực hành luyện tập làm các bài chính tả. Từ đó
hình thành ở các em kĩ năng viết thành thạo, thuần thục chữ viết tiếng Việt
theo chuẩn chính tả, nghĩa là hình thành kĩ xảo chính tả. Khi các em làm bài
tập chính tả một cách tích cực, chủ động thì các em sẽ tự nhận biết được viết
như thế nào là viết đúng và viết khác đi thì sai, từ đó các em ghi nhớ cách
viết đúng sâu sắc hơn, bền vững hơn.
Lệnh bài tập ngắn gọn, rõ ràng, tránh dài dòng, rườm rà dẫn đến gây
rối cho học sinh. Ngữ liệu bài tập phải cụ thể, không nên gây ra những từ
ngữ khó hiểu, quá sức đối với các em. Từ ngữ sử dụng trong bài tập phải rõ
ràng, không nên đưa ra quá nhiều từ Hán Việt hoặc những từ ngữ mà vốn từ
Vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên của thế giới.
Hồ Gươm nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội.
Qua việc làm các bài tập chính tả có các ngữ liệu trên, học sinh vừa
biết được quy tắc viết hoa tên địa lí Việt Nam, biết được Hạ Long là di sản
văn hóa thế giới, thủ đô của nước Việt Nam là Hà Nội và vị trí địa lí của hồ
Gươm.
Qua việc giải câu đố sau, học sinh biết truyền thuyết về hồ Gươm.
Nước xanh, xanh đến lạ lùng
Rùa thiêng ẩn hiện vẫy vùng đâu đây
Mỗi khi ngắm mặt hồ này
Nhớ Người cứu nước với cây gươm thần.
( Là hồ Gươm )
- Các ngữ liệu sau sẽ cung cấp cho học sinh ngoài cách viết đúng
chính tả còn là những kiến thức về đặc điểm của các loài cây.
Thân tròn nhiều đốt
Phơ phất lá dài
Róc hết vỏ ngoài
13
Bé ăn ngọt lịm (Cây mía)
Hay
Cùng họ hàng với táo
Da vàng quả lại dài
Ăn vào liền hết khát
Đoán được đúng mới tài (Quả lê)
- Các ngữ liệu trong các bài tập chính tả trong khoá luận còn tích hợp
cả các kiến thức về kinh nghiệm, quan niệm về các vấn đề như đạo đức,
cách sống…
Ví dụ như
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
kiện cập nhật hóa các kiến thức và kĩ năng cơ bản của môn học, khắc phục
sự chậm trễ trong chỉnh lí sách giáo khoa. Dạy học tự chọn môn Tiếng Việt
phải phối hợp với nội dung dạy học bắt buộc để góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện ở tiểu học. Tuân thủ nguyên tắc này nghĩa là phải
triệt để sử dụng những kiến thức, kĩ năng các em đã có khi học chương trình
cơ bản để dạy học chương trình tự chọn.
Các bài tập chính tả trong khóa luận kích thích được hứng thú và gợi
được nhu cầu học tập của học sinh. Ngoài những bài tập dạng tự luận trong
SGK Tiếng Việt 2, khóa luận còn bổ sung thêm một số dạng bài tập mới tiết
kiệm được thời gian, gây được hứng thú học tập như các các bài tập trắc
nghiệm khách quan bài tập được tổ chức dưới dạng trò chơi… Ngữ liệu của
các bài tập có tần số chính tả cao, từ đó học sinh sẽ không phải làm nhiều
bài tập, giảm áp lực học. Chúng tôi sử dụng nhiều câu đố để làm ngữ liệu
cho các bài tập hoặc qua lời giải câu đố để luyện cho học sinh viết đúng
chính tả.
15
2.7.Tính tự nguyện:
Không bắt buộc học sinh học nhiều áp lực như giờ học chính khóa
mà các bài tập chính tả có thể xây dựng dưới hình thức trò chơi học tập để
kích thích sự hứng thú đối với học sinh.
3. Đặc điểm của hệ thống bài tập chính tả cho học sinh lớp 2 trong giờ
học tự chọn
3.1. Các dạng bài tập chính tả
Theo Nguyễn Minh Thuyết( Hỏi-đáp dạy học Tiếng Việt 2, NXB
Giáo dục, 2008), trong chương trình chính tả âm vần trong SGK Tiếng Việt
lớp 2 có 5 dạng bài tập chủ yếu sau:
Dạng 1: Điền 1 kí hiệu (chữ ghi âm đầu , âm chính hoặc vần, dấu thanh dễ
lẫn) để hoàn chỉnh 1 tiếng.
