Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an - Pdf 52

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ LỢI

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN ĐA DẠNG
SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT,
HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ LỢI

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN ĐA DẠNG
SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT,
HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

CHUYÊN NGÀNH

: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ

: 60.44.03.01

Người hướng dẫn khoa học

Tôi xin được trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ Vườn quốc gia Pù Mát; đặc
biệt là các cán bộ Phòng Giáo dục môi trường và Du lịch sinh thái, Phòng Khoa
học và Hợp tác quốc tế đã cung cấp cho tôi những số liệu cần thiết, tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tại Vườn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lợi

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv


4

1.1.3. Vai trò của vườn quốc gia trong bảo tồn đa dạng sinh học

8

1.2. Bảo tồn đa dạng sinh học
1.2.1. Khái niệm đa dạng sinh học

9
9

1.2.2. Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học

10

1.2.3. Sự cần thiết phải bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia

13

1.2.4. Thực trạng về bảo tồn đa dạng sinh học ở một số VQG trên thế giới 14
1.2.5. Thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia ở Việt Nam 15
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học

19

1.3.1. Sơ lược các yếu tố ảnh hưởng đến một số vườn quốc gia điển hình trên
thế giới

19


24
24

2.3.3. Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát.
24
2.3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn đa
dạng sinh học.

24

2.4 24
.
2 24
.
2 25
.
2.5 26
.
Ch 27
ươ
3.1 27
.
3 27
.
3 30
.
3.2 35
.
3 35


: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

BTĐDSH

: Bảo tồn đa dạng sinh học

BTTN

: Bảo tồn thiên nhiên

BQL

: Ban quản lý

BQLVQG

: Ban quản lý vườn quốc gia

CS

: Cộng sự

DLST

: Du lịch sinh thái

ĐDSH

: Đa dạng sinh học

TNTN

: Tài nguyên thiên nhiên

UBND

: Ủy ban nhân dân

UNEP

: Chương trình môi trường Liên hợp quốc

VQG

: Vườn quốc gia

WWF

: Quỹ bảo vệ thiên nhiên quốc tế

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


DANH MỤC BẢNG
STT

Tên bảng



36

3.4
36

So sánh số loài thực vật có mạch ở một số vườn quốc gia tại Việt Nam

3.5

Các taxon có mạch ở vườn quốc gia Pù Mát

3.6

Số lượng và tỷ lệ các loài cây có ích phục vụ nhu cầu của con người

37

tại VQG Pù Mát

37

3.7

Các taxon phân loại động vật ở Vườn quốc gia Pù Mát

40

3.8



Các loại hình tuyên truyền của cán bộ VQG Pù Mát tới người dân
sống trong khu vực vùng đệm

3.14

49

Các hình thức tuyên truyền bảo tồn đa dạng sinh học tại trường học
của cán bộ VQG Pù Mát

3.15

50

Các hình thức tuyên truyền bảo tồn đa dạng sinh học tại thôn bản
của cán bộ VQG Pù Mát

51

3.16

Các chương trình, dự án thực hiện tại VQG Pù Mát

53

3.17

Phân tích mỗi quan hệ giữa chủ rừng và các bên liên quan tại khu


a 2
3.2 Tì
3 n
P 6
ù 3
3.2 T
4 hà
th 6
ác 4
3.2 H
5 oạ
v 6
ư 5
3.2 N 6
6 g 6
3.2 D 6
7 ân 8
3.2 H 6
8 iệ 9
3.2 T
9 ư
n 6
g 9
3.3 M
0 ỗi
v 7
ù 0
3.3 Ý
1 th
v 7

