luận văn thặc sĩ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG KINH DOANH ĐIỆN MÁY CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG
KINH DOANH ĐIỆN MÁY CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

BÙI MINH HẢI

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG
KINH DOANH ĐIỆN MÁY CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Ngành: Kinh doanh
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102


quý Thầy Cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn nữa.
Tác giả

Bùi Minh Hải


MỤC LỤC


6

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
BẢNG:
Nội dung

Trang

Bảng 1.1: Các loại hình TMĐT chính

9

Bảng 2.1: Thị trường bán lẻ điện thoại di động của các hãng sản xuất
năm 2014

49

Bảng 2.2: Phân tích sự thành công của JD qua mô hình MSDP

52



BD 2.6: Cấu trúc tuổi của người dùng Internet tại Trung Quốc

35

BD 2.7: Thu nhập cá nhân hàng tháng của người dùng Internet
tại Trung Quốc

35

BD 2.8: Số lượng người mua hàng trực tuyến/ khách hàng mua hàng
trên điện thoại và tỉ lệ sử dụng năm 2014 – 2015

37

BD 2.9: Quy mô giao dịch của thị trường bán lẻ trực tuyến Trung Quốc

39

BD 2.10: Tốc độ tăng trưởng của thị trường bán lẻ của Trung Quốc và tỉ
lệ đóng góp vào tăng trưởng của thị trường bán lẻ trực tuyến

40

BD 2.11: Tỉ lệ đóng góp vào tăng trưởng của thị trường bán lẻ trực
tuyến

41

BD 2.12: Sự thay đổi của tổng giá trị giao dịch và tỉ lệ tăng trưởng giao

BD 3.4: Nhu cầu chuyển dịch sang điện thoại thông minh của Việt Nam

74

BD 3.5: Thị trường bán lẻ điện máy Việt Nam

74

HÌNH VẼ
Nội dung
Hình 2.1: Doanh thu của GOME năm 2016
Hình 2.2: Mô hình ứng dụng chăm sóc khách hàng của GOME

Trang
55
58


8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Diễn giải

CEREC

China e-Business Research Centre

CNNIC


TMĐT

Thương mại điện tử

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TQ

Trung Quốc

UNCITRAL

Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế

VASC

Trung tâm Dịch vụ Gia tăng Giá trị


9

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp bán lẻ điện máy Việt Nam đang gặp khó khăn
trong việc ứng dụng TMĐT vào kinh doanh. Các doanh nghiệp chưa khai thác hết
được tiềm năng của thị trường bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam cũng như chưa có sự
quan tâm đúng mức đối với TMĐT. Trong quá trình tìm hiểu sự thành công khi ứng
dụng TMĐT vào kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ điện máy lớn tại Trung

vọng nhất.
Tại Trung Quốc, TMĐT có vị trí nổi bật trong một nền kinh tế nổi tiếng với
những tăng trưởng đáng kinh ngạc. Thị trường TMĐT tại Trung Quốc bắt đầu phát
triển vào thập niên 90 và tăng trưởng mạnh sau năm 2008. Từ 2008 đến 2015, kim
ngạch TMĐT của Trung Quốc tăng từ 800 tỉ CNY (khoảng 123 tỉ USD) lên 5,2
nghìn tỉ CNY (khoảng 0,8 tỉ USD) và dự kiến sẽ đạt lên 6,5 nghìn tỉ CNY (khoảng 1
nghìn tỉ USD) trong năm 2016 (International Trade Centre 2016, tr. 1). Trong đó,
bán lẻ trực tuyến là một trong những thị trường phát triển mạnh mẽ nhất nhờ ứng
dụng TMĐT, với mức tăng trưởng trung bình hàng năm là hơn 50% trong giao đoạn
2011 – 2015. Các công ty bán lẻ như Tmall, Taobao, Jingdong hay Suning
Appliance của Trung Quốc đã trở thành những công ty bán lẻ hàng đầu trên thế giới
nhờ việc ứng dụng thành công TMĐT trong kinh doanh.
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
đường truyền internet, các mạng không dây 3G và 4G cùng với sự phổ biến của các
thiết bị di dộng, thương mại điện tử tại Việt Nam đã có được những điều kiện cơ sở
hạ tầng cơ bản để bùng nổ và trở thành hướng đi mới cho tất cả các doanh nghiệp


