Tp Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 6 năm 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ ÁN PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON
CHO TRẺ EM NĂM TUỔI
GIAI ĐOẠN 2010-2015
PHẦN MỞ ĐẦU
Giáo dục mầm non (GDMN) là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo
dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm
thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam. Trẻ được tiếp cận với GDMN càng sớm,
càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển của các giai đoạn tiếp theo.
Chính những kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua Chương trình GDMN sẽ là
nền tảng cho việc học tập sau này.
Những công trình nghiên cứu khoa học về sinh lý, tâm lý học xã hội
đều khẳng định sự phát triển của trẻ từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn phát triển có
tính chất quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ
trong tương lai.
Đến 5 tuổi, trẻ em bắt đầu có nhu cầu khám phá, tìm hiểu tiếp thu kiến
thức phổ thông với hoạt động chủ đạo là học tập. Đó là hoạt động hoàn toàn
mới mẻ đối với trẻ, ít giống với hoạt động vui chơi. Điều đó đòi hỏi trẻ em
năm tuổi phải được chuẩn bị một cách đầy đủ về tâm thế để thích nghi với
một giai đoạn mới.
Các nghiên cứu định lượng ở Mỹ và Liên minh Châu Âu cho rằng
việc đầu tư cho giáo dục mẫu giáo vừa có hiệu quả cao nhất (tỷ lệ thu hồi
cao nhất so với các cấp học khác), vừa giải quyết tốt hơn vấn đề công bằng
xã hội. Vì vậy, hiện nay ở phần lớn các nước Châu Âu, giai đoạn giáo dục
bắt buộc đã kéo dài thêm một năm, đó là năm mẫu giáo trước khi vào tiểu
học.
Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX đều nhấn
mạnh nhiệm vụ “chăm lo phát triển giáo dục mầm non”. Thủ tướng Chính
trí tuệ sẵn sàng vào lớp 1
Phần I : KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GDMN
A. Những kết quả đạt được
1. Phát triển mạng lưới trường lớp và quy mô
1.1. Mạng lưới trường lớp mầm non được củng cố, mở rộng và phân
bố đến hầu hết các địa bàn dân cư, các vùng miền trong cả nước, đáp ứng
phần lớn nhu cầu về chăm sóc, giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non.
Năm học 2008-2009 cả nước đã có 12.336 trường mầm non, tăng 297
trường so với năm học trước. Trong đó có 6.866 trường công lập, chiếm tỷ lệ
55,5%; 5.500 trường ngoài công lập chiếm tỷ lệ 44,5% (gồm 4.140 trường
bán công, 500 trường dân lập và 850 trường tư thục).
1.2. Quy mô GDMN ổn định và phát triển, số trẻ đến nhà trẻ ổn định,
trẻ mẫu giáo ra lớp tăng; đặc biệt trẻ em năm tuổi ra lớp tăng nhanh. Năm
học 2008-2009, tổng số trẻ đến trường, lớp là 3.628.114 cháu, tăng 201.534
trẻ so với năm học trước, trong đó số trẻ đến nhà trẻ và trường mầm non đạt
20%, trẻ mẫu giáo đạt 79%, riêng trẻ em năm tuổi đã từng ra lớp là
1.319.000 cháu, đạt 98,6% số trẻ em trong độ tuổi, bao gồm cả số cháu chỉ
học 36 buổi trong hè và lớp ghép dự thính với tiểu học, ước tính khoảng
6,9%.
Các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, số trẻ đến các trường mầm non luôn ở
mức cao: trẻ độ tuổi nhà trẻ đến nhóm lớp đạt từ 40,9% - 64,6% , tỷ lệ trẻ
đến lớp mẫu giáo đạt từ 93-98%, trẻ em năm tuổi ra lớp xấp xỉ 100%. Các
tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long huy động 5,7% trẻ độ tuổi nhà trẻ, 59%
trẻ độ tuổi mẫu giáo và từ 93-95% trẻ em năm tuổi ra lớp. Các tỉnh vùng núi
và Trung du phía Bắc, Bắc Trung Bộ và vùng khác đều có nhiều nỗ lực đưa
trẻ đến trường, đáp ứng tốt hơn nhu cầu gửi trẻ của nhân dân.