Page 9


MỞ ĐẦU
Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan
trọng đối với sự phát triển trên toàn thế giới. Với sự phát triển nhanh chóng của
kinh tế - xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã làm cho
đa dạng sinh học (ĐDSH) bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng. Nhiều loài động
vật và thực vật bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là
do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý. Do đó, việc quản lý tài nguyên
và bảo tồn đa dạng sinh học là thực sự cần thiết và cấp bách (Nguyễn Hoàng
Nghĩa, 1999).
Vườn quốc gia (VQG) Pù Mát được thành lập vào ngày 08/11/2001 (tiền
thân là khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát được thành lập năm 1995) nằm dọc theo
biên giới Việt Lào thuộc khu vực Tây Nam tỉnh Nghệ An. Đây là VQG có diện
tích lớn nhất phía Bắc Việt Nam, với diện tích 94804,4ha. VQG Pù Mát là
một trong những VQG tiêu biểu của Việt Nam và thế giới, có nguồn tài nguyên
ĐDSH phong phú, chứa nhiều nguồn gen động vật và thực vật quý hiếm, cảnh
quan thiên nhiên hùng vĩ và có nét văn hóa bản địa rất đặc sắc. Với 2.494 loài
thực vật bậc cao có mạch và 1.824 loài động vật thuộc các nhóm thú, chim, bò
sát, lưỡng cư, cá, côn trùng và kiến. Đặc biệt, nơi đây phân bố các loài thú quý
hiếm, đặc hữu mới được các nhà khoa học phát hiện trong thập niên 90 của thế
kỷ 20 gồm: Sao la, Mang Trường Sơn. Vườn còn là nơi lưu giữ bảo tồn các loài
thực vật quý hiếm không chỉ cho Việt Nam mà cả thế giới như: Pơ Mu, Sa Mu
Dầu. Thông qua các hoạt động bảo tồn, nghiên cứu khoa học (NCKH), du lịch
sinh thái, VQG đã và đang góp phần thúc đẩy phát triển, nâng cao đời sống cho
người dân. Đồng thời giữ gìn và phát triển bền vững bản sắc và giá trị văn hóa
của các dân tộc sinh sống trên địa bàn (Trần Xuân Cường và cs, 2012).
Sinh sống trong vùng lõi và vùng đệm VQG Pù Mát có các dân tộc: Thái,


- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vườn quốc gia
1.1.1. Khái niệm vườn quốc gia
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về vườn quốc gia:
Theo quyết định số 62/2005/QĐ - BNN ngày 12/10/2005 của Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn: Vườn quốc gia là một khu vực tự nhiên trên đất
liền hoặc có hợp phần đất ngập nước biển, có diện tích đủ lớn để thực hiện mục
đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác
động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho
thế hệ hôm nay và mai sau. Vườn quốc gia là nền tảng cho các hoạt động tinh
thần, khoa học, giáo dục, giải trí và các hoạt động DLST được kiểm soát và ít
có tác động tiêu cực.
Theo liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên
(IUCN, 2006) đã đưa ra định nghĩa về vườn quốc gia như sau:
Vườn quốc gia là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên
biển mà:
+ Ở đó, có một hay vài hệ sinh thái không bị thay đổi lớn do sự khai thác
hoặc chiếm lĩnh của con người. Các loài thực vật, động vật, các đặc điểm hình
thái, địa hình, địa mạo và nơi cư trú của các loài hoặc cảnh quan thiên nhiên đẹp
là mỗi quan tâm cho nghiên cứu khoa học, cho giáo dục và giải trí.
+ Ở đó, có quản lý thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ nhanh
chóng sự khai thác cho các mục đích nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, giải trí và

vật hoang dã bị săn bắn làm các loại hàng hóa đặc biệt. Kruger là nơi cư trú
của hơn 517 loài chim, 147 loài động vật có vú khác. Năm 1989, số lượng voi
bị giết hại trở nên nhiều nên VQG đã cố gắng bảo vệ chúng. Đến năm 2004 số
lượng voi đã tăng lên 11670 con, năm 2006 là 13500 con…Ở đây với nhiều
loài động vật hoang dã, quý hiếm như: Sư tử, voi, chó hoang, ngựa vằn, linh
dương, tê giác, bò rừng…Du khách đến đây có nhiều cơ hội thỏa mãn sở thích
chụp ảnh (Hà Duy, 2011).
Vườn quốc gia Galapagos
VQG Galapagos ở Equador không chỉ là một VQG mà còn là một di sản
thế giới, một khu dữ trữ sinh quyển và giờ đây còn là một khu dữ trữ sinh thái
biển. Về mặt vị trí thì VQG Galapagos nằm tách khỏi lục địa, có môi trường phù
hợp cho các loài sinh vật thích nghi như: rùa, chim sẻ, xương rồng khổng lồ và
họ hàng hướng dương, chim bói…(Hà Duy, 2011).
Tuy ở các nước khác nhau nhưng các VQG có đặc điểm chung là bảo vệ
các loài động - thực vật hoang dã, quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, các

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


cảnh đẹp thiên nhiên hùng vỹ mà thiên nhiên ban tặng cùng với nét văn hóa địa
phương nhiều bí ẩn mà khách du lịch muốn khám phá.
b) Các vườn quốc gia điển hình ở Việt Nam
Năm 2003, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt quyết định số 192/2003/QĐ
- TTg ban hành chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt
Nam đến năm 2012 (Chính phủ, 2003).

