Giáo dục giới tính cho trẻ em ở lứa tuổi 6 – 10 trong các gia đình tại thành phố vinh – tỉnh nghệ an (nghiên cứu tại trường hợp phường hà huy tập) - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------

HOÀNG THỊ DIỆU THƢƠNG

GIÁO DụC GIớI TÍNH CHO TRẻ EM
ở LứA TUổI 6-10 TRONG CÁC GIA ĐÌNH
TạI THÀNH PHố VINH- TỉNH NGHệ AN
(Nghiên cứu trƣờng hợp phƣờng Hà Huy Tập)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------

HOÀNG THỊ DIỆU THƢƠNG

GIÁO DụC GIớI TÍNH CHO TRẻ EM
ở LứA TUổI 6-10 TRONG CÁC GIA ĐÌNH
TạI THÀNH PHố VINH- TỉNH NGHệ AN

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60310301

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà

2.1 Nhận thức của cha mẹ về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong các
gia đình ........................................................................................................ 30
2.2 Mục đích giáo dục giới tính cho trẻ em của các bậc cha mẹ hiện nay..........44
2.3 Nội dung giáo dục giới tính cho trẻ em của các bậc cha mẹ hiện nay ..........46


2.4 Phƣơng pháp giáo dục giới tính cho trẻ em của các bậc cha mẹ hiện nay ..54
2.5 Những kết quả chính trong hoạt động giáo dục giới tính trong gia đình ....62
CHƢƠNG 3. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CHO TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ VINH...............69
3.1 Ảnh hƣởng từ các đặc trƣng nhân khẩu xã hội của ngƣời giáo dục ............69
3.2 Ảnh hƣởng của quan điểm cá nhân và tâm lý của ngƣời giáo dục ..............72
3.3 Ảnh hƣởng của truyền thông đại chúng .........................................................76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .........................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................84
PHỤ LỤC .................................................................................................................86


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè và người thân.
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị
Thu Hà, người đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu, cung cấp
các nguồn tài liệu cần thiết để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới UBND phường ban văn hóa hội phụ nữ và
các hộ gia đình phường Hà Huy Tập, TP Vinh tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ, cung cấp tư
liệu và giúp đỡ để tôi thu thập các thông tin cần thiết cho luận văn.
Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng dạy ở khoa xã hội học đã cho
tôi những kiến thức thì báo trên thích nhiều học tập và nghiên cứu trong suốt thời
gian học ở đây.

phát hiện 1.641 vụ xâm hại trẻ em, gồm 1.807, đối tượng 1.627 nạn nhân bị xâm hại
trong đó có 1.248 vụ xâm hại tình dục trẻ em, chiếm 77% tổng số vụ. Trong số vụ
xâm hại trẻ em, tội giao cấu chiếm tỷ lệ cao nhất 677 vụ, hiếp dâm trẻ em 446 vụ,
dâm ô 189 vụ, cưỡng dâm 9 vụ...Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2017, trên cả nước có
805 vụ xâm hại trẻ em. Phần lớn đối tượng phạm tội xâm hại trẻ em là nam giới
(1.756 đối tượng, chiếm tỉ lệ 97,2%), chủ yếu trên 18 tuổi, không có nghề nghiệp ổn
định và đa phần là những người quen.
Nạn nhân bị sát hại chủ yếu do trẻ em gái (1.358 người, chiếm 84%), thậm
chí các cháu bị thiểu năng trí tuệ cũng bị xâm hại tình dục. Phần lớn nạn nhân bị
xâm hại trong độ tuổi từ 13-16 (1.037 người,chiếm 63,4%), còn lại dưới 6 tuổi là
120 người, trong độ tuổi 6-13 tuổi là 479 người. Các vụ xâm hại thường xảy ra ở