11

Việt Nam. Cùng với đó, thu nhập bình quân đầu người của người dân Việt Nam
tăng dần cũng dẫn tới nhu cầu của của người dùng với các mặt hàng điện máy và
điện tử cũng tăng cao. Với những điều kiện cơ sở hạ tầng cũng như tiềm năng thị
trường nói trên, các doanh nghiệp điện máy Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất tốt
nhằm thâu tóm thị phần cũng như phát triển doanh nghiệp theo hướng đi mới, tận
dụng sự phát triển của trào lưu internet.
Với những nét tương đồng về văn hóa, con người, sự thành công trong phát
triển và ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp bán lẻ điện máy tại Trung Quốc như
Jingdong, Gome, Alibaba…. sẽ là những bài học đáng giá cho các doanh nghiệp
bán lẻ điện máy tại Việt Nam. Nhằm nghiên cứu những kinh nghiệm và thành công


- Deloitte, China E-Retail Market Report, 2016.
Báo cáo nghiên cứu sự thay đổi của thị trường bán lẻ trực tuyến trong những
năm gần đây, các thành tựu mà Trung Quốc đã đạt được cũng như đưa ra dự

-

báo về sự phát triển của TMĐT trong lĩnh vực bán lẻ trong thời gian tới.
Fung Business Intelligence Centre, Retail Market in China, 2013.
Báo cáo cung cấp các thông tin tổng quan, những điểm nổi bật, đặc trưng và
thách thức của thị trường bán lẻ Trung Quốc. Từ đó, tác giả đưa ra dự báo về
xu hướng biến đổi của thị trường bán lẻ tại Trung Quốc trong các năm tiếp

-

theo.
Nguyễn Thị Kim Oanh (2010), “ Phân tích thực trạng TMĐT Trung Quốc
hiện nay”, Luận văn thạc sỹ, trường ĐH kinh tế
Luận văn nghiên cứu cách thức quản lý nền kinh tế nói chung cũng như
TMĐT nói riêng của Trung Quốc nhằm đưa ra những bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam
Các nghiên cứu trên đều đã phân tích về tổng quan và thực trạng của TMĐT

tại Trung Quốc trong đó có thị trường bán lẻ tuy nhiên lại chưa có đề tài nào nghiên
cứu về hoạt động ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp bán lẻ điện máy tại Trung
Quốc. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn này không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu, luận án hay luận văn đã được công bố trước đó.
3. Mục tiêu của đề tài
-


Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng sử dụng các phương pháp

nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập thông tin: để thu thập thông tin, số liệu phục vụ cho quá
trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, các nguồn
tài liệu bao gồm: các luận văn thạc sỹ liên quan tới vấn đề nghiên cứu, các bài

-

báo về TMĐT tại Trung Quốc,…
Để xử lý thông tin, các phương pháp được sử dụng bao gồm: phương pháp
thống kê, so sánh, phân tích - tổng hợp các số liệu về TMĐT bán lẻ trong
ngành điện máy.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thương mại điện tử
Chương 2: Ứng dụng thương mại điện tử trong lĩnh vực bán lẻ điện máy của

Trung Quốc hiện nay
Chương 3: Bài học kinh nghiệm ứng dụng thương mại điện tử cho các doanh
nghiệp bán lẻ điện máy tại Việt Nam


14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1. Khái niệm thương mại điện tử
TMĐT (electronic commerce hay e-commerce) tại Việt Nam đã từng có nhiều
tên gọi như: “thương mại trực tuyến” (online trade), “kinh doanh điện tử”
(electronic business hay e-business) hoặc “thương mại không giấy tờ” (paperless

Khái niệm này của UNCTAD đã đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh,
chứ không chỉ giới hạn ở riêng mua và bán, và toàn bộ các hoạt động kinh doanh
này đều có thể được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử.


16

Khái niệm này được viết tắt bởi bốn chữ MSDP, trong đó:
M – Marketing (có trang web, hoặc xúc tiến thương mại qua internet - SEO)
S – Sales (có trang web có hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết hợp đồng)
D – Distribution (Phân phối sản phẩm số hóa qua mạng)
P – Payment (Thanh toán qua mạng hoặc thông qua bên trung gian như ngân
hàng)
Như vậy, đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng
vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối,
thanh toán thì được coi là tham gia TMĐT.
Dưới góc độ quản lý nhà nước, TMĐT bao gồm các lĩnh vực:
I - Cơ sở hạ tầng cho sự phát triển TMĐT (Infrastructure)
M - Thông điệp (Message)
B - Các quy tắc cơ bản (Basic Rules)
S - Các quy tắc riêng trong từng lĩnh vực (Sectorial Rules/ Specific Rules)
A - Các ứng dụng (Applications)
Mô hình IMBSA này đề cập đến các lĩnh vực cần xây dựng để phát triển
TMĐT như sau:
I (Infrastructure): Cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin và truyền thông. Một ví
dụ điển hình là dịch vụ Internet băng thông rộng ADSL. Tại nước ta, theo thống kê
năm 2008 của Cục Thương mại điện tử, có đến 99% doanh nghiệp đã kết nối
internet, trong đó 98% doanh nghiệp là sử dụng dịch vụ băng thông rộng ADSL truy
cập Internet với tốc độ đủ cao để giao dịch qua mạng (Báo cáo tình hình phát triển
thương mại điện tử, 2009). Cơ bản của hoạt động TMĐT đều thông qua các thiết bị

