Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tại thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ - Pdf 52

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định: Con người luôn ở
vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, lấy việc phát
huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền
vững. Tri thức con người là một nguồn lực không bao giờ cạn và luôn được tái
sinh với chất lượng ngày càng cao hơn bất cứ một nguồn lực nào khác. Lịch sử
phát triển nhân loại đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận: nguồn lực con người là
lâu bền nhất, chủ yếu nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp tiến
bộ của nhân loại.
Trước đây, trong các nhân tố sản xuất truyền thống như: đất đai, lao động, vốn
thì đất đai được coi là nhân tố sản xuất quan trọng nhất. Song, ngày nay đã có sự
thay đổi thứ tự ưu tiên. Chính nguồn nhân lực có chất lượng cao mới là yếu tố cơ bản
nhất của mọi quá trình. Vì vậy, để có được tốc độ phát triển cao các quốc gia trên thế
giới đều rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ngày nay, sự
cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp, các công ty, các sản phẩm chủ yếu
là cạnh tranh về tỷ lệ hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
nhờ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Do vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với các quốc gia trên
thế giới đã và đang trỏ thành vấn đề cấp bách có tầm chiến lược, là vấn đề có
tính chất sống còn trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế với trình độ khoa học –
công nghệ ngày càng cao và sự lan tỏa của kinh tế tri thức.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có
tính liên ngành liên vùng và xã hội hoá cao. Chất lượng của hoạt động du lịch
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm năng tài nguyên du lịch, chất lượng của hệ
thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngành Du lịch và kết cấu hạ tầng, chính sách phát
triển ngành Du lịch của Nhà nước, tình hình an ninh chính trị của đất nước, mức
độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế. Ngoài ra, với đặc thù của hoạt động du
lịch là khách du lịch muốn thụ hưởng các sản phẩm và dịch vụ du lịch thì phải
thực hiện chuyến đi đến những điểm cung cấp dịch vụ; quá trình sản xuất và tiêu

- Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay do GS. Phạm
Huy Lê và GS. TSKH Vũ Minh Giang (chủ biên), Chương trình KX07, Đề tài
KX07 - 02, Hà Nội, tập I - 1994, tập II – 1996
- Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH của GS, VS.
Phạm Minh Hạc (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001)
- Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH do GS, VS. Phạm
Minh Hạc chủ biên(NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001)
- Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ CNH, HĐH do GS,
VS. Phạm Minh Hạc và nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chủ biên (NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2003)


3
- “Phân tích và đánh giá chất lượng đội ngũ lao động tại cac khách sạn trên
địa bàn thành phố Huế” của Đoàn Công Thiện, năm 2007
- Nghiên cứu con người đối tượng và những hướng chủ yếu (NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2001)
- Phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước của TS. Nguyễn
Thanh (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002)
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất
nước của TS. Mai Quốc Chánh (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999)
- Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 - Đổi mới và sự nghiệp phát
triển con người (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001)
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu xác nhận tầm quan trọng
của nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới; phân tích thực trạng phát triển
con người, phát triển nguồn nhân lực và định hướng phát triển con người, phát
triển nguồn nhân lực trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, hay giải pháp để phát triển du lịch
nói chung, một số tác giả bàn đến hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong một số
doanh nghiệp, khách sạn cụ thể. Cho đến nay, việc đi sâu nghiên cứu phát triển

Đề tài nghiên cứu nguồn nhân lực trong ngành du lịch trên địa bàn thành phố
Việt Trì.
4.2.2 Phạm vi nội dung
Do điều kiện và năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu đặc điểm, vai trò, các nhân tố tác động, thực trạng phát triển nguồn
nhân lực trong ngành du lịch, đưa ra các giải pháp và đề xuất một số kiến nghị
nhằm phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa- hiện đại hóa ở thành phố Việt Trì.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng một số biện pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu (tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp).
- Phương pháp phân tích thống kê.
- Phương pháp tổng hợp số liệu.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, đề tài có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực ngành du lịch tại thành phố Việt Trì
tỉnh Phú Thọ.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch thành
phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ.