2. Chất lượng chăm sóc GDMN
GDMN đã đẩy mạnh việc triển khai đổi mới hình thức tổ chức chăm
sóc, giáo dục trẻ và thực hiện các chuyên đề giáo dục lễ giáo, âm nhạc, tạo
ở mẫu giáo.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ
và quản lý của các trường mầm non được đẩy mạnh. Hiện tại, đã có 9.070
trường mầm non ứng dụng công nghệ thông tin với nhiều phần mềm sáng
tạo vào công tác tổ chức hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ, 5.700 trường
được kết nối Internet, chiếm 46,5% tổng số trường tạo điều kiện cho giáo
viên, cán bộ quản lý cập nhật kiến thức mới qua mạng.
Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong các cơ sở GDMN không
ngừng được cải thiện. Tû lệ trẻ suy dinh dưỡng trong các trường mầm non
toàn quốc bình quân hàng năm giảm xuống 2,1%. Phần lớn các cháu mẫu
giáo 5 tuổi học tại các trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, trường trọng
điểm và những nơi có điều kiện đều được chuẩn bị các kỹ năng, trẻ tự tin,
hứng thú khám phá, nhanh chóng thích nghi với môi trường học tập ở tiểu
học.
3. Phát triển đội ngũ giáo viên
Công tác xây dựng, nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ giáo viên
được đẩy mạnh, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ.
Thực hiện Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,
các tỉnh, thành phố đã đẩy mạnh công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, tập trung nguồn lực mở rộng nhiều hình
thức đào tạo mới, liên kết với các trường sư phạm đào tạo theo địa chỉ để
chuẩn hoá, nâng chuẩn; tổ chức bồi dưỡng về đổi mới phương pháp, cập
nhật kiến thức cho giáo viên phù hợp với điều kiện của địa phương. Một số
tỉnh, thành phố có điều kiện đã hỗ trợ và tổ chức tham quan học tập trong và
ngoài nước cho cán bộ và giáo viên.
Đến nay đã có trên 90% giáo viên mầm non có trình độ đạt chuẩn
trung cấp sư phạm mầm non trở lên, trong đó 28% trên chuẩn và có khoảng
60% đạt chuẩn nghề nghiệp theo quy định.
Hầu hết giáo viên mầm non có phẩm chất đạo đức tốt, trách nhiệm,
tận tụy, tâm huyết, yêu nghề, yêu trẻ, sáng tạo trong công tác quản lý và
nước, các tỉnh Bắc bộ có tỷ lệ các trường mầm non đạt chuẩn quốc gia cao
nhất, bình quân chiếm 28% tổng số cơ sở GDMN của vùng, một số tỉnh đạt
hoặc gần đạt tỷ lệ quy định tại Quyết định số 149/2006/TTg cho năm 2010
là Bắc Ninh 50% số cơ sở GDMN, Vĩnh Phúc 46,5%; tiếp theo là các tỉnh
Bắc Trung bộ có tỷ lệ bình quân toàn vùng là 20%, trong đó một số tỉnh đạt
tương đối cao là Hà Tĩnh 30,3%, Nghệ An 23,6%.
Công tác xã hội hóa hoạt động GDMN được đẩy mạnh. Nhiều tỉnh,
thành phố đã nghiên cứu chuyển đổi loại hình trường mầm non phù hợp với
điều kiện của địa phương: TP. Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội đã chuyển
nhiều trường mầm non bán công trên địa bàn thành phố sang công lập, cho
phép các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư phát triển GDMN. Các
tỉnh, thành phố như: Đà Nẵng, Quảng Ninh, Lào Cai, , đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tư nhân đầu tư xây dựng các trường mầm non tư thục. Đến
cuối năm học 2008-2009 đã có 5.999 trường mầm non ngoài công lập, trong
tổng số 12.190 trường mầm non cả nước (chiếm 49,2%).
