1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________________
TRƯƠNG NGỌC MỸ PHƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM 5 TUỔI
Ở HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________________
TRƯƠNG NGỌC MỸ PHƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM 5 TUỔI
Ở HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Quốc Lâm
NGHỆ AN, 2014
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đối với Ban giám hiệu, quý thầy cô Trường
Đại học Vinh và Trường Đại học Đồng Tháp; Quý thầy giáo, cô giáo đã trực
tiếp giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập lớp Cao
học Quản lý Giáo dục khóa 20 tại Đại học Đồng Tháp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với TS Phan Quốc Lâm - Người
thầy, Người hướng dẫn khoa học - đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.3. Một số vấn đề về công tác phổ cập giáo dục mầm cho trẻ em năm
tuổi 14
1.4 Một số vấn đề quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5
tuổi……………………………………………… …………… …………… 24
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý công tác phổ cập giáo dục
mầm non cho trẻ em 5 tuổi 29
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 32
2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng
Tháp 33
2.2. Thực trạng công tác PCGD MN CTENT ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng
Tháp: 38
ii
2.3. Thực trạng quản lý công tác PCGD MNCTENT ở huyện Châu
Thành
61
2.4. Đánh giá chung về thực trạng và nguyên nhân……….………… …….70
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC PCGD MNCTENT Ở HUYỆN
CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP…………… ……………………… 77
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 77
3.2. Một số giải pháp quản lý chất lượng PCGD MN CTENT ở huyện Châu
Thành 79
3.3. Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải
pháp 114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 120
Danh mục tài liệu tham khảo 125
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bảng 2.2. Bảng thống kê phòng học và trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi tối
thiểu theo thông tư 02/2010 của BGDĐT
Bảng 2.3. Bảng thống kê chính sách, trình độ, xếp loại GV.
Bảng 2.4 Bảng thống kê tỷ lệ huy động trẻ 0-4 tuổi
Bảng 3.1. Kết quả thăm dò về tính cấp thiết của các giải pháp quản lý
công tác PCGD MN CTENT
Bảng 3.2. Kết quả thăm dò về tính khả thi của các giải pháp quản công tác
PCGD MN CTEN
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Năm 1960 Đại hội II của Đảng đã chính thức đưa Phổ cập giáo dục cho
thiếu niên vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( 1960 đến 1965) của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Nhiệm vụ mục tiêu cơ bản là thực hiện phổ cập vỡ lòng
cho vùng đồng bằng ( trẻ 6 tuổi) và hoàn thành xóa mù chữ cho miền núi, để
tiến tới phổ cập cấp Phổ thông. Đến năm 1986 dưới ánh sáng của Nghị Quyết
Đại hội VI của Đảng đất nước ta bước vào cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của kinh tế-xã hội, giáo dục cũng từng bước phát triển đáp ứng với yêu
cầu xã hội. Mục tiêu PCGD đã được nhiều Tỉnh, Thành phố đặc biệt quan tâm
Đối với ngành học Mầm non Hội nghị Mẫu giáo lần đầu tiên của nước
Việt Nam được tổ chức tại Thôn Ngòi, Huyện Yên Sơn, Tỉnh Tuyên Quang từ
ngày 2/11/1949 đến 9/11/1949 có ý nghĩa lịch sử to lớn đánh dấu bước phát
triển của ngành học trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày
10/8/2010 có một Hội nghị cũng mang một ý nghĩa to lớn đã được tổ chức thành
công đó là Hôi nghị triển khai Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 9/2/2010 của
Thủ Tướng Chính phủ đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai
đoạn 2010-2015, với mục tiêu chung: đảm bảo hầu hết trẻ em năm tuổi ở các
vùng miền được đến lớp để thực hiện chương trình giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một
năm học nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẫm mỹ, tiếng Việt và
tâm lý để trẻ sẵn sàng vào lớp 1; Quyết định trên ra đời làm rõ hơn nữa sự quan
thấp như Kiên Giang đạt 4,8%, Sóc Trăng đạt 6,4%, An Giang đạt 9%
Riêng ở Huyện Châu Thành, Đồng Tháp tính đến thời điểm này đã đi hết
một nữa chặn đường chỉ còn chưa đầy 2 năm để hoàn thành phổ cập cho trẻ 5
tuổi. Tuy nhiên cho đến thời điểm này huyện có tổng số 13 xã thì mới có 4/13
được công nhận hoàn thành phổ cập cho trẻ 5 tuổi chỉ đạt 30,8% trên tổng số xã.