5
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực
1.1.1. Nguồn nhân lực
Thuật ngữ “nguồn nhân lực” được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế

lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao độngnvà
muốn có việc làm”.
Các nhà khoa học ở Việt Nam cho rằng: “Con người Việt Nam – mục tiêu
và động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội”. Ở đây, nguồn nhân lực được hiểu
là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và
trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc .
Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận, nhưng các
định nghĩa về nguồn nhân lực đều đề cập đến các đặc trưng chung là:
- Số lượng nguồn nhân lực: được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về quy
mô và tốc độ tăng trưởngnguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân
lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tế công việc đòi
hỏi phải tăng số lượng lao động; và các yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia
tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân.
- Chất lượng nhân lực: là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí
tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực thẩm mỹ,... của
người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan
trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn lao động.
- Cơ cấu nguồn lao động: đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh
giá về nguồn lao động. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác
nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi,…
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai
khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực.
Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ
bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, Nguồn nhân lực
được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân. Với tư cách là một nguồn lực
của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng
sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra là số lượng
và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Với cách hiểu như vậy, nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những
người trong độ tuổi lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng, mà

đào tạo, bồi dưỡng, phân bổ và sử dụng nguồn nhân lực làm sao khai thác, phát
huy được tiềm năng vô tận của con người là một vấn đề cấp thiết.
Có quan niệm cho rằng: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định
của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất
bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ
tiêu phản ánh trình độ kinh tế mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về
mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực
phát triển mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát
triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định”.


8
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua một hệ thống các chỉ tiêu,
trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Tình trạng sức khỏe của dân cư:
Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần. Sức khỏe là tổng hòa
nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.
Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái về sức khỏe chia thành: thể lực tốt, loại không
có bệnh tật gì, thể lực trung bình, thể lực yếu, không có khả năng lao động.
Bên cạnh các chỉ tiêu về trạng thái sức khỏe của người lao động còn có chỉ
tiêu đánh giá tình trạng sức khỏe của một quốc gia như: tỷ lệ sinh thô, tỷ lệ chết
thô, tỷ lệ tăng tự nhiên, tuổi thọ trung bình, cơ cấu giới tính, tuổi tác,…
- Trình độ văn hóa của người lao động:
Trình độ văn hóa của người lao động là sự hiểu biết của người lao động đối
với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội, biểu hiện thông qua: số
lượng người biết chữ và chưa biết chữ; số người có trình độ tiểu học; số người
có trình độ phổ thông cơ sở; số người có trình độ phổ thông trung học; số người
có trình độ Đại học – Cao đẳng;…
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động:
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động là sự hiểu biết, khả năng

1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn lực con người, hoặc phát triển nguồn nhân lực, hoặc phát
triển nguồn tài nguyên con người cùng với phát triển người là những khái niệm
hình thành và phát triển trên thế giới, chủ yếu trong thập niên 70, dựa trên quan
điểm mới về phát triển và về vị trí con người trong sự phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động học tập
có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự
thay đổi về hành vi nghề nghiệp cho người lao động được thực hiện bởi doanh
nghiệp .
Phát triển nguồn nhân lực được hiểu cơ bản là gia tăng giá trị cho con
người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực,...làm cho con
người trở thành những người lao động có những năng lực mới và cao, đáp ứng
được những yêu cầu to lớn của sự phát triểnkinh tế - xã hội, của sự nghiệp công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế đã có những bước tiến đáng kể: đạt
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân 7,5% / năm, nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng, chiến lược công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đã bắt đầu được đẩy mạnh; quan hệ đối ngoại, vị thế nước ta
trên trường quốc tế được nâng cao; chính trị - xã hội ổn định,…Đạt được nhiều
thành tựu trên là nhờ sức mạnh tổng hợp từ nhiều yếu tố: đường lối đúng đắn
của Đảng, sự quản lý thống nhất theo pháp luật của Nhà nước, sự điều hành
năng động của Chính phủ,… Đại hội Đảng lần thứ X đã khảng định: “Tăng