Nhân dân đóng góp xấp xỉ 50% chi phí hoạt động tại các trường mầm
non bán công, dân lập và xây dựng các trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.
Năm 2008 đã huy động đóng góp từ nguồn ngoài ngân sách hơn 600 tỷ cho
GDMN, chiếm gần 1/3 kinh phí xây dựng mới, cải tạo sửa chữa và trang bị
cho trường, lớp mầm non.
Phong trào làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo phát triển sâu rộng trong các cơ sở
GDMN, lôi cuốn sự tham gia của nhân dân, các đoàn thể góp sức cùng đội ngũ giáo viên
đã bổ sung trang bị thiết bị, đồ chơi ngày càng phong phú phục vụ cho hoạt động dạy và
học.
B. Một số hạn chế, yếu kém
1. Mạng lưới trường lớp, quy mô trẻ đến trường
- Mạng lưới trường, lớp, mầm non chưa đủ để huy động trẻ ra lớp đồng
đều giữa các vùng, miền, cơ hội đến trường của trẻ em miền núi vùng sâu,
vùng xa còn bị hạn chế. Năm học 2008-2009, vẫn còn khoảng 15% số xã chỉ
mới có 1-2 lớp mẫu giáo gắn với trường tiểu học hoặc lớp mẫu giáo độc lập
thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, vùng nông thôn với thành thị và những nơi
thuận lợi về kinh tế - xã hội.
Chương trình chăm sóc GDMN mới đã được Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
ký ban hành tại thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009,
nhằm đổi mới toàn diện nội dung, phương pháp chăm sóc GDMN. Tuy
nhiên, các điều kiện để triển khai đại trà (như đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị
đồ chơi đồng bộ) đặc biệt đối với nông thôn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng
xa còn gặp rất nhiều khó khăn.
Chương trình chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em miền núi, vùng cao, vùng
dân tộc chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh để ban hành chính thức nhằm đáp
ứng yêu cầu tăng cường tiếng Việt của trẻ em tại vùng này.
3. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý GDMN còn thiếu về số lượng,
yếu về chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN hiện nay.
Năm học 2008-2009, cả nước có 183.433 giáo viên, trong đó có
15.461 giáo viên chưa đạt chuẩn () chiếm tỷ lệ gần 10%. Tuy tỷ lệ giáo viên
đạt chuẩn đào tạo khá cao, nhưng phần lớn giáo viên được đào tạo chắp vá,
qua nhiều hệ, nhiều loại hình đào tạo, nên năng lực thực tế chưa tương thích
với trình độ đào tạo. Giáo viên dạy ở các vùng dân tộc miền núi có 11.000
người nhưng đa số chưa biết tiếng dân tộc, trong khi số giáo viên người dân
tộc thiểu số chiếm tỷ lệ không đáng kể (5,1%).
Mặt khác, do đời sống khó khăn, nhiều giáo viên bỏ nghề, làm cho đội
ngũ giáo viên mầm non không ổn định và thường xuyên thiếu. Cuối năm học
2008-2009 còn thiếu là 24.960 giáo viên mầm non, trong đó chủ yếu là vùng
sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo.
Đội ngũ giáo viên mầm non hiện tại, phần lớn thiếu cập nhật thông
tin, chậm đổi mới phương pháp, khả năng đáp ứng yêu cầu của chương trình
GDMN mới rất hạn chế.
Chế độ chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý GDMN còn
nhiều bất hợp lý, chưa tạo ra được động lực để giáo viên tự rèn luyện về
hơn so với mức bình quân các nước phát triển - OECD (nhà nước chi trả
80%, gia đình trả 20%) và nhóm các nước mới phát triển (nhà nước trả
65,8%, gia đình chi trả 34,2%) ().
