Sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện yên thế (tỉnh bắc giang) thế kỷ XIX - Pdf 52

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẶNG HỒNG SƠN

SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HUYỆN YÊN THẾ (TỈNH BẮC GIANG) THẾ KỈ XIX

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

/>

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẶNG HỒNG SƠN

SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HUYỆN YÊN THẾ (TỈNH BẮC GIANG) THẾ KỈ XIX
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS . ĐÀM THỊ UYÊN

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

Thị Uyên đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa
học để hoàn thành luận văn thạc sỹ.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong ban chủ nhiệm khoa Sử, khoa
Sau Đại học - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cùng các thầy cô đã nhiệt tình
giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong học tập và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn luôn động
viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Đặng Hồng Sơn


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................ ii
MỤC LỤC .................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .............................................................................. iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................................ v
DANH MỤC CÁC HÌNH............................................................................................. vi
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................... 2
3. Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài............................4
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ...............................................................4
5. Đóng góp của đề tài ................................................................................................... 5
6.
Cấu
trúc
đề
............................................................................................................5

TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 110

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iv

/>

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND

: Hội đồng nhân dân

HN

: Hà Nội

KHXH

: Khoa học xã hội

M.s.th.t.p

: Mẫu, sào, thước, tấc, phân

Thí dụ: 30 mẫu 6 sào 2 thước 2 tấc 2 phân sẽ được viết tắt là 30.6.2.2.2
Nxb

: Nhà xuất bản

PTS


Bảng 2.8. Diện tích ruộng đất của các chức sắc năm (1805)...................................... 57
Bảng 2.9. Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức sắc theo địa bạ Gia Long 4 (1805)
..... 58
Bảng 2.10. Quy mô sở hữu theo các nhóm họ năm 1805 ........................................... 61

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

5

/>

DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 2.1: Tình hình sở hữu ruộng đất của Yên Thế năm 1805 .............................. 49
Biểu đồ 2.2: Sở hữu ruộng đất theo nhóm họ ............................................................. 62
Biểu đồ 2.3: Sở hữu ruộng đất của các nhóm họ lớn .................................................. 63

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN vi

/>

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nước ta dưới chế độ phong kiến, nông nghiệp luôn giữ vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế. Vấn đề ruộng đất cùng với các vấn đề khác như thủy lợi, tập quán sản
xuất… được coi là những yếu tố kinh tế cơ bản của quốc gia…, là thứ tài sản vô giá
của quốc gia, thiêng liêng và trường tồn cùng với thời gian. Các vương triều phong
kiến bằng cách trực tiếp hay gián tiếp đều cố gắng nắm lấy ruộng đất và thông qua
chính sách ruộng đất của các triều đại sẽ giúp chúng ta một bức tranh toàn cảnh về xã
hội Việt Nam.
Qua việc nghiên cứu tình hình ruộng đất và nông nghiệp giúp chúng ta hiểu