1


các khu chung cư, tập thể, một số vùng nông thôn, sông nước, … nơi không có
người trông coi, giám sát thường xuyên.
Còn theo thống kê mới nhất của Bộ LĐ-TB&XH, trong 5 năm (2012-2016)
cả nước phát hiện trên 8.200 vụ xâm hại trẻ em, với gần 10.000 nạn nhân, trong đó
số vụ xâm hại tình dục chiếm tới 5.300 vụ. Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Hồng
Lan cho rằng, con số này chỉ là những vụ việc được báo cáo, còn rất nhiều vụ nạn
nhân bị kẻ xâm hại dọa dẫm hoặc vì lý do nào đó đã không được thống kê.
Theo thống kê cuả Bộ Y Tế cũng thông tin, hàng năm, các cơ quan giám
định khoảng 2.000 vụ có dấu hiệu bị xâm hại tình dục trẻ em. Trong năm 2006 và
quý 1/2017, Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã khám và chăm sóc cho 33 trẻ bị xâm
hại tình dục, trong đó trẻ ít nhất tuổi nhất là 4 tuổi, ngoài ra còn có 29 trẻ dưới 16
tuổi sinh con.
Các chuyên gia y tế đã cảnh báo rằng xâm hại tình dục không chỉ nguy hại
đến sức khỏe mà còn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về tinh thần. Trẻ em dễ bị tự ti,
mặc cảm, suy sụp tinh thần và chịu rất nhiều áp lực khác từ phía gia đình và xã hội.

dục giới tính cho trẻ em. Chúng tôi mong muốn từ việc tìm hiểu những nội dung được đề
cập đến trong các nghiên cứu khác nhau, sẽ tìm ra được những khoảng trống chưa được
đề cập đến để được ngiên cứu sâu hơn trong đề tài của mình.


Các nghiên cứu về vai trò của gia đình trong vấn đề giáo dục

Nghiên cứu về vai trò của gia đình trong việc giáo dục con người đã có nhiều
công trình nghiên cứu, các bài viết, sách, báo và tạp chí dưới góc độ Xã hội học, có
thể kể đến một số nghiên cứu như sau:
Từ năm 1992-1995, đề tài KX 07- 09 “Vai trò của gia đình trong sự hình
thành và phát triển nhân cách của con người Việt Nam”. Đã nghiên cứu những vấn
đề lý luận xã hội hóa con người, về chức năng xã hội hóa gia đình, lịch sử và hiện
đại; Phân tích vai trò gia đình Việt Nam trong việc tổ chức đời sống con người, nuôi
dưỡng, đào tạo lớp trẻ hoàn thiện nhân cách con người trưởng thành; trách nhiệm và
những hạn chế của giáo dục gia đình trong tình hình hiện nay, những điều kiện, biện
pháp, chính sách cần thiết nhằm giúp đỡ gia đình làm tròn chức năng của mình.
Năm 1999, cuốn sách: “Vai trò gia đình trong công cuộc xây dựng nhân
cách con người Việt Nam”. Do giáo sư Lê Thi chủ biên đã chọn lọc những nghiên
cứu ở đề tài trên in trong cuốn sách này.

3


Năm 1993, bài viết về “Vấn đề giáo dục trong gia đình”của Hồng Than và
Ngọc Anh, đề tài tập trung nghiên cứu chức năng giáo dục con cái trong gia đình
của các bậc cha mẹ. những quan điểm nhận thức, nội dung giáo dục và phương pháp
giáo dục của cha mẹ đối với con cài trong gia đình ở nông thôn
Năm 1996, cuốn “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa” của Lê
Ngọc Văn nói đến vai trò quan trọng của gia đình trong việc xã hội hóa con người,