Tỷ lệ phòng học kiên cố của GDMN còn thấp (chỉ đạt 37%). Trong số
28.500 phòng học của lớp mầm non 5 tuổi hiện tại chỉ có 13.960 phòng học
được xây kiên cố. Số còn lại có 2.632 phòng học tạm, 789 phòng tranh tre
nứa lá, 5.761 phòng học nhờ nhà dân và đình chùa. Việc phát triển giáo dục
mầm non 5 tuổi trong những năm tới, trên cơ sở số phòng học đã có, cần tiếp
tục bổ sung xây dựng các phòng mới cho nhu cầu tăng thêm, đồng thời xây
dựng các phòng học kiên cố thay thế phòng tranh tre, nứa, lá, phòng học tạm
và phòng học mượn hiện nay, mới có thể đáp ứng nhu cầu đưa trẻ em mầm
non 5 tuổi đến trường trong các năm 2012 - 2015.
Sau 7 năm thực hiện Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg và 3 năm thực
hiện Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, vẫn có tới
40 tỉnh, thành phố, tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia dưới 10%.
Phần lớn các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc, tỷ lệ trường mầm non
đạt chuẩn rất thấp, có 7 tỉnh dưới 2% hoặc xấp xỉ 2% trong tổng số trường
mầm non hiện có ().
C. Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém
1. Nhận thức chưa đầy đủ của chính quyền các cấp, của các bậc cha
mẹ, của xã hội về vai trò, vị trí của GDMN, đặc biệt là mầm non năm tuổi,
chưa thấy hết ý nghĩa của việc liên thông, đồng bộ phát huy hiệu quả và
công bằng của GDMN với Giáo dục phổ thông trong giáo dục suốt đời nói
chung, dẫn đến chưa quan tâm đến nguyện vọng và lợi ích của trẻ em. Chưa
có chính sách ưu tiên đầu tư các nguồn lực để phát triển GDMN nói chung
và GDMN cho trẻ em năm tuổi nói riêng.
2. Công tác quản lý, chỉ đạo phát triển GDMN nói chung và phát triển
GDMN cho trẻ em năm tuổi nói riêng trong nhiều năm qua chưa đổi mới và
chưa theo kịp yêu cầu.
3. Đội ngũ giáo viên vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về năng lực
2.1. Mục tiêu chung
Bảo đảm hầu hết trẻ em năm tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để
thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị
tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi
học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp đảm bảo đến năm 2015, có
95% số trẻ em năm tuổi được học 2 buổi/ngày; 70% số trẻ 3-4 tuổi đến lớp
mẫu giáo và 25% số trẻ đến nhà trẻ.
- Nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục đối với các lớp mầm non
năm tuổi, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, phấn đấu đến năm 2015 có 100%
trẻ tại các cơ sở GDMN được học Chương trình GDMN mới, chuẩn bị tốt
tâm thế cho trẻ vào học lớp 1.
- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm
non, bảo đảm 100% giáo viên dạy trẻ em năm tuổi đạt chuẩn trình độ đào
tạo vào năm 2010, phấn đấu đến 2015 có 50% giáo viên đạt trình độ từ cao
đẳng sư phạm mầm non trở lên, 80% giáo viên đạt chuẩn nghề nghiệp mức
độ khá.
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cho
các lớp mầm non năm tuổi ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng trường
mầm non đạt chuẩn quốc gia tại các huyện nghèo, làm mô hình mẫu và là
nơi tập huấn, trao đổi kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ GDMN.
- Đưa số tỉnh đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi từ 55%
năm 2010 lên 85% năm 2012 và 100% năm 2015.