nghiên cứu về các lĩnh vực: quản lý nhà nước, địa lý, lịch sử, văn hóa, xã hội nghiên
cứu và tìm hiểu. Qua nghiên cứu bước đầu chúng tôi nhận thấy rằng, những vấn đề
như: Địa chính, địa bạ, kinh tế, phong tục, tập quán... chưa được nghiên cứu một cách
có hệ thống và toàn diện.
Xuất phát từ những nhận định trên, với mong muốn tìm hiểu quê hương góp
phần cụ thể cho bức tranh lịch sử dân tộc, đóng góp sức mình vào việc “đánh thức
quá khứ dậy” để phục vụ cho công cuộc xây dựng địa phương ngày nay, tôi quyết
định chọn đề tài “Sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiêp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc
Giang) thế kỉ XIX” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước tới nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử dân tộc với các
chủ đề khác nhau từ việc tìm hiểu tiến trình lịch sử từ nguồn gốc đến nay, tình hình
phát triển kinh tế, phân bố dân cư cho đến những biến đổi văn hóa dân tộc ở các địa
phương. Các công trình nghiên cứu đó đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng
lĩnh vực hoặc một khía cạnh nào đó của lịch sử địa phương.
Tình hình ruộng đất hoặc kinh tế nông nghiệp từ lâu đã được các sử gia nghiên
cứu. Có thể kể tới các tác phẩm tiêu biểu đề cập tới vấn đề nông nghiệp và ruộng đất
như: Lịch triều hiến chương loại chí, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Đại Nam
nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ, Đồng Khánh dư địa chí….
Ngay từ thời phong kiến , một số nhà sư học đã nói tới xã hội , phong tục tập
quán của các dân tộc thiểu số , trong đó có các dân tộc đang sinh sống tại đia phương .
Trước hết, phải kể đến cuốn “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc Sư Quán triêu
Nguyễn, Nxb Thuận Hóa - Huế, xuất bản năm 1992, đề cập một vài nét vị trí địa lý ,
hình thế núi sông, phong tục tập quán của huyện [32].
Tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quy Đôn , Nxb Khoa học xã hội, xuất
bản năm 1977 [8]. Nội dung cuốn sách đê cập đến văn hóa của người Tày , Nùng, và
cung cấp cho chúng ta nhiều chi tiết về các trấn Hưng Hóa, Tuyên Quang…
Vũ Huy Phúc (1979), trong cuốn Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu
thế kỉ XIX, Nxb. Khoa học xã hội, đã hệ thống hóa những chính sách lớn về ruộng đất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

huyện Yên Thế, xuất bản năm 1996 do ban chấp hành Đảng bộ huyện Yên Thế xuất
bản. Hay di sản văn hóa Yên Thế lễ hội dân gian, xuất bản năm 2009… Đây là những
tác phẩm nghiên cứu trực tiếp về huyện Yên Thế, là nguồn tư liệu để nghiên cứu kết
hợp làm nổi bật vấn đề.
Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu “Sở hữu
ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) thế kỉ XIX”. Do
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

3

/>

vậy, vẫn còn nhiều vấn đề sử học còn bỏ ngỏ như về chế độ sở hữu ruộng đất, thành
phần dân tộc, tình hình kinh tế nông nghiệp... Đề tài của tác giả sẽ giải quyết các
nhiệm vụ đó. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn xem thành quả của nhà nghiên cứu đi trước
là những ý kiến gợi mở quý báu giúp chúng tôi có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên
cứu của mình.
3. Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Mục đích: Trước hết bản thân là một người dân địa phương có mong muốn
tìm hiểu về quê hương trong lịch sử và nhằm góp thêm cơ sở khoa học về cư dân
miền núi nói chung và phía Bắc nói riêng lâu nay còn ít người quan tâm. Đồng thời,
việc tìm hiểu nghiên cứu này mong muốn góp phần nêu lên một cách chân thực, khoa
học về một thời kì lịch sử trong quá khứ của mảnh đất cũng như con người Yên Thế.
Ngoài ra, còn có thể bổ sung thêm nguồn tư liệu góp phần lí giải một số vấn đề lịch
sử Việt Nam trung đại: Lịch sử đấu tranh và bảo vệ biên cương, bảo vệ chính quyền
quốc gia dân tộc, mối quan hệ giữa các dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển
của đất nước, góp phần lí giải về cơ sở xuất phát cho những chính sách của Đảng và
nhà nước ta....
- Đối tượng: Ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Yên Thế (Bắc Giang)
thế kỉ XIX.