Đó là những con số thực tế mà ngành giáo dục đang phải đối mặt, vậy phải làm
sao để có thể hoàn thành phổ cập cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015 . Đó là lý do mà
chúng tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ em 5 tuổi ở Huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp”.
3
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm công tác phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 5 tuổi ở Huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Thực hiện Đề án “
Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi( PCGDMN) giai đoạn 2010-2015” và
Kế hoạch “thực hiện Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa
bàn huyện Châu Thành giai đoạn 2011-2015
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5
tuổi ở Huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp quản lý có cơ sở khoa học và có tính khả
thi, thì sẽ hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở Huyện Châu
Thành, tỉnh Đồng Tháp một cách có chất lượng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu cơ sở lý luận về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi
5.2. Nghiên cứu thực tiễn
ở các xã trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia về thực trạng phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 5 tuổi ở các xã trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
7. Đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lý luận:
Góp phần tổng hợp lý luận về quản lý phổ cập giáo dục vào việc nghiên
cứu hoạt động quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở các tỉnh nói
chung và ở địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp nói riêng
5
7.2 Về mặt thực tiễn:
7.2.1 Đánh giá được thực trạng, tổng thể chung về phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Tình hình quản lý phổ
cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi trong thực tiễn, mặt mạnh, mặt yếu, nguyên
nhân tồn tại, bất cập về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Châu
Thành, tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng trong thực tế.
7.2.2 Đề xuất một số giải pháp cần thiết để quản lý phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 5 tuổi ở các xã trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
giúp cho UBND huyện Châu Thành, PGD huyện Châu Thành có hướng chỉ đạo
đảm bảo hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài
- Chương 2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
- Chương 3. Một số giải pháp quản lý công tác quản lý công tác phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỔ CẬP GIÁO
DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM NĂM TUỔI
hội nghị triển khai từ tháng 8/2010. Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung
ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Trong đó mục tiêu cụ thể cho giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển thể chất,
tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho
trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo
và miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường
mầm non. Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với
điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục
PCGD MN CTENT là một xu hướng chung của thế giới, từ 2010 đến nay đã
là một trong những chủ trương lớn của Đảng ta "Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện; có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (Điều 2 Luật giáo
dục năm 2005). Với ý nghĩa đó, trẻ em có quyền được tiếp cận một nền giáo
dục cơ bản, có chất lượng để trở thành công dân có đức, có tài, nắm chắc khoa
học kỹ thuật và công nghệ mới phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nhà nước quan tâm sâu sắc và coi đó là điều kiện cơ bản ban đầu để phát
triển con người đặc biệt đối với trẻ mầm non, phát triển sản xuất, phát triển xã
hội, theo kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Thể hiện qua các văn bản sau:
+ Quyết định 239/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2010 của Quốc hội khóa
X Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho
trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 – 2015
8
+ Công văn số 2658 /BGDĐT-CSVCTBTH ngày 17 tháng 05 năm 2010
của Bộ giáo dục & Đào tạo về việc hướng dẫn xây dựng trường, lớp học mầm non
thực hiện Quyết định số 239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ
luồng học sinh sau trung học cơ sở và xoá mù chữ cho người lớn”
Đối với huyện Châu Thành đã có đề án số 112/ĐA-UBND ngày tháng
năm về việc thực hiện PCGD MN CTENT trên địa bàn huyện Châu Thành giai
đoạn 2011-2015 , nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể
về vấn đề quản lý công tác phổ cập giáo dục MN CTENT trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu, ngoài các báo cáo về triển khai và kết
quả PCGD MN CTENT, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này.
Trong lĩnh vực khoa học, một số nhà khoa học, nhà quản lý, các tổ chức
đã có một vài công trình nghiên cứu về PCGD MN CTENT, tiêu biểu như:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp
phổ cập giáo dục mẫu giáo 5 tuổi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long” do TS.
Trần Thị Ngọc Trâm Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mầm non, Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và giải pháp
PCGD MN CTENT ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tác giả đã đề xuất lộ
trình và giải pháp thực hiện PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long.
Các bài nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau có liên quan đến PCGD
được công bố trên các báo, tạp chí khoa học; các luận văn Thạc sĩ nghiên cứu
thực trạng và giải pháp thực hiện PCGD MN CTENT ở địa phương.