3. Điều kiện, tiêu chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi
3.1. Điều kiện phổ cập
- Có đủ phòng học theo hướng kiên cố, đạt chuẩn;
- Trường, lớp có bộ thiết bị tối thiểu để thực hiện Chương trình
GDMN mới; ở vùng thuận lợi có thêm các bộ đồ chơi, phần mềm trò chơi
ứng dụng công nghệ thông tin, làm quen với vi tính để học tập;
sóc trẻ em, là quyền lợi và nghĩa vụ của cộng đồng, để nhận được sự hưởng
ứng, giúp đỡ từ phụ huynh, nhân dân và các ngành, các cấp, các tổ chức kinh
tế- xã hội.
Thực hiện lồng ghép các hình thức và phương tiện truyền thông khác
nhau như: xuất bản phẩm, băng hình, thông qua báo, đài Trung ương và địa
phương, các hội nghị, hội thảo để phổ biến các nội dung của đề án Phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, tạo điều kiện cho các tổ chức, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp, các bậc cha mẹ và toàn xã hội tham gia phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi.
2. Tăng cường huy động trẻ em năm tuổi đến lớp
Hàng năm, huy động hầu hết trẻ em năm tuổi đến lớp mẫu giáo để
thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ ngày, duy trì và giữ vững số trẻ dưới
năm tuổi đến các cơ sở GDMN dưới nhiều hình thức. Đến năm 2015, quy
mô trẻ mầm non năm tuổi đến lớp của cả nước là 1.378.707. Trong đó, công
lập là 1.097.766 chiếm tỷ lệ 79,6%; ngoài công lập là 280.941 chiếm 20,4%
(Phụ lục- Biểu 1). Bảo đảm 70% số trẻ 3 đến 4 tuổi đến lớp mẫu giáo và
25% số trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ;
- Đưa chỉ tiêu Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi vào
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương hàng năm,
để chỉ đạo thực hiện. Hàng năm đưa kết quả việc thực hiện phổ cập giáo dục
mầm non cho trẻ em năm tuổi vào tiêu chuẩn bình xét, đánh giá các tổ chức
cơ sở Đảng, chính quyền, đoàn thể, bình xét gia đình văn hóa và đơn vị văn
hóa. Cấp uỷ, chính quyền địa phương, giao trách nhiệm cho các tổ chức,
đoàn thể trên địa bàn phối hợp vận động các gia đình đưa trẻ em năm tuổi
đến trường, lớp học 2 buổi/ ngày.
- Hỗ trợ trẻ năm tuổi ở các cơ sở giáo dục mầm non có cha mẹ thường
trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn; mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị
tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế; cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo
quy định của nhà nước 120 nghìn đồng/tháng (một năm học 9 tháng) để duy
non 5 tuổi người dân tộc thiểu số (Phụ lục- biểu 3, năm 2015).
- Ban hành và hướng dẫn sử dụng bộ Chuẩn phát triển trẻ em năm
tuổi.
4. Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý GDMN
4.1 Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non đủ về số lượng, nâng
cao chất lượng đáp ứng yêu cầu Phổ cập và thực tiễn đổi mới GDMN
Đến năm 2015, đảm bảo đủ giáo viên dạy lớp mầm non năm tuổi theo
định mức quy định là 2 giáo viên/lớp (bình quân 1 lớp 35 trẻ) với tổng số
giáo viên là 78.780 người, trong đó giáo viên ngoài công lập là 16.050
chiếm khoảng 20%; đội ngũ cán bộ quản lý là 9.450 người, trong đó công
lập 7.530 người chiếm 83%. (PL- Biểu 2-Dự báo giáo viên và CBQL giai
đoạn 2009-2015 toàn quốc).
- Từ 2010-2015 đào tạo nâng chuẩn và đào tạo mới 22.400 giáo viên,
trong đó đào tạo để đạt chuẩn và trên chuẩn cho 11.300 giáo viên, đào tạo để
tuyển mới 11.100 giáo viên để bổ sung dạy lớp mầm non năm tuổi.
Tăng tỷ lệ giáo viên người dân tộc, cử tuyển khoảng 2.000 giáo viên
cho các vùng khó khăn với nguồn tuyển tại các trường phổ thông dân tộc nội
trú, học sinh đã tốt nghiệp THPT tại các thôn, bản.