10
cường phát huy nội lực bằng cách phát triển nguồn nhân lực chủ yếu cho giai
đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” …”
1.2. Nguồn nhân lực du lịch
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm du lịch
●Khái niệm về du lịch


11
+ Tại các đầu mối giao thông: Các hoạt động phục vụ khách du lịch đi qua
bằng phương tiện giao thông đường hàng không, đường bộ, đường sắt, đường
biển để đến điểm du lịch của họ được tổ chức tại hệ thống cơ sở vật chất kỹ
thuật đặc thù như: sân bay, nhà ga, mạng lưới đường xá, cảng, các kho nhiên
liệu, các phương tiện máy móc và sửa chữa,… Các dịch vụ và phương tiện phục
vụ khách du lịch bao gồm: nhà hàng, quầy bar, cơ sở lưu trú, ngân hàng, viễn
thông, các cửa hàng bán lẻ, của hàng sách…, và hoạt động của một số cơ quan
quản lí nhà nước liên quan đến phục vụ khách du lịch như: biên phòng, xuất
nhập cảnh, hải quan cũng được tổ chức tại đây.
+ Tại điểm đến du lịch:
- Hoạt động của các doanh nghiệp phục vụ du lịch tuyến trước hay các
doanh nghiệp có giao dịch trực tiếp với du khách bao gồm: Dịch vụ lưu trú –
khách sạn , nhà nghỉ, khu nghỉ mát; dịch vụ ăn uống - nhà hàng, quán Bar; dịch
vụ vui chơi giải trí - các phương tiện thể thao, rạp hát, sòng bạc, công viên giải
trí, viện bảo tàng, các sự kiện và hoạt động lễ hội; dịch vụ lữ hành, vận chuyểncác hãng lữ hành, phòng bán vé hàng không, xe tuyến, tàu hỏa, tàu thủy, taxi, xe
cho thuê.
- Hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước chuyên ngành có liên quan
đến hoạch định chính sách, điều hành, kiểm soát, quản lý các dịch vụ phục vụ du
lịch như: cơ quan cấp phép, đăng ký kinh doanh, cơ quan bảo đảm an ninh, trật
tự an toàn xã hội, cơ quan quản lý rừng quốc gia, bảo tồn thiên nhiên, cơ quan
quản lý văn hóa…
- Hoạt động của cộng đồng dân cư liên quan đến phục vụ du lịch, như: các
gia đình, cá nhân, các tổ chức cộng đồng của dân tộc ít người tham gia quá trình
phục vụ khách du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Hoạt động của các đơn vị đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho các doanh
nghiệp du lịch tuyến trước và tuyến sau.
Tóm lại, nguồn nhân lực ngành du lịch được hiểu là lực lượng lao động
tham gia vào quá trình phát triển du lịch, bao gồm lao động trực tiếp và lao

khoẻ, trẻ trung và nhanh nhẹn, nên hình thành lực lượng lao động có cơ cấu độ
tuổi trẻ. Nhiều lĩnh vực phục vụ khách du lịch như lễ tân, bàn, bar, buồng đòi
hỏi có sự duyên dáng, cẩn thận và khéo léo của người phụ nữ. Vì vậy, tỷ lệ lao
động nữ thường cao hơn lao động nam.
- Không đồng đều về chất lượng và cơ cấu: Có sự phân bố không đồng đều
theo lãnh thổ và các nghiệp vụ du lịch. Xuất phát từ tính định hướng tài nguyên
rõ nét của ngành du lịch, các hoạt động du lịch thường diễn ra tại các khu, điểm
du lịch, những nơi có nhiều tài nguyên du lịch và được đầu tư đồng bộ về hạ
tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngành. Vì vậy, phần lớn lao động đã qua đào tạo
đều làm việc tại những khu du lịch, trung tâm du lịch lớn, ở những khu vực còn
lại thường thiếu lao động.