Nhìn chung, vấn đề PCGD đã được nghiên cứu trên nhiều phương diện,
cả về lý luận lẫn thực tiễn ở nước ta và trên thế giới. Tuy nhiên, các vấn đề liên
quan đến PCGD, đặc biệt là PCGD MNCTE5T ở từng địa phương vẫn luôn có
những đặc điểm riêng biệt. Vì thế, nghiên cứu PCGD MN CTENT gắn liền với
thực tiễn giáo dục của địa phương sẽ mang đến hiệu quả nhất định góp phần
thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục ở địa phương.
10
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giáo dục và phổ cập giáo dục
1.2.1.1 Giáo dục
Giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, giáo
- Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của
từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.
- Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức
và phối hợp hoạt động của họ.
- Đặc trưng cơ bản của quản lý là: tính lựa chọn, tính tác động có chủ định
và khả năng làm giảm sự bất định, làm tăng tính tổ chức, tính ổn định của hệ
thống.
- Chức năng quản lý: là các dạng hoạt động được chuyên môn hóa, nhờ đó
mà chủ thể quản lý tác động lên đối tượng để thực hiện mục tiêu. Các chức năng
quản lý có tính chất độc lập tương đối, nếu tách riêng và sắp xếp theo một trình
tự hợp lý sẽ tạo ra chu trình quản lý “Tổ hợp các chức năng quản lý, sẽ tạo nên
nội dung của quá trình quản lý nội dung lao động của đội ngũ cán bộ quản lý là
cơ sở cho sự phân công lao động quản lý giữa những người cán bộ quản lý và là
nền tảng để hình thành và hoàn thiện cấu trúc tổ chức sự quản lý.
Theo quan niệm phổ biến hiện nay, quản lý là hệ thống gồm bốn chức
năng:
- Kế hoạch hoá: là khâu đầu tiên của chu trình quản lý. Nội dung chủ yếu
là xác định và hình thành mục tiêu đối với tổ chức; xác định và đảm bảo chắc
chắn về nguồn lực; lựa chọn phương án và biện pháp tối ưu để đạt mục tiêu.
- Tổ chức: là chức năng được tiến hành sau khi lập xong kế hoạch nhằm
chuyển hóa những ý tưởng được đưa ra trong kế hoạch thành hiện thực. Nhờ đó
mà quan hệ giữa các bộ phận trong các tổ chức liên kết thành một cấu trúc chặt
chẽ và nhà tổ chức có thể điều phối nguồn lực tốt hơn.
12
- Chỉ đạo: là chức năng được thể hiện rõ trong nội hàm của khái niệm
quản lý. Sau khi lập kế hoạch và cơ cấu bộ máy, khâu vận hành, điều khiển hệ
thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo. Nội dung của chức năng này là liên kết
các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ nỗ lực, phấn đấu hoàn thành
nhiệm vụ được giao để đạt mục tiêu của tổ chức. Nó kết nối, thẩm thấu và đan
xen vào hai chức năng trên.
Nội dung quản lí giáo dục là quản lý tất cả các yếu tố cấu thành quá trình
giáo dục, bao gồm: mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo
dục; tổ chức giáo dục; người dạy; người học; trường sở và trang thiết bị; môi
trường giáo dục, các lực lượng giáo dục; kết quả giáo dục.
Bản chất của quản lí giáo dục là quản lý quá trình sư phạm, quá trình dạy
học diễn ra ở các cấp học, bậc học và ở tất cả các cơ sở giáo dục. Nơi thực hiện
quản lý quá trình sư phạm có hiệu quả nhất là nhà trường.
1.2.3. Giải pháp và giải pháp quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm
non
1.2.3.1. Giải pháp
Theo Từ điển tiếng Việt, “giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề
cụ thể” [35, tr 387].
Còn theo Nguyễn Văn Đạm, “giải pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ
thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục
một khó khăn” [12, tr 325].
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một số
khái niệm tương tự như phương pháp, biện pháp. Điểm giống nhau của các
khái niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công
việc, một vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh
đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnh đến
trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục đích.
Theo Hoàng Phê, phương pháp là “ hệ thống các cách sử dụng để tiến hành
một công việc nào đó” [24]. Còn theo Nguyễn Văn Đạm, phương pháp được
hiểu là trình tự cần theo trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một
công việc có mục đích nhất định” [12, tr 325].
14
Về khái niệm biện pháp, theo Từ điển tiếng Việt, đó là “cách làm, cách giải
quyết một vấn đề cụ thể” [33, tr 64].
