Đề tài: “Văn hóa ứng xử của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội”.
LỜI CẢM ƠN
Văn hóa ứng xử của sinh viên đang là một vấn đề rất nóng hổi được cả xã hội
quan tâm bởi nếu thiếu cách ứng xử văn minh, tinh tế thì dù sinh viên có tài giỏi
bao nhiêu cũng không thể thành công được. Để tìm hiểu về vấn đề này nhóm
chúng em đã gặp không ít khó khăn về nguồn tư liệu tham khảo, điều kiện nghiên
cứu không thuận lợi... Tuy nhiên chúng em đã nỗ lực khắc phục khó khăn để hoàn
thành bài tập nhóm của học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học - đề tài “Văn
hóa ứng xử của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội”.
Để có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu, nhóm chúng em đã nỗ lực không ngừng
nghỉ trong việc tiến hành khảo sát, tìm hiểu, tổng hợp tài liệu cũng như kiến thức.
Ngoài ra còn phải kể đến sự hỗ trợ không hề nhỏ của các cơ quan trong trường Đại
học Nội vụ Hà Nội. Đặc biệt là sự chỉ dẫn nhiệt tình của TS. Lê Thị Hiền - Giảng
viên phụ trách bộ môn Phương pháp nghiên cứu khoa học, đồng thời cảm ơn các
thầy, các cô, một số nhân viên trong trường, tập thể lớp QTLN17C và Câu lạc bộ
Máu nhà Nội vụ đã tham gia giúp đỡ để chúng em có thể hoàn thành tốt nhất đề tài
nghiên cứu của mình .
Đề tài “Văn hóa ứng xử của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội” là
công sức của tất cả thành viên trong nhóm chúng em và cũng là công sức của rất
nhiều người. Do đề tài còn khá mới mẻ và thời gian có hạn nên kiến thức chúng em
tổng hợp lại chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Kính mong cô thông cảm và góp ý cho
đề tài nghiên cứu của chúng em hoàn thiện hơn.
Chúng em xin được trân trọng cảm ơn !
LỜI CAM ĐOAN
Nhóm nghiên cứu chúng tôi xin được cam đoan: Đề tài “Văn hóa ứng xử của
sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội” được tiến hành công khai, trung thực,
dựa trên sự cố gắng, nỗ lực của tất cả các thành viên trong nhóm, hoàn toàn không
sao chép hoặc sử dụng kết quả của đề tài nghiên cứu nào tương tự. Nếu phát hiện
có sự sao chép kết quả nghiên cứu của đề tài khác, chúng tôi xin hoàn toàn chịu
+ Về không gian: trường Đại học Nội vụ Hà Nội
+ Về thời gian: bắt đầu từ tháng 11 năm 2018
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài khảo sát, nghiên cứu thực trạng văn hóa ứng xử của sinh viên trường Đại
học Nội vụ Hà Nội. Từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần cải thiện và nâng cao
văn hóa ứng xử cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về văn hóa ứng xử.
+ Tìm hiểu, đánh giá thực trạng văn hóa ứng xử của sinh viên trường Đại học Nội
vụ Hà Nội.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao văn hóa ứng xử cho sinh viên
trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Dựa trên nguồn tài liệu thu thập được từ các bài luận văn, luận án, sách, báo, tạp
chí hay các công trình nghiên cứu có liên quan, nhóm sẽ tiến hành nghiên cứu và
hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về văn hóa ứng xử. Trên cơ sở các công trình
nghiên cứu trước đó, nhóm sẽ tiếp thu, kế thừa những thông tin có liên quan đến
văn hóa ứng xử của sinh viên.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Nhóm tiến hành phát và thu phiếu hỏi đối với 100 sinh viên bất kì của trường Đại
học Nội vụ Hà Nội.
- Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn một số giảng viên, sinh viên và cán bộ, nhân viên trong
trường để hiểu rõ hơn về văn hóa ứng xử của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà
sinh viên trong mọi thời đại. Trong bài viết tác giả cũng nêu một số giải pháp nhằm
nâng cao văn hóa ứng xử cho sinh viên trong nhà trường và ngoài xã hội.