13
Trong ngành du lịch có nhiều công việc với yêu cầu lao động giản đơn,
không đòi hỏi phải đào tạo ở trình độ cao mới thể hiện được, dẫn đến tình trạng
tỷ lệ lao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học khá cao. Ngược lại, ở những
bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch, đội ngũ lao động thường được trang
bị đầy đủ các kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, giao tiếp và tỷ lệ thông thạo
ngoại ngữ tương đối cao.
- Có sự biến động mạnh về số lượng theo thời gian trong năm: Do ảnh
hưởng của tính thời vụ du lịch các hoạt động du lịch thường diễn ra sôi động
trong một thời gian nhất định của năm (còn gọi là mùa cao điểm), vào thời điểm
cao điểm của mùa du lịch, các doanh nghiệp du lịch thường phải tuyển dụng
thêm các lao động thời vụ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, phục vụ khách của
mình. Đến mùa thấp điểm, doanh nghiệp du lịch chấm dứt hợp đồng lao động
với những lao động thời vụ.
Lực lượng lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp du lịch lại
được chia thành 4 nhóm cơ bản với vai trò và đặc trưng khác nhau trong quá
trình hoạt động kinh doanh du lịch:

các tác động của các biến số vĩ mô của nền kinh tế, ảnh hưởng tới nhiệm vụ của
mình hoặc doanh nghiệp.
+ Nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách: Đây là những lao
động trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ
và phục vụ cho du khách. Nhóm lao động này rất đông đảo, thuộc nhiều ngành
nghề khác nhau và đòi hỏi phải tinh thông nghề nghiệp. Trong khách sạn có lao
động thuộc nghề lễ tân; nghề buồng; nghề chế biến món ăn; nghề bàn và pha chế
đồ uống; Trong kinh doanh lữ hành có lao động làm công tác điều hành chương
trình du lịch, marketing du lịch và đặc biệt có lao động thuộc nghề hướng dẫn du
lịch... Trong ngành vận chuyển khách du lịch có lao động thuộc nghề điều khiển
phương tiện vận chuyển du lịch...
1.2.2. Vai trò và xu hướng phát triển nguồn nhân lực du lịch
1.2.2.1 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với ngành du lịch ở
Việt Nam
Phát triển nguồn nhân lực du lịch là những hoạt động nhằm tăng cường số
lượng và nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc của lực lượng lao động đang và
sẽ làm việc trực tiếp trong ngành du lịch, bao gồm: Lao động thuộc các cơ quan
quản lí nhà nước về du lịch và các đơn vị sự nghiệp trong ngành từ trung ương
đến địa phương, lao động trong các doanh nghiệp du lịch gồm đội ngũ cán bộ
quản trị kinh doanh, đội ngũ lao động nghiệp vụ trong các khách sạn - nhà hàng,
công ty lữ hành, vận chuyển du lịch..., Lao động làm công tác đào tạo du lịch
trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học .


15
Nguồn nhân lực là nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và đối với ngành du lịch nói riêng. Vai trò
đó được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất: phát triển nguồn nhân lực quyết định đến sự phát triển của các
nguồn lực khác. Trong ngành kinh tế nói chung và trong ngành du lịch nói riêng,