hưởng tới tâm lý trẻ nếu GDGT quá sớm. Bài khảo sát cũng đã cho ta thấy được cha
mẹ cũng đã có nhiều xu hướng nhìn nhận tích cực về vấn đề GTGT cho trẻ, giúp trẻ
nhận thức tốt về vấn đề giới tính. Thà vẽ cho hươu chạy đúng đường còn hơn là để
hươu chạy sai đường.
ThS. Đào Thị Vân Anh thuộc trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Phổ thông cũng
đã có bài viết “Cha mẹ với việc giáo dục giới tính trong gia đình”. Tác giả đã đưa ra
những dẫn chứng cụ thể cần thiết về việc GDGT cho trẻ, những nguyên nhân khách
quan và chủ quan, hậu quả của việc GDGT không đúng cách. Tác giả cũng đã nói rằng:
“Giáo dục tình dục thật ra có mục đích duy nhất là chuẩn bị cho con cái một tâm lý phù
hợp nhất trong cuộc sống yêu đương để rồi có một đời sống tình dục thực sự hài lòng,
thực sự hạnh phúc trong quan hệ vợ chồng sau này.” Việc cha mẹ GDGT hay không
GDGT cho con cái và giáo dục thế nào cho đúng và hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn tới
việc phát triển tâm lý cũng như tình dục của trẻ bị sai lệch, hiểu sai về vấn đề giới tính
thì sẽ rất dễ mắc phải những hậu quả khôn lường. Tác giả cũng đã kết luận rằng cần
giáo dục giới tính cho trẻ tự nhiên, bình thường như các chương trình giáo dục khác và
phải có sự nối kết chặt chẽ hai chiều giữa cha mẹ và con cái. Những phân tích cụ thể
của Ths. Đào Thị Vân Anh đã cho ta thấy tầm quan trọng của cha mẹ về vấn đề giáo
dục giới tính đã viết cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện hơn về việc định hướng và nhìn nhận,
suy nghĩ đúng đắn của kiến thức về giới.
Công trình nghiên cứu: “Vai trò gia đình nông thôn trong việc giáo dục giới
tính cho trẻ em ở độ tuổi thiếu niên”của Đặng Thị Lan Anh vào năm 2003, đề cập
đến những nội dung và phương pháp giáo dục giới tính cho trẻ em ở độ tuổi thiếu
niên trong gia đình nông thôn, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của gia đình
trong việc giáo dục giới tính cho trẻ, đưa ra những giải pháp và khuyến nghị về vấn
đề giáo dục giới tính cho trẻ ở độ tuổi thiếu niên. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu
được tác giả sử dụng là nghiên cứu định lượng.
Năm 2009, Lê An Ni với đề tài “Đặc tính dân tích trong việc giáo dục giới
tình cho trẻ vị thành niên trong gia đình” đã chỉ ra sự nhận thức của cha mẹ và
những nội dung, phương pháp giáo dục giới tình cho trẻ vị thành niên được thực
hiện của gia đình dân tộc thiểu số.

nhân cách, tạo nên một nền tảng vững chắc cho sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh
sản sau này.

6


Bài viết “Giáo dục giới tính trong gia đình” của Nguyễn Thị Vân Anh cho
rằng trong sự phát triển tình dục, môi trường gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng,
làm sao để giáo dục giới tính trong gia đình trở thành một việc làm bình thường, tự
nhiên như các nội dung giáo dục khác và thật sự đạt hiệu quả khi trong giáo dục
giới tính có sự truyền đạt thông tin hai chiều thường xuyên giữa cha mẹ và con cái.
Thông qua những bài viết, công trình nghiên cứu này đã cung cấp cho tôi
một số thông tin để phục vụ cho đề tài như là thực trạng việc giáo dục giới tính hiện
nay, những sai lầm trong quan niệm của những bậc cha mẹ, đồng thời còn giúp
chúng tôi giải thích được một số nguyên nhân dẫn đến việc ngày càng nhiều trẻ
những nhận thức sai lệch về giới tính. Từ đó, giúp đưa ra một số kiến nghị, giải
pháp giúp không chỉ các bậc phụ huynh mà còn cả các nhà chức trách về giáo dục
đưa hoạt động giáo dục giới tính cho trẻ em được hiệu quả hơn.
 Các nghiên cứu về thực trạng sức khỏe sinh sản của trẻ em vị thành niên
Nghiên cứu “Gia đình với việc cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản cho
thanh niên và vị thành niên” của Nguyễn Hữu Minh (2006) đã tổng hợp một số
nghiên cứu gần đây và cho thấy việc giáo dục giới tính trong gia đình, việc cung cấp
thông tin và trang bị kiến thức cho con cái về vấn đề sức khỏe nói chung và sức
khỏe sinh sản là rất cần thiết nhưng còn hạn chế, giáo dục giới tính trong gia đình
phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh gia đình; Điều kiện kinh tế của gia đình là yếu tố
quan trọng giúp gia đình thực hiện được vai trò là nguồn cung cấp thông tin cho
thanh niên và vị thành niên. Phương pháp được tác giả sử dụng chủ yếu là phương
pháp định lượng.
Năm 2008, nghiên cứu” Kiến thức phòng tránh thai của vị thành niên và
thanh niên” của Hà Thị Minh Khương phân tích từ số liệu của cuộc điều tra về tình