trên cơ sở đã giải quyết được 4 vấn đề trên. Ví dụ như: Các mô hình Cổng TMĐT
quốc gia (ECVN.gov), các sàn giao dịch TMĐT B2B (Vnemart) cũng như các mô
hình B2C (golmart, Amazon), mô hình C2C (Ebay), hay các website của các công
ty XNK... đều được coi chung là các ứng dụng TMĐT.
1.2 Phân loại thương mại điện tử
Các giao dịch TMĐT hiện nay được xây dựng dựa trên các mối quan hệ giữa
các chủ thể bao gồm chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Dựa trên các cơ
sở chủ thể đó tác giả Namrata đã phân TMĐT thành các loại như sau:
Chính phủ
Doanh nghiệp
Người tiêu dùng

Chính phủ
G2G
B2G
C2G

Doanh nghiệp
G2B
B2B
C2B

Bảng 1.1: Các loại hình TMĐT chính
Nguồn: Nguyễn Văn Hồng 2012, tr.28
Trong đó một số loại phổ biến như sau:
a) TMĐT giữa các doanh nghiệp (B2B)

Người tiêu dùng
G2C
B2C

website bán đấu giá trực tuyến, rao vặt trên mạng. Một trong những thành công
vang dội của mô hình này là trang web đấu giá eBay.
Trong các loại hình giao dịch trên, hai loại hình B2B và B2C là hai dạng giao
dịch phổ biến nhất trong TMĐT đặc biệt là khi xét trên góc độ kinh doanh thuần
túy. Về giao dịch B2B, đây là quan hệ giao dịch chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số
các giao dịch TMĐT hiện nay. Khi áp dụng B2B, các doanh nghiệp giới thiệu cho
đối tác về thông tin họ, các sản phẩm và dịch vụ đang được cung cấp bởi doanh
nghiệp thông qua Website, dồng thời những đối tác quan tâm đến hàng hóa của


19

doanh nghiệp cũng có thế tiến hành giao dịch trực tiếp với doanh nghiệp trên
Website này. Cũng trong phương thức B2B, thông qua mạng internet, các doanh
nghiệp có thể theo dõi, quản lý được quá trình cung cấp nguyên liệu, dịch vụ từ phía
nhà cung cấp cũng như việc phân phối hàng hóa tới các đại lý tiêu thụ của doanh
nghiệp. Trong quá trình này, thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tác, nhà cung
ứng, nhà phân phối sẽ luôn được cập nhật theo thời gian thực do đó có thể nhanh
chóng nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh cũng như giải quyết được các khó
khăn trong thời gian ngắn nhất từ đó nâng cao kết quả và hiệu quả kinh doanh.
Về loại hình giao dịch B2C, đây là phương thức giao dịch ngày càng phổ biến
bởi những tiện ích mà nó đem lại cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Với sự
phát triển của internet và smartphone, người tiêu dùng ngày càng quen với việc đặt
hàng qua mạng. Khi mua hàng trên mạng, hạn chế về khoảng cách địa lý được xóa
bỏ, người tiêu dùng có thể tự do lựa chọn các hàng hóa, dịch vụ từ các nhà cung cấp
khác nhau. Do chi phí marketing, trung gian giảm bớt, người tiêu dùng là người đầu
tiên hưởng lợi khi được sử dụng các sản phẩm và dịch vụ với mức giá thấp hơn,
tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quá trình cung cấp dịch vụ cũng cao
hơn. Về phía doanh nghiệp, việc trao đổi trực tiếp với khách hàng sẽ giúp doanh
nghiệp nắm được yêu cầu chi tiết của khách hàng, từ đó cung cấp được sản phẩm,