16
cầu tiêu dùng của khách hàng lại tác động mạnh mẽ tới việc cung ứng sản phẩm
đó, định hướng phát triển thông qua quan hệ cung cầu trên thị trường. Nếu thị
trường nhu cầu của một loại hàng hóa dịch vụ nào đó tăng lên, lập tức thu hút
lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ đó và ngược lại. Như chính
nhu cầu tiêu dùng của khách hàng đã tác động gián tiếp đến thị trường lao động,
tức là tác động tới nguồn lực con người. Nhu cầu du lịch ngày càng phát triển đã
thu hút một lượng lớn lao động trực tiếp phục vụ trong ngành, tạo ra nhiều công
ăn việc làm cho người lao động, đồng thời chính lực lượng đó cũng tạo ra nhiều
của cải vật chất cho xã hội, điều đó lại tác động tới phát triểnkinh tế - xã hội.
Thứ tư: nguồn nhân lực tiếp tục đưa ngành du lịch phát triển trong thời đại
khoa học công nghệ và toàn cầu hóa. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo
ra sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trong tất cả các lĩnh vực của đời
sốngkinh tế - xã hội, cùng với đó là quá trình toàn cầu hóa đã tạo điều kiện thuận
lợi và cơ hội cho các nước phát triển được nhiều ngành, trong đó du lịch được coi
là ngành “công nghiệp không khói” giàu tiềm năng nhất. Cuộc cách mạng khoa
học công nghệ hiện đại đã đem đến sự thỏa mãn về nhu cầu tiêu dùng của khách
hàng như tiêu chuẩn về phòng ngủ, dịch vụ vận chuyển, tiện nghi…
Một trong những điểm khác biệt tạo nên đặc điểm riêng có của ngành du
lịch ở mỗi quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa đó là thái độ phục vụ của nhân
viên trong các đơn vị kinh doanh du lịch, khả năng đáp ứng sự thỏa mãn trong
việc tiêu dùng các sản phẩm du lịch của khách hàng bởi vì nhu cầu của con
người vô cùng phong phú, đa dạng và không ngừng tăng lên. Có thể nói, để đảm
bảo khả năng cạnh tranh hiệu quả trong ngành du lịch và đảm bảo cho sự phát
triển bền vững, các nước phải nhanh chóng giải quyết một cách có hiệu quả việc
phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tóm lại, việc nhận thức đủ tầm quan trọng của người lao động trong hoạt
động thực tiễn của ngành du lịch, sự đầu tư, quan tâm đúng mức tới công tác
nhân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng. Vấn đề đặt ra đối với ngành du lịch là thu

giá trị GDP du lịch so với GDP cả nước chiếm 6,4 % vào năm 2020.
- Xu hướng thứ hai: có sự thay đổi hướng đi của luồng khách du lịch quốc tế.
Trước đây, khách chủ yếu đến nghỉ dưỡng tại các vùng biển nổi tiếng của thế giới.
Ngày nay, nguồn khách này được phân tỏa tới những vùng, những nước mới phát
triển du lịch như vùng Châu Á – Thái Bình Dương, vùng Caribe,…Các nước
Đông Nam Châu Á đang có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân của khu
vực cả về số khách và thu nhập .
- Xu hướng thứ ba: mức chi tiêu của một khách du lịch ngày càng tăng và
cơ cấu chi tiêu của khách du lịch thay đổi. Tỷ trọng chi tiêu của khách cho các
dịch vụ cơ bản (ở, vận chuyển, ăn uống,…) giảm dần. Tỷ trọng chi tiêu của
khách cho các dịch vụ bổ sung (mua sắm, tham quan, giải trí,…) tăng lên. Kết
quả điều tra về chi tiêu của khách du lịch tại nhiều quốc gia cho thấy: nếu trước
đây, khách du lịch chi tiêu 60 – 70% cho ăn, ở, đi lại và 30 – 40% chi cho mua