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái niệm
trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này là nhấn
Quyết định 239 sẽ giải quyết hai vấn đề cấp thiết hiện nay đối với GDMN là
việc xây dựng đội ngũ GV, CBQL và cơ sở vật chất trường lớp; sẽ giải quyết
được những vấn đề mà Quyết định 149/2006/QĐ-TTg chưa đề cập một cách cụ
thể. Theo QĐ 239, sẽ bố trí đủ giáo viên cho các cơ sở GDMN (theo định mức
quy định) và có những bước phát triển về chính sách mới cho giáo viên; quy
định xây dựng đủ phòng học cho các lớp mầm non năm tuổi; bảo đảm đủ thiết bị
và đồ chơi để thực hiện Chương trình GDMN (như đã đề cập ở trên); nơi có
điều kiện còn được trang cấp các bộ đồ chơi làm quen với tin học, ngoại ngữ.
Quyết định 239 được ban hành đúng vào dịp xuân về, đây là món quà hết sức có
ý nghĩa, mang đến niềm vui, nguồn cổ vũ động viên vô cùng lớn lao đối với cán
bộ quản lý, giáo viên mầm non; niềm vui, niềm hạnh phúc cho các cháu mầm
non, các bậc cha mẹ và toàn xã hội, đem đến sinh khí mới, khởi đầu cho bước
phát triển mới của cấp học giáo dục mầm non”
Mục tiêu chung của Quyết định 239 có nêu “Bảo đảm hầu hết trẻ em năm
tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực hiện chăm sóc, giáo dục 2
buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm,
thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em
vào lớp 1.” Bởi vì vào lớp 1 là một bước ngoặt rất quan trọng rất quan trọng
trong cuộc đời của trẻ. Ở lớp 1 nhiều yêu cầu mới đặt ra cho trẻ, phạm vi giao
tiếp của trẻ được mở rộng hơn, trẻ có những quyền hạn và nhiệm vụ mới. chính
vì điều đó mà trẻ cần phải có sự chuẩn bị chu đáo nhằm thích nghi với môi
trường mới, một môi trường mà hoạt động học tập xem là chủ đạo. Nếu nói rằng
giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi là giai đoạn kiến tạo những cấu trúc về mặt cơ thể và
tâm lý thì giai đoạn từ 3 – 5 tuổi là giai đoạn tiếp nhận những kỹ năng và kiến
thức làm nền tảng cho sự hình thành nhân cách và năng lực. Vì thế, khi trẻ được
5 tuổi thì bé đã có khả năng tiếp thu một lượng kiến thức không nhỏ. Theo A.X
Macarenco, một nhà giáo dục nổi tiếng của Nga thì: “ Nền tảng của giáo dục
16
chủ yếu được xây dựng từ khi trước 5 tuổi, nó chiếm đến 90% chất lượng
của cả quá trình giáo dục”.
1.3.2.1 Mục tiêu chung
Bảo đảm hầu hết trẻ em năm tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực
hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể
chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm
chất lượng để trẻ em vào lớp 1.
1.3.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp bảo đảm đến năm 2015, có
95% số trẻ em trong độ tuổi năm tuổi được học 2 buổi/ngày;
- Nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục đối với các lớp mầm non năm
tuổi, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, phấn đấu đến năm 2015 có 100% trẻ em tại
các cơ sở giáo dục mầm non được học Chương trình giáo dục mầm non mới,
chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp 1;
- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non,
đảm bảo 100% giáo viên dạy mầm non năm tuổi đạt chuẩn trình độ đào tạo vào
năm 2010, phấn đấu đến năm 2015 có 50% giáo viên đạt trình độ từ cao đẳng sư
phạm mầm non trở lên, 80% giáo viên đạt chuẩn nghề nghiệp mức độ khá;
- Ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi
cho các lớp mầm non năm tuổi ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng trường
mầm non đạt chuẩn quốc gia tại các huyện nghèo làm mô hình mẫu và là nơi tập
huấn, trao đổi kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ giáo dục mầm non;
- Đưa số tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi từ
55% năm 2010 lên 85% năm 2012 và 100% năm 2015.
1.3.2.3 Điều kiện phổ cập MN CTENT
- Có đủ phòng học theo hướng kiên cố, đạt chuẩn;
18
- Trường, lớp có bộ thiết bị dạy học tối thiểu để thực hiện Chương trình
giáo dục mầm non mới; ở vùng thuận lợi có thêm các bộ đồ chơi, phầm mềm trò
chơi ứng dụng công nghệ thông tin, làm quen với vi tính để học tập;
- Có đủ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo; giáo viên
được hưởng thu nhập và các chế độ khác theo thang bảng lương giáo viên mầm