- Xây dựng và mở rộng mô hình dạy tiếng dân tộc cho giáo viên công
tác tại các vùng có đồng bào dân tộc, có học phần dạy tiếng dân tộc cho giáo
sinh cử tuyển trong các trường sư phạm.
- Tăng cường công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên và cán
bộ quản lý, cập nhật kiến thức và kỹ năng cho giáo viên để thực hiện chương
trình GDMN mới. Chú trọng bồi dưỡng nâng cao chất lượng của giáo viên
người dân tộc.
4.2. Xây dựng chính sách hợp lý và bảo đảm nguồn lực thực hiện
chính sách cho đội ngũ giáo viên và bộ quản lý
- Nhà nước hỗ trợ ngân sách để thực hiện trả lương cho giáo viên và
cán bộ quản lý ở các các cơ sở GDMN dân lập theo thang bảng lương và
giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo và 24 huyện miền
núi của 6 tỉnh giáp Tây Nguyên: Mỗi huyện có 1 trường mầm non đạt chuẩn
quốc gia theo mức độ I, làm mô hình và là nơi tập huấn, trao đổi kinh
nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ cho GDMN miền núi khó khăn.
5.2. Đảm bảo đủ thiết bị và đồ chơi để thực hiện Chương trình
GDMN mới, nâng cao chất lượng GDMN cho trẻ em năm tuổi
Xây dựng và cung cấp 1 lần khoảng 39.400 bộ thiết bị tối thiểu cho
các lớp mầm non năm tuổi để thực hiện Chương trình GDMN mới và bộ nội
thất dùng chung cho các lớp học, cung cấp đủ số thiết bị cho các nhóm/ lớp
dưới năm tuổi có đủ điều kiện thực hiện Chương trình GDMN mới.
Cung cấp khoảng 8.800 bộ thiết bị phần mềm trò chơi làm quen với
tin học cho các trường, lớp có điều kiện (khoảng 1/3 số trường, lớp có điều
kiện ở thành phố, 1/5 số trường ở nông thôn và 1/8 số trường ở miền núi đủ
điều kiện tiếp nhận nhưng chưa được trang bị).
Hàng năm bổ sung, thay thế đồ chơi rẻ tiền mau hỏng trong các bộ
thiết bị đã cấp bằng ngân sách thường xuyên.
Trang bị 6.600 bộ đồ chơi ngoài trời để đảm bảo đến năm 2015 có
khoảng 70% số trường có bộ đồ chơi ngoài trời.
5.3. Bảo đảm ngân sách chi thường xuyên cho hoạt động chăm
sóc, GDMN năm tuổi
- Nhà nước từng bước nâng định mức chi thường xuyên cho trẻ mẫu
giáo hàng năm từ 2,2 triệu đồng /trẻ/ năm từ năm 2007 lên 7,3 triệu đồng/
trẻ/ năm vào năm 2015, bảo đảm khoảng 20% ngân sách GDMN được chi
cho hoạt động chuyên môn.
- Vùng khó khăn, vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa bao gồm trên 800
xã, thị trấn thuộc 62 huyện khó khăn thực hiện Chương trình hỗ trợ giảm
nghèo của Chính phủ, nhà nước tổ chức các trường, lớp mầm non công lập
và đảm bảo 100% kinh phí từ ngân sách để chi thường xuyên, bố trí đủ giáo
viên để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
- Ở hầu hết các vùng nông thôn, Nhà nước tổ chức các trường, lớp
- Thực hiện việc chuyển đổi các cơ sở GDMN bán công sang loại hình
theo quy định, phù hợp điều kiện thực tế của địa phương, bảo đảm đủ
trường, lớp để thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi.
7. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế
Tranh thủ sự giúp đỡ của các nhà tài trợ, tổ chức quốc tế xây dựng
một dự án ODA cho GDMN năm tuổi nhằm:
- Hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính xây dựng chương trình, tài liệu chuẩn bị
tiếng Việt cho trẻ em, đào tạo bồi dưỡng giáo viên vùng dân tộc.
- Hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tại
vùng khó khăn và xây dựng trường, lớp, cung cấp trang thiết bị phù hợp cho
các lớp mầm non.
Phần IV: KINH PHÍ
1. Nhu cầu kinh phí
1.1 Kinh phí xây dựng phòng học, phòng chức năng và trường
mầm non đạt chuẩn quốc gia: 9.537 tỷ đồng, bao gồm:
- Đầu tư xây dựng 11.600 phòng học để đạt tỷ lệ 1 lớp/ 1 phòng học
với tỷ lệ kiên cố 100% từ năm 2013, mức chi phí đầu tư xây dựng bình quân
một phòng diện tích 110 m
2
(đối với thành phố thị xã là 3,3 triệu đồng/m
2
;
nông thôn là 3,5 triệu đồng/m
2
; miền núi, vùng cao, vùng sâu, hải đảo là 3,8
triệu đồng/m
2
), tổng cộng từ 2010-2015 tổng kinh phí xây dựng là 4.466 tỷ
đồng.
Số lượng
(trường)
Kinh
phí
( tỷ đồng)
2010 1,250 481 60,000 180 - 661
2011 3,300 1,271 170,000 510 13 55 1,835
2012 2,800 1,078 280,000 840 13 55 1,973
2013 2,790 1,074 365,000 1,095 20 84 2,253
2014 720 277 350,000 1,050 20 84 1,411
2015 740 285 345,000 1,035 20 84 1,404
Cộng 11,600 4,466 1,570,000 4,710 86 361 9,537
(*) Không kể số phòng học nguồn kiên cố hoá 11.000 phòng
1.2. Kinh phí mua sắm trang thiết bị, đồ chơi: 2.170 tỷ đồng, bao
gồm:
- Chi mua sắm trang thiết bị: 39.400 bộ thiết bị, đồ chơi tối thiểu cho
các lớp mầm non 5 tuổi, bình quân 14,75 triệu đồng/bộ; tổng số tiền là: 591 tỷ đồng.
- Mua thiết bị nội thất dùng chung là 1.064 tỷ đồng, (39.400 bộ, đơn
giá 26,4 triệu/ bộ).
- Mua 6.600 bộ đồ chơi ngoài trời cho các trường mầm non là 330 tỷ
đồng, (49,150 triệu/ bộ).
- Mua 8.835 bộ thiết bị cho trẻ em làm quen với ngoại ngữ, tin học:
186 tỷ đồng cho 1/3 số phòng học cho địa bàn thành phố, 1/5 số phòng học
cho đồng bằng và 1/8 số phòng cho miền núi. Bình quân mỗi bộ là 21 triệu đồng.
(Biểu 5)
Biểu 5 : Nhu cầu mua sắm trang thiết bị, đồ chơi
Năm
Thiết bị cho 1 lớp học
Thiết bị nội thất dùng
2014 720 11 720 19 1,450 73 1,180 25 128
2015 710 11 710 19 1,500 75 1,200 25 130
Cộng 39,400 591 39,400 1,064 6,600 330.0 8,835 186 2,170
1.3. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và hỗ trợ trẻ em đến
lớp là 2.950 tỷ đồng, bao gồm:
- Chi bồi dưỡng giáo viên từ sơ cấp lên trung cấp, thời gian đào tạo là
15 tháng cho 11.300 giáo viên với kinh phí đào tạo từ năm 2010 2015 là 130
tỷ đồng (chi phí đào tạo 2010 là 7,0 triệu đồng/năm/sinh viên (10 tháng);
năm 2014 với chi phí đào tạo là 12,8 triệu đồng/năm).