iv. Máy tính và mạng Internet: TMĐT chỉ thực sự có vị trí quan trọng khi có
sự bùng nổ về máy tính và mạng internet vào những năm 90 của thế kỉ 20. Nhờ máy
tính và internet, doanh nghiệp có thể tiến hành giao dịch, mua bán, hợp tác trong
sản xuất, cung ứng dịch vụ, quản lý các hoạt động nội bộ doanh nghiệp, liên kết
cùng các đối tác trên toàn cầu và hình thành các mô hình kinh doanh mới. Việc tiến
hành giao dịch giữa doanh nghiệp với đối tác, khách hàng sẽ diễn ra một cách
nhanh chóng và thuận tiện hơn.
v. Smartphone, tablet và công nghệ thực thực tế ảo (VR): Smart phone và
tablet có thể coi là cuộc cách mạng của TMĐT trong thế kỉ 21. Mang ưu điểm của
cả điện thoại, máy tính và Internet, smartphone, tablet hiện đã trở thành một trong
những công cụ chính của TMĐT khi vừa có thể truyền tải hình ảnh, âm thanh, file
dữ liệu mà còn có thể truy cập mọi lúc, mọi nơi thông qua mạng viễn thông. Cùng
với sự phát triển của công nghệ điện tử, các smartphone và tablet ngày càng thông
minh hơn, xử lý tốt hơn và càng ngày càng tiệm cận với máy tính, hơn thế nữa lại
có ưu điểm về sự tiện dụng và khả năng di động. Một trong những phát minh mới
của thế kỉ 21 hứa hẹn sẽ đem đến bước tiến mới cho TMĐT và đang được rất nhiều
doanh nghiệp lớn chú ý đó là công nghệ thực tế ảo (VR). Thông qua môi trường
thực tế ảo, người sử dụng có thể quan sát được sản phẩm dưới nhiều góc nhìn (ví dụ


21

khách hàng mua nhà có thể xem trước thiết kế nội thất trong không gian 3 chiều
trước khi ra quyết định mua) hoặc trải nghiệm thử dịch vụ (ví dụ du lịch từ xa thông
qua thực tế ảo). Việc ra quyết định mua hàng và sử dụng dịch vụ đối với khách hàng
sẽ không còn bị ảnh hưởng nhiều bởi các quảng cáo và tiếp thị của doanh nghiệp.
Về phía doanh nghiệp, việc cung cấp các trải nghiệm thử cho khách thông qua công
nghệ thực tế ảo sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí thuê showroom, quảng cáo
và xúc tiến thương mại. Doanh nghiệp cũng có thể áp dụng công nghệ này để tiết
kiệm chi phí trong quá trình phát triển sản phẩm, sản xuất thử sản phẩm mẫu thông

nhận giá trị pháp ỉý của các thông tin số hoá, xuất xứ của thông tin số hoá, việc xác
nhận đã nhận được thông tin, thời gian, địa điểm gừi và nhận thông tin số hoá.
- Phần II quy định các giao dịch TMĐT trong một số lĩnh vực hoạt động gồm
2 điều khoản liên quan đến vận tải hàng hoá. Điều 16 quy định các hành vi liên
quan đến hợp đồng vận tải hàng hoá, điều 17 quy định về hồ sơ vận tải hàng hoá.
Luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL là cơ sở giúp đỡ tất cả các quốc gia trên
thế giới kể cả các quốc gia chưa gia nhập Liên hợp quốc hoàn thiện hệ thống pháp
luật của mình về sử dụng các phương tiện truyền và lưu giữ thông tin mới thay thế
cho các tài liệu bằng giấy. UNCITRAL cũng đã ban hành văn bản hướng dẫn việc
chuyển hoá các quy định của Đạo luật mẫu vào hệ thống nội dung luật của các quốc
gia.
b) Luật mẫu về chữ ký điện tử của UNCITRAL
Luật mẫu về chữ ký điện tử chính thức được thông qua vào ngày 29/09/2000.
Mục đích của luật này là hướng dẫn các quốc gia thành viên trong việc xây dựng
khung pháp lý thống nhất và công bằng để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề
về chữ ký điện tử, yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong các giao dịch
TMĐT.
Đạo luật này đưa ra những vấn đề cơ bản của chữ ký điện tử, chữ ký số hóa và
các vấn đề về người ký, bên thứ ba và chứng nhận chữ ký số. Đặc biệt, nhằm đưa ra
các hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng luật này, UNCITRAL đã đưa ra một bản
hướng dẫn thi hành chi tiết, trong đó có phân tích và hướng dẫn cách áp dụng từng
điều khoản của luật mẫu. Luật mẫu đã góp phần loại bỏ những cản trở trong việc sử
dụng chữ ký điện tử trong các giao dịch TMĐT ở phạm vi quốc tế.
c) Công ước của Liên họp quốc về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng
thương mại quốc tế
Công ước Liên Hợp Quốc về Sừ dụng Chứng từ điện tử trong Hợp đồng
thương mại quốc tế (UN Convention on the Use of Electronic Communications in
International Contracts) đã được thông qua tại phiên họp lần thứ 60 của Đại hội
đồng Liên hợp quốc theo Nghị quyết số A/RES/60/21 ngày 9/11/2005. Mục đích
của Công ước này đưa ra một khung quy định chung cho những vấn đề cơ bản nhất