+ Theo Phạm Kim Thoa, “Khảo sát thực trạng văn hóa ứng xử của sinh viên
trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên” đã
trình bày về kết quả khảo sát thực trạng và nguyên nhân dẫn đến những hành vi,
thái độ ứng xử thiếu văn hóa của một bộ phận sinh viên trường Đại học Công nghệ
Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên.
+ Phạm Ngọc Trung (2011) với cuốn sách “Văn hóa học đường” chủ yếu xoay
quanh vấn đề học đường, chỉ ra các yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa học đường,
những mối quan hệ cơ bản như thầy – trò, sinh viên với sinh viên, gia đình sinh
viên với các thầy cô. Cuốn sách khái quát thực trạng văn hóa ứng xử của sinh viên
tuy nhiên còn thiếu cơ sở thực tế, số liệu định lượng để có thể minh chứng các luận
điểm, nghiên cứu và các kết quả định tính.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, còn có rất nhiều các công trình
nghiên cứu tương tự cũng đạt được những thành tựu nhất định. Các công trình đều
chỉ ra được các yếu tố xoay quanh vấn đề văn hóa ứng xử của sinh viên, đưa ra
được hệ thống lý luận về văn hóa ứng xử và ý nghĩa của văn hóa ứng xử nói chung.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
về văn hóa ứng xử của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Vì vậy, trong công
trình nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp được những nội dung có giá
trị thực tiễn trong việc nâng cao văn hóa ứng xử cho sinh viên trường Đại học Nội
vụ Hà Nội.
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Thứ nhất, hệ thống hóa, bổ sung và làm sâu sắc cơ sở lý luận về văn hóa ứng xử.
Thứ hai, trình bày, phân tích và đánh giá thực trạng văn hóa ứng xử của sinh viên
trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Thứ ba, xác định tính cần thiết và đề xuất giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao văn
từng khía cạnh khác nhau mang tính khác biệt rõ rệt: văn hóa xã hội, văn hóa
gia đình, văn hoá ăn, văn hoá mặc, văn hóa sống, văn hóa giao tiếp, ...
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm lại
cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.
Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra trong quá trình lịch sử, vì vậy mà mỗi nét văn hóa lại có vị trí và đặc điểm
riêng. Văn hóa bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển, là chìa khóa của sự
phát triển và tiến bộ xã hội.
1.1.2. Khái niệm “ứng xử”
Là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động
của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ,
hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan
hệ giữa con người với nhau. Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử
chính là những đặc điểm tính cách của mỗi cá nhân.
Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người,
được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với
bản thân, với những người xung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động
hằng ngày.
1.1.3. Khái niệm “Văn hóa ứng xử”
Văn hóa ứng xử là cái đẹp, cái giá trị trong ứng xử, tức là ứng xử có văn hóa. Nó
bao gồm: hệ thống thái độ, khuôn mẫu, khả năng ứng xử của cá nhân hay một cộng
đồng người trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và bản thân, dựa trên những
hình của các bạn. Thay vì chỉ gọi bằng tên riêng không thì sẽ được đính kèm một
từ (cụm từ), tính từ rất thú vị khác như: Nhung lùn, Bình béo, Chiêu già, Linh
núi,... Cách xưng hô này tuy tạo được cảm giác thân mật, gần gũi, nhưng khi sử
dụng cần phải cẩn trọng vì trong một số tình huống nhất định sẽ làm người được
nói đến tự ái, tủi thân, chạnh lòng.
1.2.2. Thái độ ứng xử
Trong văn hóa ứng xử, thái độ ứng xử được thể hiện rất phong phú như sau:
Văn hóa chào hỏi
Người Việt có câu: “Lời chào cao hơn mâm cỗ” nó thể hiện sự tôn trọng, trân
trọng lẫn nhau, cũng như lời chào rất được coi trọng. Chào hỏi thể hiện được bản
chất, ý thức, phong cách của con người và cao hơn nữa đó là thể hiện được nề nếp,
nhân cách, cách giáo dục con cái của mỗi gia đình và thể hiện được thuần phong
mĩ tục của dân tộc Việt Nam. Có thể nói chào hỏi là nét văn hóa ứng xử có tính
nhân văn của các cộng đồng trên thế giới.