giới tính cho trẻ.
Bài viết “Người lớn là rào cản...khi giáo dục giới tính” của tác giả Lê Hiền
đăng trên báo Thanhnien online, bằng việc những số liệu nghiên cứu của Trung tâm
Sáng kiến sức khỏe và dân số tác giả đã chứng minh việc thiếu hụt kiến thức về giới
tính ở độ tuổi vị thành niên là rất lớn, đồng thời cũng chỉ ra những sai lầm trong
quan niệm của cha mẹ và thầy cô trong việc giáo dục giới tính. Theo tác giả việc
giáo dục giới tính trong nhà trường còn mang tính hàn lâm, khô cứng, không thiết
thực, khiến cho nó trở nên nhàm chán không thu hút được sự quan tâm và hứng thú
của học sinh. Vì thế, các em có xu hướng tự tìm hiểu, khám phá, đây chính là
8


nguyên nhân dẫn đến những suy nghĩ và hành vi lệch lạc về giới tính. Bài viết cũng
thể hiện những mong muốn của trẻ trong việc tiếp cận với những thông tin về giới,
họ mong muốn người lớn coi chuyện tình yêu tình dục tuổi vị thành niên một cách
nghiêm túc. Thông qua bài viết tác giả muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
giáo dục về giới tính, mà vai trò của người lớn đối với vấn đề này.
Một bài viết thuộc bản quyền của viện Xã hội học của tác giả Nguyễn Thị Tố
Quyên viết về vấn đề “giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình”. Tác giả đã đề
cập đến nhiều nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em không được giáo dục giới tính từ
cha mẹ, nhà trường do tâm lý ngại ngùng nên họ sẽ im lặng trước các câu hỏi liên
quan tới giới tính mà các em thắc mắc thì các em sẽ tò mò mà tìm đếm các mạng xã
hội, sách báo... để thỏa chí tò mò. Ngoài ra tác giả cũng đã nêu ra mục đích cuối
cùng mà giáo dục giới tính mang lại cho các em đó chính là trang bị những kiến
thức tâm lý đặc điểm của mỗi giới. Tác giả cũng đã có những số liệu cụ thể về tính
cần thiết cũng như mức độ hiểu biết về giới tính của các bậc cha mẹ trong đó thì
phần lớn cha mẹ vẫn ý thức được tầm quan trọng của những cuộc nói chuyện trao
đổi trực tiếp với con cái. Nhưng cũng có một số bộ phận cha mẹ còn chưa ý thức
được tầm quan trọng của GDGT cho thấy họ vẫn còn có những tầm nhìn hạn hẹp,
theo xu hướng truyền thống hơn là hiện đại. Thông điệp mà tác giả gửi đến đó là

dụng những lý thuyết như: lý thuyết xã hội hóa, lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý để
có thể đưa ra một cái nhìn tổng thể về vấn đề giáo dục giới tính cho con cái trong
các gia đình ở Việt Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu đạt được mang một ý nghĩa lý luận quan trọng, khẳng định
tính hợp lý và ý nghĩa của việc vận dụng những lý thuyết quan trọng trong nghiên cứu xã
hội học. Tuy nhiên nghiên cứu này không nhằm mục đích xây dựng và phát triển lý luận
xã hội học cơ bản. Nó chỉ là những đóng góp thêm vào nhằm làm rõ thực trạng giáo dục
giới tính cho con cái trong các gia đình ở Việt Nam hiện nay.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài này mang tính thực tiễn cao khi góp phần thực
hiện được các vấn đề sau:
Một là tìm hiểu sâu về vấn đề giáo dục giới tính cho con cái của các gia đình
Việt Nam hiện nay từ nhận thức đến hoạt động giáo dục giới tính trong thực tiễn
cho con.
Hai là khái quát một vài kết quả chính trong hoạt động của các gia đình có
con từ 6-10 tuổi. Từ đó thấy được những yếu tố ảnh hưởng đến việc GDGT của các
bậc phụ huynh.
10


Ba là nhìn nhận được những khó khăn của các bậc cha mẹ trong quá trình
giáo dục giới tính cho con cái. Từ đó đưa ra được những giải pháp thích hợp để việc
giáo dục giới tính cho con cái ngày càng được phổ biến và có tính hiệu quả.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mô tả thực trạng giáo dục giới tính trong các gia đình tại TP. Vinh, Nghệ An
cũng như phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục giới tính cho
con cái của các bậc phụ huynh, từ đó đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp nâng
cao hiệu quả của hoạt động giáo dục giới tính cho trẻ trong các gia đình.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