18
sắm hàng hóa, tham quan và giải trí thì ngày nay là ngược lại, chi 40 – 50% cho
ăn, ở, đi lại và 50 – 60% cho mua sắm hàng hóa, tham quan, giải trí và dịch vụ
khác.
- Xu hướng thứ tư: Với sự phát triển của khoa học công nghệ và thông tin
ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch nắm bắt thông tin các điểm
đến, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống đặt chỗ qua mạng internet ngày càng
được du khách sử dụng phổ biến.
- Xu hướng thứ năm: sự hợp tác song phương, đa phương về xúc tiến phát
triển du lịch giữa các nước ngày càng mở rộng. Hiện nay, trên thế giới ngoài tổ
chức du lịch thế giới (Word Tourism Organization, WTO) , còn có nhiều tổ chức
du lịch khu vực, liên khu vực đã ra đời: Hiệp hội du lịch khu vực Thái Bình
Dương; Hiệp hội du lịch vùng Caribe; Hiệp hội du lịch vùng Đông Nam Á;…
- Xu hướng thứ sáu: xu hướng ngày càng tăng của khách du lịch tới nhiều
điểm du lịch của các nước khác nhau trên một chuyến đi nhờ sự thuận lợi của

ngành du lịch nói riêng.
- Xu hướng thứ chín: Đặt du lịch trong tổng thể phát triển của nền kinh tế
và tiến tới phát triển du lịch bền vững, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và tăng
cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới và
khu vực đã và đang tạo những cơ hội đồng thời cũng là thách thức đối với phát
triển du lịch Việt Nam nói chung và du lịch thành phố Vệt Trì nói riêng. Trước
bối cảnh và xu hướng đó, định hướng phát triển du lịch Việt Nam phải đáp ứng
được những yêu cầu mới của thời đại về tính chuyên nghiệp, tính hiện đại, hội
nhập và hiệu quả đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, yếu tố truyền
thống để phát triển bền vững, tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và
đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế.
Xu hướng phát triển ngành du lịch đặt ra yêu cầu và tác động trực tiếp tới cơ cấu
số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Xu hướng nhân lực du lịch ngày càng
đòi hỏi cao về trình độ, kỹ năng quản lý; kỹ năng nghề nghiệp hướng tới đạt chuẩn
nhưng cần có mức độ tinh tế và nhạy cảm trong phục vụ và giao tiếp; lao động phổ
thông du lịch dần trở nên kém hấp dẫn thay thế bởi lao động thời vụ ngày càng phổ
biến; lao động tự chủ (self employment) ngày càng tăng ứng với mô hình du lịch
cộng đồng, kinh tế hộ gia đình.
 Nhu cầu về số lượng nhân lực
Hiện tại, cả nước có trên 1,3 triệu lao động du lịch và liên quan, chiếm
khoảng 2,5% tổng lao động cả nước, trong đó có khoảng 420.000 lao động trực
tiếp làm việc trong các cơ sở dịch vụ du lịch. Cơ cấu lao động ngành với 42%
được đào tạo về du lịch, 38% được đào tạo từ các ngành khác chuyển sang và
khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy mà chỉ qua huấn luyện tại chỗ. Sự phân
bố lao động giữa các lĩnh vực, vùng miền cũng chưa phù hợp. Số lao động cần


20
có chuyên môn, kỹ năng cao vừa thiếu, vừa yếu; số lao động chưa đáp ứng yêu

Năm
2010

Năm
2015

418.25
0

620.10
0

207.60
0
65.800
146.20
0

312.10
0
92.700
215.30
0

1.450
53.800
78.200

2.400
82.400

0
3 Theo loại lao động
3.1 Lao động quản lý
32.500
3.2 Lao động nghiệp vụ
387.10
0
1) Lễ tân
37.200
2) Phục vụ buồng
48.800
3) Phục vụ bàn, bar
68.400
4) Chế biến món ăn
5) Hướng dẫn
6) VPDL, ĐL lữ hành
7) Nhân viên khác