Ví dụ: Bài 2( tr 16, TV T1)
Điền vào chỗ trống:
thanh dễ lẫn.
Dạng 7: Tìm những tiếng có thể ghép với tiếng có chứa âm đầu, vần hoặc
âm chính, thanh dễ lẫn.
Ví dụ:Bài 2 ( tr 38, T2)
Tìm những tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau:
- riêng, giêng
- dơi, rơi
- dạ, rạ
Dạng 8: Cho 1 đoạn văn, thơ yêu cầu sửa lỗi viết hoa tên riêng viết sai.
Ví dụ: Bài 3 ( tr 89, T2)
Có bạn chép đoạn thơ sau của nhà thơ Tố Hữu nhưng quên viết hoa nhiều
tên riêng. Em hãy giúp bạn sửa lại cho đúng.
Ta đi giữa ban ngày
17
Trên đường cái, ung dung ta bước.
Đường ta rộng thênh thang tám thước
Đường bắc sơn, đình cả, thái nguyên
Đường qua tây bắc, đường lên điện biên
Đường cách mạng, dài theo kháng chiến…
Hệ thống các bài tập chính tả trong khóa luận đã sử dụng cả 8 dạng
trên, nhưng có tác động vào các dạng đó là thay ngữ liệu mới. Ngoài ra,
chúng tôi còn bổ sung thêm được một số dạng bài tập chính tả khác.
Dạng 1: Khoanh vào các chữ cái trước từ ngữ viết sai hoặc từ ngữ viết đúng
Ví dụ:
1. Khoanh vào các chữ cái trước từ ngữ viết sai chính tả:
a. nổi loạn c. thuồng nuồng
b. săn lùng d. nẵng hoa
2. Khoanh tròn chữ cái đặt trước từ ngữ ghi đúng chính tả:
a. ghặt lúa c. gà gô e.gửi thư
b. ghi nhớ d. gé thăm g. ghầy yếu
- Bài tập cho sẵn các từ, yêu cầu học sinh tìm trong các từ đó tiếng
nào chứa âm, vần, thanh dễ lẫn theo yêu cầu của đề bài. Để làm được, học
sinh phải đọc các tiếng trong từ đó xác định xem tiếng nào chứa âm, vần,
thanh dễ lẫn theo yêu cầu của đề bài, sau đó ghi lại tiếng đó. Việc đó mất
nhiều thời gian hơn nhưng sẽ kích thích tính tích cực chủ động của học sinh.
Dạng 4: Cho 2 từ có tiếng chứa âm, vần, dấu thanh dễ lẫn yêu cầu tìm từ
viết đúng, đánh dấu thanh đúng.
Ví dụ: Gạch chân dưới những từ viết đúng chính tả:
a. dãi lụa/ dải lụa c. giả vờ/giã vờ
b. quả vải/quả vãi d. ngọn lửa/ngọn lửa
19
- Đây cũng là một dạng của trắc nghiệm khách quan. Bài tập đưa ra 2
từ chứa tiếng có âm, vần hay thanh dễ lẫn đặt cạnh nhau. Học sinh sẽ so
sánh xem từ nào viết đúng chính tả và gạch chân.
Dạng 5: Cho 2 tiếng dễ lẫn, yêu cầu ghép một trong hai tiếng đó với một
tiếng khác đề tạo thành từ đúng chính tả.
Ví dụ: Ghép các tiếng thích hợp để tạo thành những từ ngữ mới:
vần (1) dân cân
học(2) …. nhân … nặng …
vầng(3) dâng câng
- Dạng bài tập này cho 2 tiếng chứa âm, vần hoặc thanh mà học sinh
khó phân biệt; yêu cầu học sinh ghép một trong hai tiếng đó với một tiếng
thứ ba cho sẵn để tạo thành từ ngữ đúng chính tả.
+ Trường hợp 1 và 2, học sinh sẽ ghép lần lượt tiếng thứ nhất và tiếng
thứ ba với tiếng thứ hai.Tiếng nào ghép với tiếng thứ hai tạo thành từ ngữ có
nghĩa, viết đúng chính tả thì là đúng. Sau đó, học sinh sẽ viết lại từ ngữ ghép
được vào chỗ chấm bên cạnh. Như vậy, dạng bài tập này khó hơn dạng bài
tập ghép đôi ở chỗ học sinh không chỉ đơn thuần ghép các tiếng mà còn phải
ghi lại từ ngữ viết đúng chính tả.