Nam của Vũ Huy Phúc, Địa Bạ Hà Đông của Phan Huy Lê và P.Brocheux, Nghiên
cứu địa bạ triều Nguyễn của Nguyễn Đình Đầu ... Và một số tác phẩm có đề cập đến
địa bàn nghiên cứu như: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX, lịch sử Đảng bộ huyện
Yên Thế tỉnh Bắc Giang và địa chí Bắc Giang, trong các cuốn này có ghi rất chi tiết
về điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán... của huyện Yên Thế.
+ Nguồn tư liệu địa bạ: 37 địa bạ của huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) có niên
đại
Gia Long 4 (1805) hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I Hà Nội.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp hồi cố, điền dã, phương pháp lịch sử và phương
pháp lôgíc để nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân
tích, tổng hợp, phân loại. Đặc biệt, khâu giám định, xử lý số liệu, so sánh, đối chiếu
với các nguồn tư liệu khác có liên quan cũng được chúng tôi sử dụng nhằm mục đích
làm rõ vấn đề nghiên cứu.
5. Đóng góp của đề tài
- Đề tài là sự tổng hợp các tài liệu có đề cập đến huyện Yên Thế về: Điều kiện
tự nhiên, đặc điểm dân cư và quá trình tộc người, đặc điểm kinh tế…
- Dịch 37 tập địa bạ huyện Yên Thế viết bằng chữ Hán góp phần làm rõ tình
hình ruộng đất của huyện nửa đầu thế kỉ XIX. Trên cơ sở phân tích địa bạ, đề tài tìm
hiểu phong tục, tập quán liên quan đến ruộng đất và nông nghiệp của đồng bào các
dân tộc huyện Yên Thế thế kỉ XIX
- Học hỏi kinh nghiệm của cha ông trong việc quản lý và khai thác đất đai qua
đó cung cấp thêm tư liệu giúp địa phương phát triển kinh tế nông nghiệp có hiệu quả
nhất, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới.
6. Cấu trúc đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung được chia làm ba
chương. Chương 1: Khái quát huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang).
Chương 2: Sở hữu ruộng đất huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) thế kỉ XIX.
Chương 3: Kinh tế nông nghiệp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) thế kỉ XIX.
Ngoài ra, còn có tài liệu tham khảo, phần phụ lục và bản đồ.

- Điều kiện tự nhiên
Yên Thế có địa hình đồi núi trung du, thuộc vùng Đông Bắc (Việt Nam), nằm ở
phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, giáp giới với hai tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn. Địa
hình thấp dần theo hướng Đông Nam, phía Bắc là vùng núi thấp dưới chân dãy núi
Bắc Sơn, mà dãy núi này hay được biết đến hơn với cái tên cánh cung Bắc Sơn chạy
từ Lạng Sơn sang Thái Nguyên (một trong năm dãy núi hình vòng cung tạo nên nét
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

7

/>

đặc trưng của địa hình vùng Đông Bắc). Một số đồi, núi tiêu biểu có thể kể tới như:
núi Ông, núi Bà, núi Chỏm Vung, núi Linh, núi Rồng, đồi Lánh, đồi Hồng… Trong
sách Đại Nam nhất thống chí có nhắc tới “núi Chung Sơn”, một ngọn núi cao ở xã
Bảo Sơn, thuộc địa giới huyện Yên Thế.
Địa hình ảnh hưởng đến đất đai chủ yếu thông qua tác động phân phối lại các
yếu tố địa hóa trong lớp vỏ phong hóa và điểu kiện nhiệt ẩm theo các yếu tố địa hình
và độ cao. Huyện Yên Thế mang đặc trưng của địa hình vùng núi phía Bắc Việt Nam
với các dạng địa hình trung du và miền núi chiếm ưu thế, địa hình đồng bằng chiếm
phần nhỏ. Vùng miền núi chiếm ưu thế, hơn 80% tổng diện tích đất tự nhiên. Địa
hình Yên Thế cũng giống các huyện khác trong tỉnh “đều là rừng rú, thung lũng, đất
sỏi khác hẳn các huyện ở miền dưới” [44, tr.128]. Địa hình nơi đây có đặc trưng là
chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệnh về độ cao, thấp. Dạng đồi núi thấp co độ cao từ
170- 500 m, xuất hiện ở phía bắc của huyện. Nhiều vùng đất đai còn tốt, đặc biệt là
khu vực có rừng tự nhiên. Những đồi thấp trồng cây ăn quả như vải thiều, hồng, bưởi,
cam, chanh… cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nhưng có những vùng
thảm thực vật bị tàn phá, đất đai xói mòn, kém màu mỡ. Yên Thế giống như một vệt
lõm ăn sâu vào hai tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn rồi tỏa xuống các huyện trong tỉnh
là Lạng Giang và Việt Yên theo hướng chảy của sông Sỏi, suối Si để cùng bị chặn lại