% tăng
TB cả
giai
đoạn

35.700
20.600
31.100
145.30

Năm
2020

9,2
7,5
10,2

231.000
10,7

10,4
348.300

8,6

9,2
7,4
9,3
9,9
7,6
9,9
13,8
8,4

5,9
83.300
787.000
69.500
98.000
153.000
73.400
45.000
81.400

chung do nhu cầu quản lý; lao động nghiệp vụ cần nhiều trong thời gian tới như văn
phòng du lịch, đại lý lữ hành, hướng dẫn do mở rộng nhiều loại hình du lịch phong
phú; nghiệp vụ buồng, bàn, bar cũng tăng cao hơn mặt bằng chung do đây là lĩnh
vực cần nhiều lao động dịch vụ. Hầu hết các loại lao động tăng nhẹ trong giai đoạn
2016-2020. Tuy nhiên, nhu cầu nhân lực được đào tạo cơ bản vẫn chiếm tỷ trọng
lớn; lao động phổ thông sẽ giảm tương đối và dựa chủ yếu vào số lao động thời vụ.
Như vậy, nhu cầu lao động du lịch ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, loại
lao động đều tăng trong thời gian tới. Bức tranh tổng thể về nhu cầu nhân lực
cho thấy hàng năm cần đào tạo bổ sung ở tất cả các ngành nghề du lịch để đáp
ứng yêu cầu phát triển. Tuy nhiên, để đáp ứng đúng yêu cầu đó đòi hỏi nhân lực
du lịch không chỉ được đào tạo đủ về số lượng mà phải đáp ứng yêu cầu về chất
lượng, tức cần có trình độ kiến thức, kỹ năng quản lý điều hành, kỹ năng nghiệp
vụ chuyên môn, ngoại ngữ cũng như phẩm chất, thái độ nghề nghiệp phù hợp
Nhu cầu về chất lượng nhân lực
Trước hết có thể thấy rõ nhu cầu lớn về kiến thức quản lý, kỹ năng điều
hành cần đào tạo ở trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học để đáp ứng nhu cầu
lao động quản lý từ bậc trung (giám sát) trở lên cho tới quản lý bậc cao ở doanh
nghiệp và quản lý vĩ mô, hoạch định chính sách tại địa phương và trung ương.
Khi chuyển dịch theo xu hướng phát triển bền vững coi trọng chất lượng dịch vụ
với hàm lượng giá trị gia tăng cao thì đòi hỏi đội ngũ lao động quản lý và lao


22
động nghiệp vụ phải thực sự chuyên nghiệp. Do vậy, nhu cầu nhân lực được đào
tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu kỹ năng bậc cao sẽ rất lớn. Số liệu dự báo trên bảng cho
thấy nhu cầu đào tạo ở trình độ trên đại học tăng 13,1% giai đoạn 2011-2015 và 9, 2%
giai đoạn 2016-2020, tăng cao hơn mức tăng trưởng chung; tương tự nhu cầu cần đạo
tạo trình độ trung cấp tăng 9,5%/năm giai đoạn 2011-2015 sau đó tăng mạnh hơn ở
mức 10,2%/năm giai đoạn 2016-2020 do mức độ chuẩn hóa đã đạt được nhất định.
Nhu cầu đào tạo trình độ cao đẳng và đại học tăng cao 10,6%/năm giai đoạn 2011-201