+ Trường hợp 3, học sinh có thể ghép thành từ cân nặng hoặc nặng
2. Tiến hành chơi
- GV chia lớp thành các nhóm đôi, phổ biến luật chơi và cách tính điểm cho
các nhóm.
- Các nhóm nhận các thẻ từ và lưu ý: màu đỏ là đúng và màu xanh là sai.
- GV gắn thẻ từ có ghi từ viết đúng hoặc viết sai chính tả lên bảng. Các
nhóm quan sát và thảo luận thật nhanh.
- Khi GV hô “Bắt đầu ” thì các nhóm giơ thẻ. Đúng thì giơ thẻ màu đỏ, sai
thì giơ thẻ màu xanh.
21
- Nhóm HS sẽ quan sát các đội giơ thẻ và tính điểm cho các đội, ghi số
điểm của các đội lên bảng.( đánh dấu nhóm nào nhanh nhất trong mỗi lượt
chơi )
- Sau 5 lượt chơi, nhóm HS đó sẽ tổng kết lại số điểm và thông báo nhóm
thắng cuộc.( đúng nhiều nhất và nhanh nhất ).
Dạng 7: Giải đố chữ
- Bài tập yêu cầu học sinh tìm được từ (chữ) phù hợp với câu đố.
Ví dụ: Vốn là bạn của mây bông
Bớt sắc sáng giữa tầng không đêm về
(Là những chữ gì?)
Đây là một kiểu bài tập thú vị tích hợp được cả kiến thức về chữ viết
ghi âm và sự hiểu biết về nghĩa của từ. Những cách gọi đầu (phụ âm đầu);
đuôi (vần hoặc âm cuối); nặng, huyền, sắc … tạo ra những cách hiểu đồng
âm thú vị.
Dạng 8: Trong SGK Tiếng Việt 2 chỉ có một bài tập ở dạng chữa lỗi sai tên
riêng. Trong khóa luận, chúng tôi sử dụng dạng bài tập này để tìm và sửa lỗi
sai âm, vần hoặc thanh dễ lẫn cho học sinh.
Ví dụ: Gạch chân dưới những từ viết sai chính tả trong đoạn văn sau:
Chên nương, mỗi người một việc. Người lớn đánh châu ra đồng. Các
cụ già nhặt cỏ, đốt lá. Mấy trú bé tìm trỗ ven suối để bắc bếp thổi cơm.
2.2. Ngữ liệu của các bài tập chính tả
Học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 2 - đầu cấp tiểu học rất
thích câu đố. Câu đố được sử dụng như một ngữ liệu để điền các âm, vần
hoặc thanh dễ lẫn. Ví dụ như các bài tập sau:
23
Điền s hay x vào chỗ trống và giải câu đố sau:
(Tuần 11)
a. Con gì lách chách b. Cái mỏ …inh …inh
Hay bắt tìm …âu Hai chân tí …íu
Cho cây …anh màu Lông vàng mát dịu
Quản đêm khó nhọc? Chiếp chiếp …uốt ngày?
Là con gì? Là con gì?
Hay lời giải câu đố có tiếng chứa âm, vần hoặc thanh dễ lẫn. Ví dụ như:
Giải các câu đố sau( Tuần 12)
a. Con gì mào đỏ b. Bốn chân mà chỉ ở nhà
Lông mượt như tơ Khi nào khách tới kéo ra mời ngồi?
Sáng sớm tinh mơ Là cái ghế
Gọi người thức dậy?
Là con gà trống
Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi đã sử dụng 52 câu đố. Chương
trình lớp 2 có 35 tuần học, mỗi tuần chúng tôi xây dựng khoảng 5-6 bài
chính tả âm vần , như vậy trung bình mỗi tuần sẽ có ít nhất một bài sử dụng
câu đố. Do đó, học sinh sẽ rất thích thú với việc làm bài tập chính tả. Sách
giáo khoa Tiếng Việt 2 cũng sử dụng câu đố nhưng với số lượng ít. Có một
bài là giải câu đố: Bài 3 (trang 26 – T2)
Giải các câu đố sau:
a. Tiếng có âm ch hoặc tr?
Chân gì ở tít tắp xa
Gọi mà chân đấy nhưng mà không chân?
( Là chân gì?)
b. Tiếng có vần uôc hay uôt?
Để mà đi cắt
Để mà đi chặt
Chặt lấy củi cành
Ca dao
2.2.3. Nguồn ngữ liệu
25