Hình 1.1: Quá trình phát triển hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2004.

rừng và bảo vệ môi trường. Xuất bản các ấn phẩm (tờ rơi, sách…) tuyên truyền
cho du khách (VQG Ba Bể, 2013).
Bên cạnh những kết quả vẫn còn những hạn chế như: kinh phí cho hoạt
động nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế do vườn trực thuộc tỉnh Bắc Cạn. Các
đề tài nghiên cứu mang tính chất thử nghiệm.
Qua những hoạt động đã đạt được và chưa đạt được của Vườn ta có thể rút
ra một số bài học kinh nghiệm như: dưới sự lãnh đạo của UBND tỉnh Bắc Cạn,
giám đốc VQG Ba Bể là người trực tiếp chỉ đạo các hoạt động, chương trình của
Vườn. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương đó chính là những cán bộ,
người dân có năng lực đều đã được huy động tham gia vào các hoạt động,
chương trình của Vườn, chính họ đã góp phần quyết định đến sự thành công
trong công tác bảo tồn thiên nhiên và phát triển DLST. Cần phải duy trì và tiếp
tục phát triển các hạt nhân địa phương này theo cùng mục tiêu chung để tập trung
nguồn nhân lực, giữ vững các thành quả đạt được và tiến tới thành công mới. Bên
cạnh nguồn lực chính từ ngân sách nhà nước thì ban quản lý Vườn có nhiều hoạt
động nhằm thu hút nguồn tài trợ từ các cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài
nước để cung cấp cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển DLST. Sự tham gia
và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan trong đó có cộng đồng là thực sự cần

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


thiết cho sự điều phối hiệu quả. Để trên cơ sở đó, mọi hoạt động diễn ra đều được
các bên liên quan hiểu rõ, tham gia và ủng hộ.
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được thành lập năm 2001 nằm ở
phía tây tỉnh Quảng Bình. VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là một trong những khu
rừng đặc dụng hàng đầu của Việt Nam đang lưu giữ nhiều giá trị khoa học rất

Qua những hoạt động đã đạt được và chưa đạt được của Vườn, ta có thể
rút ra những bài học kinh nghiệm như sau: VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã có
những nỗ lực trong công tác nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, để có nguồn kinh
phí lớn cho NCKH thì BQLVQG cần có những hoạt động nhằm thu hút sự tham
gia của các cá nhân, tập thể trong và ngoài nước, để toàn thể cộng đồng cùng
chung tay góp sức xây dựng và phát triển bền vững vườn quốc gia. VQG Phong
Nha - Kẻ Bàng được thiên nhiên ưu đãi có nhiều cảnh đẹp, là địa điểm hấp dẫn
khách du lịch. BQLVQG cần có những chương trình tập huấn các hoạt động
nhằm thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào việc bảo vệ rừng và
phát triển DLST của Vườn (Đinh Hải Dương, 2010).
1.1.3. Vai trò của vườn quốc gia trong bảo tồn đa dạng sinh học
1.1.3.1. Trên thế giới
Các vườn quốc gia được thành lập có vai trò to lớn trong việc bảo tồn các
loài động - thực vật, cụ thể là:
- Tổ chức NCKH về bảo vệ, bảo tồn, phát triển động - thực vật rừng, đặc
biệt đối với các loài động - thực vật quý hiếm, đặc hữu, nguy cấp. Sưu tập, nuôi
trồng thực nghiệm, bảo tồn các nguồn gen, các loài động - thực vật quý hiếm.
- Phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại và sinh vật ngoại lai
xâm hại, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại rừng, môi trường cảnh quan.
- Các VQG được thành lập thu hút được nhiều dự án cho BTĐDSH và các
dự án phát triển kinh tế cho người dân sống trong vùng đệm của VQG.
- Giải quyết được việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Các dự án phát
triển kinh tế sẽ giúp cho người dân cải thiện được cuộc sống. Du lịch sinh thái ở
VQG phát triển sẽ giúp cho người dân có thêm việc làm trong các dịch vụ sinh thái
phục vụ khách du lịch. Giúp cho kinh tế của người dân được tốt hơn từ đó giảm
được sức ép của người dân vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên (Hà
Duy, 2011).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