một góc của đồng bằng xứ Bắc Kỳ với những đồng ruộng mênh mông kéo dài như
những tấm thảm xanh rì. Điều làm cho miền Yên Thế hạ đặc biệt ưa nhìn, đó là một
vài gò đất, không cao lắm cho bề mặt bớt bằng phẳng, nó được trải cỏ hoặc có cây cối
xum xuê bao phủ, những mỏm con con những dải đồi nhọn hoặc cồn cỏ bề cao từ 20 30 m và thung lũng nhỏ bé đầy bóng mát, tất cả nhô lên trên ruộng lúa như là vô số
hòn đảo nhỏ. Phía Bắc miền Yên Thế hoặc Yên Thế thượng có một hình ảnh trái
ngược hẳn, đó là một dãy liên tục gò đất nhô lên, lúc đầu còn thấp nhưng càng ngược
lên phía bắc càng cao dần.
Khu vực miền núi, thành phần thạch học chủ yếu là các loại phiên thạch sét,
phiến sét và biến chất. Sa thạch tạo nên các núi cao, đó là loại sa thạch hạ thô, màu
xám nhạt hoặc vàng thẫm, sau khi phong hóa tạo thành một thức chất có thành phần
cơ giới nhẹ, xốp, dễ thoát hơi nước, nghèo dinh dưỡng. Phiến thạch sét có diện tích
phân bổ rộng hơn sa thạch, chiếm gần toàn bộ các đồi núi thấp ở Yên Thế. Loại đá
này mềm có cấu trúc phiến mỏng, hạt nước màu xanh hoặc tím, dễ phong hóa và sau
khi phong hóa cho tầng đất dày với thành phần cơ giới thịt nặng, khó thấm nước,
nhưng giàu dinh dưỡng hơn đất sa thạch. Mẫu chất phù sa cổ cũng được tìm thấy ở
các vùng đồng bằng, trung du phía nam của huyện. Phù sa cổ được hình thành do các
sản phẩm của biển, cách đây khoảng 1 triệu năm, do chuyển động địa chất mà được
nâng cao lên so với phù sa mới dọc theo sông Thương. Phù sa cổ thường được phủ
trên nền phiến thạch sét. Những nơi gần núi, tầng đất mỏng, nhiều sỏi cuội. Ở rìa
đồng bằng, tầng đất này dày hơn, nhưng lại thường có kết vòm, đá ong.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

8

/>

Về khí hậu, trong Đại Nam nhất thống chí có nhắc tới: “Các huyện thượng du
(Yên Thế) lam chướng rất nặng, khí rét cũng sớm, ngoài ra thì nóng lạnh đều nhau.
Trong khoảng hạ sang thu, thường có mưa trận, nước sông lên to” [32, tr.77]. Yên
Thế chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa nhiệt đới vùng trung du và miền núi phía