lớn, tốc độ gia tăng cao chính là lực cản đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế và
phát triển nguồn nhân lực. Tốc độ gia tăng dân số cao gây sức ép lên các cơ sở
hạ tầng xã hội, ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách xã hội của nhà
nước, trong đó có chính sách về giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số ở
mức hợp lý.
- Các chính sách kinh tế - xã hội, kế hoạch, qui hoạch, liên kết trong phát
triển của tỉnh: Các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước như: chính sách
giáo dục đào tạo; chính sách tuyển dụng, sử dụng lao động, lao động tiền lương,
bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động... đều có tác động trực tiếp đến nguồn nhân
lực.
Chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước không chỉ tạo điều kiện phát triển
nguồn nhân lực mà còn hạn chế các tác động tiêu cực đến sự phát triển của
nguồn nhân lực thông qua những công cụ điều tiết vĩ mô. Chính sách phát triển
du lịch của Nhà nước tác động đến sự phát triển du lịch, trong đó chính sách đào
tạo phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển nguồn nhân lực du lịch.
- Các nhân tố tác động từ bên ngoài:
+ Toàn cầu hoá
Quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy cuộc chạy đua phát triển nguồn nhân lực
tại các quốc gia, khu vực trên thế giới. Toàn cầu hóa đã làm cho các nền kinh tế
phát triển nhanh chóng hơn và trở thành một thị trường toàn cầu, tương tác và
phụ thuộc lẫn nhau, cạnh tranh gay gắt với nhau. Khả năng cạnh tranh được
quyết định bởi năng lực tạo ra giá trị tăng thêm của các sản phẩm, dịch vụ và các
quá trình hoạt động của mỗi quốc gia và của từng doanh nghiệp. Đóng góp chủ
yếu vào điều này phụ thuộc vào kiến thức và các kỹ năng của lực lượng lao
động. Trên thực tế, sự nghiệp giáo dục và ĐT và các kỹ năng của lực lượng lao
động là vũ khí cạnh tranh quan trọng trong thế kỷ XXI.
Quá trình toàn cầu hóa đã tác động rất lớn tới nông nghiệp, nông thôn và
nông dân Việt Nam. Đô thị hóa một cách cấp tốc, dồn nén sẽ ẩn chứa nhiều

Các dịch vụ du lịch được chia thành 2 nhóm chính là nhóm dịch vụ chính
(gồm ăn uống và lưu trú) và nhóm dịch vụ bổ sung (nghỉ dưỡng, tham quan, tìm
hiểu, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khoẻ, tham gia các hoạt động thể thao, văn
hoá - xã hội...). Cùng với xu thế đi du lịch nhiều lần trong năm thì khách du lịch
ngày càng có nhu cầu nhiều hơn với các dịch vụ thuộc nhóm dịch vụ bổ sung.
Những thay đổi của “cầu du lịch” đã làm thay đổi “cung du lịch” và qua đó tác
động trực tiếp, làm thay đổi sự phát triển của nguồn nhân lực ngành du lịch.


25
1.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia và địa phương trong phát triển nguồn
nhân lực du lịch
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của một
số nước trên thế giới
1.3.1.1.Thái Lan
Chính phủ Thái Lan luôn coi việc phát triển nguồn nhân lực là một trong các
vấn đề ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch phát triển quốc gia. Kế hoạch phát triển du
lịch tập trung giải quyết nhóm vấn đề về giáo dục nghề nghiệp du lịch xuất phát từ
yêu cầu nhiệm vụ của ngành du lịch Thái Lan.
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần 1 (1961-1967) đã nhấn mạnh việc
phát triển kinh tế quốc gia chỉ có thể đạt được khi có sự chuẩn bị sẵn sàng nguồn
nhân lực được giáo dục, đào tạo, dạy nghề. Kế hoạc lần 2 (1967-1971) đặt phát
triển công nghiệp lên ưu tiên hàng đầu và nhấn mạnh đào tạo về kỹ thuật, nông
nghiệp, khoa học và y khoa. Kế hoạch lần 3 (1972-1976) một lần nữa công bố
sự chú trọng của Chính phủ trong đào tạo kỹ sư, các nhà khoa học, bác sỹ, y tá
và giáo viên. Kế hoạch lần 4 (1977-1981) và lần 5 (1982-1986) với sự cam kết
tiếp tục tăng cường phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực kỹ thuật và công
nghệ; đáng lưu ý là sự bùng nổ kinh tế bắt đầu vào cuối năm 1980. Kế hoạch lần
6 (1987-1991) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực phát triển
nguồn nhân lực du lịch. Kế hoạch lần 7 (1992-1996) nhằm chuẩn bị để Thái Lan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status