- Chi đào tạo mới giáo viên trình độ cao đẳng thời gian đào tạo là 30
tháng cho 11.100 giáo viên với kinh phí đào tạo từ năm 2010 - 2015 là 230
tỷ đồng (chi phí đào tạo năm 2010: 7,0 triệu đồng/năm (10 tháng) năm 2015
là 14,8 triệu/năm). Tổng số chi đào tạo, bồi dưỡng từ 2010 - 2015 là 360 tỷ
đồng. (Biểu 6)
Biểu 6 : Chi đào tạo bồi dưỡng giáo viên giai đoạn 2010-2015
Năm
Bồi dưỡng nâng chuẩn giáo viên Đào tạo mới giáo viên
Tổng kinh phí (tỷ
đồng)
Số lượng
(giáo viên)
Kinh phí
( tỷ đồng)
Số lượng (giáo
viên)
Kinh
phí ( tỷ
đồng)
2010 3,675 34 2,365 49 82
2011 2,993 32 2,380 58 90
Kinh
phí (tỷ
đg)
Số lượng
(trẻ em)
Kinh
phí ( tỷ
đg)
Số lượng (trẻ
em)
Kinh
phí ( tỷ
đg)
2010 3,800 4 10,900 12 371,200 408 385,900 424
2011 3,900 4 11,000 12 373,600 411 388,500 427
2012 4,100 5 11,100 12 375,900 413 391,100 430
2013 4,200 5 11,200 12 378,300 416 393,700 433
2014 4,300 5 11,250 12 380,700 419 396,250 436
2015 4,500 5 11,300 12 383,100 421 398,900 439
Cộng 24,800 27 66,750 73 2,262,800 2,489 2,354,350 2,590
2. Cân đối nguồn kinh phí thực hiện Đề án Phổ cập GDMN cho
trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015
Tổng kinh phí thực hiện Đề án Phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi
là 14.661 tỷ đồng trong đó:
2.1. Ngân sách Nhà nước hàng năm : năm 2010 là 927 tỷ đồng, năm
2015 là 865 tỷ đồng, tổng cộng từ 2010-2015 là 7.591 tỷ, chiếm khoảng
51,7% trong tổng nguồn kinh phí thực hiện Đề án (bình quân 1.265 tỷ đồng/
năm) bao gồm:
- Nguồn vốn chi đầu tư : năm 2010 là 461 tỷ đồng, năm 2015 là 500 tỷ
đồng, tổng cộng từ 2010-2015 là 4.741 tỷ đồng.
- Xây dựng phòng học 4,466 481 1,271 1,078 1,074 277 285
- Xây dựng khối phòng chức
năng
4,710 180 510 840 1,095 1,050 1,035
- Xây dựng 86 trường chuẩn 362 55 55 84 84 84
Nguồn vốn thực hiện 9,538 661 1,836 1,973 2,253 1,411 1,404
- Vốn đầu tư XDCB hàng năm từ
NSNN
4,741 461 890 1,100 1,200 590 500
- Ngân sách khác dành cho
XDCB
1,913 200 263 310 338 366 437
- Ngân sách NN bổ sung cho
XDCB
2,884 - 683 563 715 455 467
+ Vốn ODA 2,307 546 451 572 364 374
+ Vốn CTMTQG 2011 - 2015 577 137 113 143 91 93
2. Mua sắm thiết bị, đồ chơi 2,173 132 959 714 110 128 130
- Đồ chơi cho 1 lớp học 592 33 309 217 11 11 11
- Thiết bị nội thất dùng chung 1,063 60 556 390 19 19 19
- Đồ chơi ngoài trời 332 28 48 53 55 73 75
- Thiết bị làm quen NN- Tin học 186 11 46 54 25 25 25
Nguồn vốn thực hiện 2,173 132 959 714 110 128 130
- Ngân sách khác dành cho mua
sắm
410 43 56 66 72 78 94
- NSNN bổ sung Vốn CTMTQG 1,763 89 903 648 38 50 36
3. Đào tạo bồi dưỡng giáo viên
và trợ cấp cho trẻ em 5 tuổi
2,950 507 517 523 475 469 459