/>

được gọi là “sông Sỏi” để chỉ hai vùng thượng lưu và hạ lưu của con sông. Sông Sỏi
đã nhỏ hẹp lại ngắn, ít giúp ích xuống một vùng trũng được vây quanh bởi một hệ
thống gò đồi và cây cối trước khi đổ ra sông Thương. Sông Mỏ Trạng có một số con
suối nhỏ đổ vào hợp thành như suối Gồ, suối Cấy - Hồng Kỳ, suối Đá, suối Cầu Đen,
suối Thia, suối Đồng Đảng ở thượng lưu có suối Máng Lợn, suối Trám, suối Vàng…
Trong sách “Đại Nam nhất thống chí” có chép sông Nhật Đức (sông Thương) ở cách
huyện Phượng Nhãn 20 dặm về phía bắc. Sông có 3 nguồn: một nguồn từ khe nhỏ ở
châu Ôn tỉnh Lạng Sơn, vào phía tây bắc huyện Hữu Lũng chảy 12 dặm làm sông
Hóa; lại chảy 32 dặm đến xã Chiêu Tuấn. Một nguồn từ khe núi ở huyện Vũ Nhai
tỉnh Thái Nguyên, qua các xã Hương Giao và Giao Hòa, vào phía Nam huyện Hữu
Lũng làm sông Hòa; lại chảy 54 dặm cũng đến xã Chiêu Tuấn, hai dòng hợp với nhau
chảy qua địa phận các huyện Bảo Lộc, Hữu Lũng, Yên Thế và Yên Dũng gồm 108
dặm làm sông Thọ Xương. Lại chảy 41 dặm đến sông Phượng Nhãn [32, tr.96]. Tổng
tập dư địa chí Việt Nam có viết: “Đến phủ Lạng Thương, sông Thương mới lớn dần,
thuyền bè đi lại được. Cách phủ Lạng Thương độ 7 - 8 km thì dòng sông gặp đầu dãy
núi “chín mươi chín ngọn” rồi chảy vào sông Lục Nam” [45, tr.220]. Theo truyền
thuyết gọi là sông Thương vì đây là con sông xưa kia các gia đình, bạn bè thường lấy
là giới hạn đưa tiễn người thân đi sứ sang Trung Quốc hoặc trấn ải miền biên thùy. Ở
thượng lưu sông chảy qua vùng núi đá rất hẹp, lòng sông có độ dốc lớn 30°. Từ Bố
Hạ chảy xuống Bắc Giang, sông chảy theo hướng bắc nam, lòng sông mở rộng và
sâu, độ dốc lòng sông bình quân còn 0,1%, nước trong xanh, suốt năm thuyền bè tàu
thủy có thể lưu thông được. Trong sách Đồng Khánh dư địa chí cũng có chép: Sông
Nhật Đức thượng nguồn từ Lạng Sơn chảy xuống xã Hòa Lạc thông đến xã Quế
Nham. Đoạn trên (từ xã Bố Hạ trở lên) rộng 5 trượng 3 thước; đoạn dưới (từ xã bố Hạ
trở xuống) rộng 8 trựơng, sâu 5 thước.
Thảm thực vật đã cải biến đá mẹ thành đất, qua tiểu tuần hoàn sinh vật diễn ra
trong một chu trình ngắn và với cường độ mạnh trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Vai
trò thảm thực vật còn có tác dụng chống xói mòn và giữ ẩm cho đất. Rừng ở Yên Thế

lớn, có giá trị kinh tế cao, bảo vệ môi trường và làm giàu dinh dưỡng cho đất. Hiện
nay, toàn huyện rừng gỗ lớn chiếm khoảng 33%, theo nghị quyết đến năm 2015,
huyện sẽ phát triển rừng gỗ lớn từ 35 - 40% diện tích đất lâm nghiệp và từng bước
hình thành vùng nguyên liệu gỗ bền vững. Xuất phát từ chủ trương đó của huyện,
việc chế biến gỗ cũng được huyện chú trọng, như công ty TNHH một thành viên lâm
nghiệp Yên Thế đã chú trong mở rộng, phát triển thêm nhiều diện tích rừng gỗ lớn,
nâng cao hiệu quả kinh tế rừng và khả năng bảo vệ nguồn thủy sinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11