như:
a) Khung pháp lý về thương mại điện tử của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nước đi đầu trong lĩnh vực TMĐT trên thế giới. Sau nhiều năm phát
triển, Hoa Kỳ đã ấn định ra các nguyên tắc cơ bản cho TMĐT của riêng mình, đồng
thời kiến nghị cho nền TMĐT toàn cầu.
Quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý cho TMĐT của Hoa Kỳ
dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản là:
- Các bên được tự do xác lập quan hệ hợp đồng với nhau khi thấy phù hợp.


24

- Các quy định phải có tính chất trung lập về mặt công nghệ và phải có tính
mở cho tương lai, có nghĩa là không được quy định về một loại công nghệ cụ thể
nào đó và không được hạn chế việc sử dụng hay phát triển của các công nghệ tương
lai.
- Các quy định hiện hành cần được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới trong
trường hợp cần thiết để hỗ trợ cho việc sử dụng công nghệ điện tử.
- Các quy định phải công bằng cho cả các doanh nghiệp đã áp dụng rộng rãi
các công nghệ mới và các doanh nghiệp còn chưa áp dụng.
Trong thời gian qua, chính quyền Liên bang và chính quyền các bang tại Hoa
Kỳ đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định hiện hành và ban hành một số quy định mới,
đáp ứng được yêu cầu của các giao dịch TMĐT, nhất là các quy định về luật hợp
đồng, bảo vệ người tiêu dùng, thẩm quyền tài phán, chứng cứ pháp lý… Có thể kể
đến một số mốc quan trọng như:
- Năm 1996, Bộ tài chính Hoa Kỳ cho ra mắt cuốn sách “Chính sách thuế đối
với thương mại điện tử toàn cầu” nhằm trung hoà về thuế giữa giao dịch điện tử và
phi điện tử.
- Năm 1997, cùng với sự hợp tác của các nhà khoa học, Hoa Kỳ đã thông qua
đề án “Khung kết cấu thương mại điện tử toàn cầu”, dựa trên 5 nguyên tắc cơ bản:

Luật giao dịch điện tử của Singapore đã đưa ra những quy tắc thương mại
nhằm làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong một giao dịch TMĐT.
Những quy tắc nằm trong đạo luật này mang các tính chất đặc trưng của những quy
định mẫu quốc tế, đặc biệt là các quy định của luật mẫu UNCITRAL về TMĐT.
Quy tắc thực hành chung trong Luật giao dịch điện tử của Singapore cũng chứa
đựng các điều khoản điều chỉnh việc ký kết hợp đồng qua các phương tiện điện tử
thông qua việc quy định về thời gian, địa điểm gửi và nhận thông tin điện tử. Đạo
luật này còn quy định về giá trị pháp lý của các bản ghi và chữ ký điện tử, cùng với
độ an toàn của chúng.
Như vậy, Luật giao dịch điện tử của Singapore đã tạo một môi trường pháp lý
khá phù hợp cho TMĐT và các giao dịch điện tử khác. Đạo luật này đã xoá bỏ được
những trở ngại trong các quy định pháp luật hiện hành và tạo được lòng tin cho các
doanh nghiệp, cá nhân khi tham gia vào TMĐT. So với các nước khác thì cách làm
của Singapore mang tính tổng thể hơn nhiều vì nội dung của luật giao dịch điện tử
bao trùm rất nhiều lĩnh vực liên quan. Điều này sẽ tạo ra cơ sở để Singapore có thể
phát triển mạnh mẽ TMĐT và trở thành một trong những trung tâm TMĐT phát
triển trên thế giới trong tương lại (Nguyễn Văn Thoan 2012, tr. 369).
c) Khung pháp lý về thương mại điện tử của Canada
Canada là một trong những nước đi đầu về ứng dụng, nghiên cứu và phát triển
TMĐT trên thế giới. Để tạo một môi trường pháp lý hoàn chỉnh cho các giao dịch
TMĐT, năm 2008, Chính phủ Canada đã tiến hành rà soát, sửa đổi toàn bộ các văn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status