Thế hệ trẻ hiện nay đôi khi còn xem nhẹ lời chào, câu hỏi, chỉ giương mắt lên
nhìn,... đối với người họ cho là xa lạ và suy nghĩ không quen biết thì không cần
chào hỏi. Chúng ta đã từng thấy nhiều trường hợp chỉ vì ánh mắt vô tình đầy thách
thức, ngang tàn, khinh thị,... mà dẫn tới xô xát, cãi vã, đánh nhau. Chính vì vậy,
mỗi người nói chung và sinh viên nói riêng cần xem trọng lời chào, có thái độ cư
xử linh hoạt, phù hợp, có văn hóa và có đạo đức đối với các trường hợp khác nhau
trong cuộc sống.
Văn hóa khen ngợi
Khen ngợi, ngợi ca là một hành động quan trọng nhằm biểu dương, đề cao kịp
thể và chính xác hơn.
Văn hóa trật tự, lắng nghe
Giữ trật tự và lắng nghe người khác nói là một nét đẹp trong văn hóa giao tiếp.
Đó là sự thấu hiểu, lắng lại, cảm thông, sẻ chia cho nhau. Nó còn có giá trị cao
trong việc thể hiện văn hóa của bản thân mình.
Văn hóa đúng giờ
Văn hóa đúng giờ được đánh giá cao trong giao tiếp, nó vừa thể hiện tính chất
nghiêm túc, nếp sống kỉ luật vừa thể hiện sự tôn trọng với người khác.
Quan niệm về nói tục, chửi thề
Nói tục chửi thề là hành vi xấu của học sinh, sinh viên hiện nay. Nó làm mất đi
sự trong sáng của tiếng Việt nói chung và trong văn hóa ứng xử lứa tuổi học sinh,
sinh viên nói riêng. Có thể nhận xét đây là hành vi vô văn hóa trong nhà trường.
Văn hóa xử lý tình huống
Cách xử lý tình huống trong giao tiếp ứng xử cần phải nhanh nhạy, thông minh,
khôn khéo, tinh tế, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ nghệ thuật, ngày nay còn
được coi là kỹ năng mềm - bí quyết thành công trong học tập và cuộc sống.
1.3. Vai trò của văn hóa ứng xử trong nhà trường
tưởng, biết ứng xử văn minh, sống có đạo đức. Đồng thời, văn hóa nhà trường còn
nâng cao khả năng thích nghi, ứng xử sao cho tế nhị, khôn khéo và phù hợp nhất
đối với môi trường xã hội. Một con người có văn hóa thì trong con người đó luôn
hội tụ đầy đủ những giá trị đạo đức căn bản, đó là đức tính khiêm tốn, lễ độ,
thương yêu con người, sống có trách nhiệm với bản thân và xã hội,... Do vậy, khi
gặp những tình huống xã hội phát sinh, dù là những tình huống mà sinh viên chưa
từng trải nhưng nhờ vận dụng năng lực văn hóa để điều tiết hành vi một cách hài
hòa, các bạn có thể tự điều chỉnh mình phù hợp với hoàn cảnh, ứng xử hợp lẽ, hợp
với lòng người và cuộc sống xung quanh.
Tiểu kết chương 1:
Bằng việc tham khảo và tổng hợp một số vấn đề lý luận về văn hóa ứng xử,
nhóm nghiên cứu đã bước đầu khái quát và trình bày được các vấn đề có liên quan
như: tìm hiểu một số khái niệm về văn hóa ứng, các biểu hiện và vai trò của văn
hóa ứng xử đối với sinh viên, cung cấp cho chúng ta cái nhìn toàn diện nhất về văn
hóa ứng xử trong nhà trường. Từ đó làm tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá thực
trạng văn hóa ứng xử của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và đề xuất giải
pháp góp phần cải thiện, nâng cao văn hóa ứng xử cho sinh viên của Nhà trường.