trẻ em lứa tuổi từ 6 – 10?
 Thực trạng hoạt động GDGT cho trẻ em ở độ tuổi từ 6 – 10 trong các
gia đình diễn ra như thế nào?
 Có những yếu tố gì ảnh hưởng đến thực trạng GDGT đối với trẻ ở lứa
tuổi từ 6-10 trong các gia đình?
7. Giả thuyết nghiên cứu:
- Các bậc cha mẹ, đa số đều nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục
giới tính cho con cái nhưng thực tiễn hoạt động giáo dục giới tính cho con hàng
ngày còn ở khoảng cách xa. Phần lớn các bậc phụ huynh cho rằng thời gian phù hợp
nhất để cha mẹ bắt đầu thực hiện giáo dục giới tính cho con cái là khi trẻ bước vào
độ tuổi vị thành niên.
- GDGT cho trẻ em từ 6 – 10 tuổi trong các gia đình tại thành phố Vinh, Nghệ
An diễn ra ở hầu khắp các gia đình. Tuy nhiên, ở mỗi gia đình sẽ khác nhau về mục
đích, nội dung, phương pháp giáo dục. Vì vậy, cũng nhận được các kết quả khác
nhau đối với sự nhận biết của trẻ.
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục giới tính cho con cái của các bậc
cha mẹ. Trong đó yếu tố về đặc trưng nhân khẩu xã của các bậc cha mẹ cùng đi đôi
với định kiến tâm lý hay yếu tố ảnh hưởng từ phía truyền thông chính là những yếu
tố chính dẫn đến việc giáo dục giới tính cho con cái chưa hiệu quả.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Để có thể có một sơ sở lý luận vững chắc nhằm nhìn nhận chính xác về vấn
đề giáo dục giới tính cho con cái trong các gia đình Việt Nam hiện nay, việc tổng
12


hợp tài liệu là một phương pháp cần thiết. Những tư liệu về nội dung giáo dục giới
tính, các đề tài nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính cho con cái trong các gia đình,
các đề tài về thực trạng phạm tội của trẻ tuổi vị thành niên và các thông tin số liệu từ
các trang báo sẽ góp phần cung cấp cho nghiên cứu những thông tin đa chiều hơn.

+ Nam:

17,9% : 32 ( Người)

+ Nữ:

82,1% : 147 (Người)

Tuổi
+ Tuổi từ ( 30 - 40):

58,6 %

: 105 (Người)

+ Tuổi từ ( 41 - 50):

38 %

: 68 (Người)

+ Trên 50 tuổi:

3,4 %

: 6 (Người)

+ Tiểu học:

0,5%


Trình độ học vấn:

Nghề nghiệp: + Công nhân viên chức:

-

: 3 (Người)

+ Kinh doanh:

36,3% : 65 (Người)

+ Khác:

25,7% :46 (Người)

Phương pháp xử lý dữ liệu:

Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16
8.4 Phương pháp thảo luận nhóm:
Đây là phương pháp trò chuyện , thảo luận được tổ chức trên một nhóm
đối tượng có chung đặc điểm nhất định. Thông qua các câu hỏi được đưa ra để
các đối tượng trong nhóm trả lời, đưa ra những ý kiến, trao đổi quan điểm cá
nhân. Qua các cuộc thảo luận nhóm, tác giả sẽ quan sát và phân tích dựa trên
những thông tin thu được.
Ở nghiên cứu này, tác giả tiến hành tổ chức hai cuộc thảo luận nhóm ở hai
khu vực khối khác nhau trong phường Hà Huy Tập mà các bé ở độ tuổi từ 6 – 10
chính là những đối tượng trực tiếp tham gia. Mỗi nhóm thảo luận sẽ bao gồm cả bé
trai và bé gái. Số lượng của mỗi nhóm là 6 – 8 em.

GDGT

Đặc trưng
nhân khẩu
xã hội
Quan điểm
cá nhân và
tâm lí các
bậc PH

Những kết quả
chính trong hoạt
động GDGT


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1

Khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm giáo dục
Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo
đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục
thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự
học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ,
cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục. Giáo dục thường
được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục
trung học, và giáo dục đại học.
“Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát

bởi gen”. Luật bình đẳng giới (năm 2006) định nghĩa “giới tính chỉ các đặc điểm
sinh học của nam, nữ”.
Còn các nhà nhân học xã hội sử dụng thuật ngữ giới tính để chỉ những đặc
điểm nhận dạng bên ngoài phân biệt một người nam và một người nữ, cần thiết cho
sự tái sản xuất sinh học của con người.