/>

Để tiếp tục mở rộng diện tích khoảng 700 ha rừng cây gỗ lớn, hàng năm công
ty tiếp tục trồng mới nhiều diện tích theo tiêu chuẩn rừng gỗ lớn, chu kỳ 12 - 15 năm,
chủ yếu là loại cây keo tai tượng, bạch đàn vô tính, đặc biệt chọn lọc đưa vào trồng
những cây giống mới, cho chất lượng và hiệu quả cao. Do áp dụng những tiến bộ
khoa học vào kỹ thuật trồng và chăm sóc nên nhiều cánh rừng mới bước sang năm
thứ hai nhưng chiều cao và đường kính thân cây tương đương với những cây trồng
trước đó 3- 4 năm.
Về kinh tế, đối với rừng gỗ lớn sau khi trồng khoảng 15 năm cho thu hoạch từ
250 - 300 m3 gỗ/1ha, cao gấp 2 -3 lần rừng trồng hiện nay. Trong khi đó điều kiện để
phát triển rừng cây gỗ lớn của huyện Yên Thế là rất cao. Huyện Yên Thế có nhiều
điều kiện để canh tác và thâm canh rừng gỗ lớn, thứ nhất: nhiều nơi có tầng đất dày,
đất còn khá tốt; thứ hai địa hình ở đây chủ yếu là đồi núi thấp; thứ ba việc trồng rừng
gỗ lớn có vai trò quan trọng đối với bảo vệ môi trường sinh thái. Yên Thế còn một số
hồ, đập không chỉ cung cấp nước tưới cho nhân dân trong huyện mà còn cho một số
huyện lân cận như Tân Yên, Hiệp Hòa, Lạng Giang… nên phải phát triển rừng nhằm
bảo vệ nguồn nước, giữ nước trong các hồ, đạp chứa. Hiệu quả về cải tạo đất, bảo vệ
môi trường và tạo nguồn sinh thủy cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn trồng rừng
gỗ lớn. Tuy nhiên, việc trồng gỗ lớn còn nhiều khó khăn như: thời gian trồng rừng
dài, vốn đầu tư lớn, kỹ thuật trồng, chăm sóc cây gỗ còn nhiều hạn chế, do đó chưa

Chàng, dì 4 dặm, rộng 3 thước. Một đường nhỏ ừ phủ thành cũ đi về phía đông nam
đến xã Hoàng Hà, dài 3 dặm, rộng 2 thước [43, tr.542]. Việc đi lại của Yên Thế trước
đây chủ yếu dựa vào hệ thống đường mòn men theo các triền đồi. Từ thành phố Bắc
Giang lên Phủ Mộc (Cao thượng) hoặc Tỉnh Đạo (Nhã Nam), theo đường bộ phải
vượt qua đèo Lai qua Tĩnh Lộc - Phủ Mọc rồi Đình Nẻo - Tỉnh Đạo. Dân trong vùng
gọi đây là những đường chuột chạy, trong mùa mưa, đoạn Tĩnh Lộc - Kim Chàng
thường xuyên bị ngập úng nên thông thường người ta đi thuyền theo sông Thương
đứng lại ở Bến Tuần hoặc Bố Hạ để sang Tỉnh Đạo - nơi án ngữ con đường lên Thái
Nguyên và Lạng Sơn.
Tóm lại, nhìn chung vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của huyện Yên Thế rất
thuận lợi cho sự phát triển các ngành nông, lâm nghiệp… Tuy vậy, hiện nay nhìn
chung mức sống của người dân nơi đây còn khá thấp, chất lượng cuộc sống còn nhiều
khó khăn.
1.2. Dựng đặt và diên cách
Trong lịch sử phát triển, vùng đất Yên Thế luôn gắn với quá trình vận động
của lịch sử Bắc Giang qua các thời đại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13

/>

Đời Hùng Vương, huyện Yên Thế thuộc bộ Vũ Ninh, thời Tần thuộc Tượng
Quận, đời Hán thuộc bộ Giao Chỉ, tức là đất 2 huyện Lu Lâu và Long Biên
Tên huyện Yên Thế có từ thời Trần về trước. Thời nhà Lý, Yên Thế thuộc đất
Lạng Giang. Đến đời Trần, Yên Thế có tên là Yên Viễn, thuộc lộ Như Nguyệt Giang.
Thời Hồ, Yên Viễn thuộc Phủ Lạng Giang. Thời thuộc Minh đổi thành huyện Thanh
Yên thuộc châu Lạng Giang. Năm Quang Thuận 7 (1466) lấy lại tên cũ là huyện Yên
Thế, đặt thuộc phủ Lạng Giang. Các triều sau đều theo thế [32, tr.74].
Năm Minh Mệnh 13 (1832), tách 3 huyện Yên Thế, Hữu Lũng, Yên Dũng lập
thành phân phủ Lạng Giang. Năm Thành Thái thứ 8 (1896) huyện Yên Thế là một bộ
phận của đạo Yên Thế. Năm 1897, tách phủ Lạng Giang đặt làm tỉnh Bắc Giang (gồm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status