Chương 2
THỰC TRẠNG VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
2.1. Khái quát trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là một trong những nơi đào tạo cán bộ, công
chức có uy tín trong hệ thống giáo dục và đào tạo của cả nước. Qua 45 năm hình
thành và phát triển, trải qua bao nhiêu lần đổi tên, thay đổi chức năng Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội vẫn duy trì và tiếp tục phát huy truyền thống giảng dạy, đào tạo
trước đây và mở thêm một số môn đào tạo mới.
Lịch sử hình thành Đại học Nội vụ Hà Nội:
-
một lần nữa thành Trường Trung học Văn thư – Lưu trữ Trung ương I.
Trước nhu cầu về nguồn nhân lực của xã hội, Quyết định số 3225/QĐ
-BGD&ĐT-TCCB được ban hành ngày 15/6/2005 về việc dựa trên cơ sở
Trường Trung học Văn thư Lưu trữ Trung ương I tiến hành thành lập Trường
-
Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I.
Ngày 21/4/2008, Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I được đổi
tên thành Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội theo Quyết định số 2275/QĐBGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và trường trở thành đơn vị
-
sự nghiệp trực thuộc Bộ Nội vụ vào ngày 12/6/2008.
Trải qua thời gian thông qua các gấy tờ, thủ tục thì vào ngày 14/11/2011
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội được thành lập theo Quyết định số
2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Trong 47 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã đào tạo
trên 50.000 người, bồi dưỡng trên 40.000 người, trong đó đào tạo, bồi dưỡng trên
200 người cho nước bạn Lào và Campuchia. Trường đã vinh dự được nhận nhiều
phần thưởng cao quý của Đảng và nhà nước như: Huân chương Tự do hạng Nhất
của Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào năm 1983, Huân chương Lao
động hạng Ba năm 1996, Huân chương Lao động hạng Nhì năm 2001, Huân
chương Lao động hạng Nhất năm 2006 , Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2011,
Huy chương Hữu nghị của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào năm
2007, Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch nước CHDCND Lào năm
2017, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an,
Bộ Nội vụ, thành phố Hà Nội, tỉnh Quảng Nam, Trung ương Đoàn thanh niên
nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, sinh viên đến giảng đường học tập chỉ với mục
đích là lấy bằng cấp. Với quan niệm lệch lạc đó, không ít sinh viên xem giảng viên
chỉ đơn thuần là người “làm thuê”, người “phục vụ”, còn sinh viên là “thượng đế”,
mà đã là “thượng đế” thì muốn làm gì thì làm. Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn
đến hiện tượng một số sinh viên tỏ thái độ thiếu tôn trọng đối với giảng viên, cán
bộ, nhân viên trong quá trình giao tiếp.
Bảng 2.1. Phản ứng của sinh viên khi gặp thầy cô trong trường.
Nội dung
Phản ứng
Có chào
Không
chào
Lý do
Số phiếu
Tỉ lệ
(%)
Vì lễ phép, tôn trọng thầy, cô giáo.
11
11
8
8
22
22
Bảng 2.1 cho thấy đa số sinh viên khi gặp các thầy, các cô sẽ không chào, chiếm
tới 66%. Khi hỏi lý do thì 32% số sinh viên cho rằng có chào các thầy cô cũng
không biết mình là ai nên không phải chào, 22% sinh viên lại chia sẻ rằng đã từng
thường xuyên chào giảng viên khi gặp ở trường, tuy nhiên, một số thầy cô lại
không để ý đến lời chào đó nên dần dần sinh viên không chào nữa. Bên cạnh đó,
8% sinh viên cho rằng trong trường có quá nhiều thầy cô, không cần chào mà đi
luôn cho đỡ tốn thời gian và đặc biệt có 4% số sinh viên lại cảm thấy ngại khi chào
hỏi hay tiếp xúc với các thầy cô. Còn lại 34% sinh viên trả lời rằng sẽ dừng lại
chào khi gặp các thầy giáo, cô giáo. Tuy nhiên chỉ có 11% trong số đó là chào hỏi
vì tôn trọng, lễ phép với thầy cô. Còn lại 15% chỉ chào khi đó là thầy cô dạy mình
và thật đáng buồn hơn khi 8% sinh viên chỉ chào giáo viên cho có lệ.