Khái niệm giáo dục giới tính
Vấn đề giáo dục giới tính là một vấn đề còn hết sức mới mẻ, vì vậy khái

niệm về giáo dục giới tính còn nhiều quan điểm khác nhau.
Theo A.V. Petrovxki, giáo dục giới tính là hệ thống các biện pháp y khoa và
sư phạm nhằm giáo dục cho thiếu nhi, thiếu niên và thanh niên có thái độ đúng đắn
đối với các vấn đề giới tính.
Giáo sư Trần Trọng Thủy và giáo sư Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáo dục
giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lý, đạo đức con người
“là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín
của đời sống con người, hình thành những quan điểm đạo đức lành mạnh giữa em
trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạo đức”,
sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em”.
Ngoài ra, giáo dục giới tính còn được định nghĩa:
Giáo dục giới tính nam hình thành cho trẻ những kiến thức khoa học tối thiểu
về giải phẫu cơ thể, cơ chế thụ thai, biện pháp tránh thai…
Giáo dục giới tính là một bộ phận của giáo dục nhân cách nằm cung cấp cho
đối tượng những kiến thức về tâm sinh lý lứa tuổi; kiến thức về sự phát triển cơ thể,
về cấu tạo cơ quan sinh sản, kiến thức về tình bạn, tình yêu, tình dục; kiến thức về
17


cơ chế mang thai, biện pháp tránh thai; kiến thức về bệnh lây nhiễm qua đường tình



xúc người lạ, người quen, người thân của trẻ. Tuy nhiên, trong nhóm nội dungtác
giả đưa vào khảo sát như trên thì có những nội dung không phù hợp với lứa tuổi từ
6 – 10 như kiến thức tìm hiểu về người đồng tính, lưỡng tính; an toàn tình dục và
các biện pháp phòng tránh thai nhưng nghiên cứu vẫn đưa vào nhằm đánh giá đúng
hơn về nhận thức cũng như hoạt động GDGT của các bậc phụ huynh đối với con cái
của họ.
Giáo dục giới tính trong các gia đình
“Giáo dục giới tính trong gia đình là xây dựng cho thế hệ trẻ thái độ đúng
đắn đối với vấn đề giới tính. Mục đích của giáo dục giới tính trong gicó nền tảng
vêa đình nhằm hình thành cho trẻ kiến thức tối thiểu về giải phẫu cơ thể, cơ chế thụ
thai, biện pháp tránh thai”. Trong xã hội xưa, rất ít khi người ta đề cập đến vấn đề
giới tính trong gia đình. Nhưng trong xã hội ngày nay, xã hội hiện tại chỉ dưới cơ
bản mọi người đều nhận thấy giáo dục giới tính là một nội dung giáo dục quan trọng
cần được chú trọng. Tuy nhiên, giáo dục giới tính đang còn là vấn đề nhiều vướng
mắc trong việc đánh giá một cách khoa học xem: gia đình, nhà trường hay xã hộichủ thể nào sẽ đóng vai trò chính trong giáo dục giới tính cho trẻ, và thời gian giáo
dục, nội dung, phương pháp giáo dục giới tính như thế nào để đạt được hiệu quả tối
ưu. Một số yêu cầu đặt ra đối với giáo dục giới tính trong gia đình, đó là: thứ nhất là
kết hợp giáo dục giới tính với giáo dục ý thức công dân, thứ hai là: người giáo dục
phải có một khoảng cách tuổi nhất định đối với đối tượng giáo dục, phải có uy tín
và chiếm được lòng tin với đối tượng, thứ ba là: tùy theo lứa tuổi học mà có những
nội dung giới tính giáo dục sao cho phù hợp.
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng giáo dục giới
tính cho con cái trong gia đình được thể hiện ở các khía cạnh: nhận thức của cha mẹ
về tầm quan trọng của giáo dục giới tính mục đích, nội dung giới tính và phương
pháp giáo dục giới tính cho con cái. Đồng thời chỉ rõ được những yếu tố tác động
đến việc giáo dục giới tính của các bậc phụ huynh.
Như vậy, GDGT cho trẻ em trong nghiên cứu này được xem xét với nhóm
giáo dục chính là các bậc cha mẹ và nhóm đối tượng nhận hoạt động GDGT là trẻ

Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa trẻ em là "mọi con
người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em. (Theo Wikipedia
Tiếng Việt)

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status