Từ số liệu đã khảo sát, chúng ta thấy được văn hóa ứng xử của sinh viên trong
trường học ngày càng yếu kém – đây là một thực trạng đáng buồn cần phải nhanh
chóng cải thiện trong môi trường đào tạo. Hầu hết sinh viên “quên” chào giảng
viên, họ triệt để phương châm “học cô nào chào cô đấy”, đơn giản hơn “học giờ
nào chào giờ đấy”. Hoặc nếu có chào cũng xuyên tạc, làm biến tướng các nghi lễ,
thiếu sự tôn trọng với thầy cô, coi thường việc học. Ví dụ như khi gặp thầy cô, họ
vừa đi thậm chí là chạy ù ù qua thầy cô vừa chào “cô ạ”, “thầy ạ” để tiết kiệm từ
ngữ và thời gian rồi cười hô hố rất phản cảm làm cho giáo viên chẳng thể hiểu học
2.2.2. Ứng xử với bạn bè
Từ trước tới nay, tình bạn được coi là một thứ tình cảm thiêng liêng, luôn được
ca ngợi rất nhiều: “Không ai có thể hạnh phúc mà không có bạn bè, hay chắc chắn
về bạn bè mình cho tới khi gặp bất hạnh”. Bạn bè là người ở bên quan tâm, giúp
đỡ, đồng cảm với mình, là người mà mình có thể tin tưởng để chia sẻ những niềm
vui, nỗi buồn trong cuộc sống. Một người bạn tốt sẽ luôn ở cạnh, động viên và
nhắc nhở, giúp đỡ những lúc mình sai... Thế nhưng trong cuộc sống hối hả hiện
nay, để có được những bạn tốt thực sự rất khó, đặc biệt là trong môi trường đại
học. Ngày nay, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, sinh viên ngày càng
trở nên thực dụng hơn, bạn bè chơi với nhau vì lợi ích chứ không còn đơn thuần
như trước. Vì vậy, ngay cả cách giao tiếp, ứng xử giữa sinh viên với nhau trong
thời gian gần đây đã có nhiều sự thay đổi, nhất là trong cách nói chuyện với nhau
nơi công cộng.
Bảng 2.2. Cách xưng hô của sinh viên đối với bạn bè cùng trang lứa.
Cách xưng hô
Tôi / Bác
Cậu / Tớ
Tui / Ông / Bà
Tao / Mày
Gọi tên
Biệt danh
Cách gọi khác
Số phiếu
Tỉ lệ (%)
7
thể nói những cách nói năng này đang làm tiếng Việt của chúng ta trở nên méo mó,
“đáng thương” hơn bao giờ hết. Ngoài phát ngôn tục tĩu, bừa bãi, sinh viên còn hay
có cách nói nửa tây nửa ta khi giao tiếp với nhau, sử dụng tiếng lóng, tiếng bồi một
cách vô tội vạ gây phản cảm, những từ nói tắt, ký hiệu mà người lớn không tài nào
giải mã được. Các bạn có sự “sáng tạo” một cách vô nguyên tắc tạo ra xu hướng
quái dị, kỳ quặc trong sử dụng ngôn ngữ, thậm chí là đi ngược lại với đạo lý truyền
thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thể hiện sự sa sút về nhân cách. Để ca ngợi
cái đẹp thì “đẹp dã man” hoặc “đẹp kinh khủng long”; đi ăn quà hoặc khen một
bạn gái thì bình luận “trông con đó hơi bị ngon”; đi xe máy luồn lách trên phố thì:
“Mày thấy tao xà lách tởm không?”, có khi sử dụng tây-ta lẫn lộn như “thanh kiu
anh”, “so-ri anh, em pho-ghét mất” (xin lỗi anh, em quên mất), cho die luôn
(chết)... Đó là một vài ví dụ trong vô vàn chuyện về sử dụng ngôn ngữ hiện nay
của sinh viên. Kiểu nói như thế đang phá hoại sự trong sáng của tiếng Việt. Có thể
nói chưa bao giờ, tiếng Việt bị suy thoái như ngày nay.
Bên cạnh cách sử dụng ngôn ngữ có phần khá kì cục, văn hoá ứng xử giữa học
trò với nhau ngày nay mang nhiều màu sắc biến tướng. Hiện nay, một bộ phận sinh
viên còn khá nóng tính, chưa có bản lĩnh, chưa biết kiềm chế bản thân khi gặp
những tình huống bất ngờ nên rất ưa dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Vì vậy, số
vụ đánh nhau giữa sinh viên ngày càng tăng, trong đó có rất nhiều vụ liên quan đến
hình sự. Ngày nay, sinh viên đánh nhau không chỉ dùng chân tay hay cặp sách nữa
mà cầm dao, phớ, kiếm và cả súng tự chế hay súng mua chui trên thị trường để “xử
nhau” chỉ vì những lí do rất trẻ con như “nhìn đểu”, không cho chép bài, nói xấu,
ghen tuông hoặc chỉ đơn giản là đánh cho bõ ghét. Tình trạng kết bè, kết phái tạo
thành băng, hội cũng là vấn đề nhức nhối, nó không những làm ảnh hưởng đến môi
trường giáo dục mà còn làm cho xã hội quan tâm lo lắng. Hiện tượng lập băng
nhóm rồi đi cướp, trấn lột, dằn mặt lẫn nhau, thanh toán ân oán cá nhân cũng
không còn quá xa lạ. Đặc biệt, sinh viên đang ngày càng sống thực dụng, thờ ơ, vô
đang đi xuống một cách trầm trọng. Chẳng hạn, khi ăn uống xong, họ sẵn sàng xả
rác ra sân trường mặc dù có thùng rác ngay ở gần đó. Hỏi tại sao không bỏ rác vào
thùng thì họ nói rằng như vậy là tạo công ăn cho lao công rồi thản nhiên bỏ đi mà
không chút mảy may suy nghĩ về hành động của mình. Khi phỏng vấn cô Hà - một
nhân viên ở canteen về ý thức của sinh viên hiện nay thì cô lắc đầu ngao ngán: “Đã
làm ở trường khá lâu nhưng cô thấy ý thức của sinh viên ngày càng tệ. Mang tiếng
là sinh viên đại học nhưng chắc phải học lại ý thức của mấy đứa trẻ cấp 1. Nào là
nói tục chửi bậy, đánh nhau cũng có hoặc đơn giản nhất là thùng rác ngay dưới
chân mà cứ vứt giấy rác ra ngoài, nhắc nhở thì chúng nó lại tỏ thái độ khó chịu
thậm chí là to tiếng lại với mình ngay. Chán lắm”. Bộ phận nhân viên cho mượn
micro lại cười trừ cho biết: “Mang tiếng sinh viên thanh lịch, sinh viên 4.0 mà vào
mượn micro chẳng chào hỏi ai, đến khẩu trang cũng không thèm bỏ ra để nói
chuyện cho tử tế. Thế thì thanh lịch chỗ nào?”. Còn chú Tuấn – nhân viên bảo vệ,
trông giữ xe ở trường thì bức xúc cho biết: “Chẳng biết đến trường học được cái gì
cao xa không nhưng chú thấy mấy chuyện cỏn con, đơn giản chúng nó còn chẳng
làm được. Ví dụ, đường vào gửi xe đã tắc còn cố chen lên, chỉ càng tắc thêm rồi
còn quát tháo nhau ầm ỹ hết cả khu. Mới nhắc nhẹ mấy câu thì chúng nó sửng cổ
lên, chẳng coi mình ra gì cả. Hay khi đỗ xe cũng vậy, bảo để gọn vào mà chúng nó
làm như không nghe rồi thản nhiên bỏ đi. Chú thấy nhà trường cần xem lại ý thức
của sinh viên chứ để như thế này nguy quá”.
Đó chính là thực trạng trong văn hóa ứng xử của sinh viên đối với cán bộ, nhân
viên trong trường. Qua việc quan sát và lắng nghe, chúng ta phải thừa nhận rằng ý
thức của sinh viên ngày càng đi xuống. Những việc nhỏ nhặt, đơn giản mà sinh