sống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước
ngọt và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là bộ phận. ĐDSH bao gồm sự đa
dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái (đa dạng sinh
thái). Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và tổ hợp
(Bộ NN & PTNN, 1998).
Theo khoản 5, điều 3, luật đa dạng sinh học năm 2008: ĐDSH là sự
phong phú về nguồn gen, các loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên (Luật
ĐDSH, 2008).
ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên
Trái Đất, từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất, từ vi sinh vật,
nấm, thực vật, động vật, các hệ sinh thái và môi trường chúng sinh sống.
ĐDSH trực tiếp phục vụ đời sống của con người trong phát triển kinh tế,
góp phần xóa đói giảm nghèo…Những giá trị trực tiếp đó là giá trị sử dụng, tiêu
thụ và sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu của con người. ĐDSH và cảnh
quan là nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước,
bảo vệ môi trường trong giảm nhẹ các tác động bất lợi do biến đổi khí hậu hiện
nay (Hồ Văn Cử, 2003).
1.2.2. Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học (BTĐDSH) là quá trình quản lý mối tác động
qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi
ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ mai sau.
Bảo tồn đa dạng sinh học ở mọi mức độ về cơ bản là duy trì các quần thể

I K
I h
I K
I h
T


S D
ố iệ
3 1
1
6 1
4
4 1
0
1
3

1 2
2 0
NNg
guy
Trong 128 khu bảo tồn rừng hiện nay có 30 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn

thiên nhiên, 48 khu dữ trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 38 khu
bảo vệ cảnh quan, với tổng diện tích 2.400.092 ha, chiếm 7,24% diện tích tự
nhiên trên đất liền của cả nước (Nguyễn Văn Dũng và cs, 2007).
Hệ thống các khu rừng đặc dụng hiện có phân bố rộng khắp trên các vùng
sinh thái toàn quốc. Tuy nhiên, hệ thống các khu rừng đặc dụng hiện nay có đặc
điểm là phần lớn các khu rừng đặc dụng đều có diện tích nhỏ, phân bố phân tán.

◦ Thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết. Hệ thống các vườn thực
vật, vườn cây gỗ, thường được quy hoạch, thiết kế chưa có hệ thống, chưa có tính
chất chuyên đề, chuyên sâu hay đại diện cho từng vùng sinh thái trên toàn quốc.
Các vườn thú chủ yếu vấn mang tính chất phục vụ tham quan, chưa chú ý đến
công tác bảo tồn.
◦ Công tác sưu tập chưa chú ý tới các loài quý hiếm, các loài lâm sản ngoại
gỗ, số lượng loài sưu tập còn ít, chưa có vườn thực vật nào vượt quá 500 loài.
◦ Việc đào tạo cán bộ bảo tồn chuyển vị rất hạn chế, nhất là cán bộ chuyên sâu
bảo tồn chuyển vị làm việc tại các vườn thực vật, vườn động vật, trạm cứu hộ.
◦ Vấn đề bảo tồn chuyển vị chưa được quan tâm đúng mức trong các chủ
trương chính sách về BTTN. Cho đến nay mới chỉ có một số văn bản như: Quyết
định số 225/1999/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về giống cây trồng, giống
vật nuôi. Quyết định 86/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về việc quy
hoạch tổng thể hệ thống bảo tồn tự nhiên Việt Nam đến năm 2020.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


◦ Cho đến nay, việc đầu tư phát triển các vườn thực vật, vườn cây gỗ, cây
rừng, vườn động vật và các trạm cứu hộ chưa được thực sự chú ý. Chưa có chính
sách đầu tư các nguồn khác như các tổ chức kinh tế, xã hội, cộng đồng.
- Phục hồi (Rehabilitation):
Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển vị.
Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh,
các quá trình sinh thái. Việc phục hồi sinh thái bao gồm một số công việc như
phục hồi lại các hệ sinh thái tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi
trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần
hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc

đổi, cải tiến về chính sách, thể chế trong quản lý và tất nhiên là thực hiện tiến
trình này cần rất sự hỗ trợ và hợp tác của nhiều tổ chức, cơ quan trong và ngoài
nước có liên quan (Bộ NN & PTNT, 2004).
1.2.4. Thực trạng về bảo tồn đa dạng sinh học ở một số VQG trên thế giới
Bảo tồn thông qua việc thiết lập hệ thống các khu bảo tồn là ý tưởng đầu
tiên xuất hiện ở Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX bằng việc thành lập VQG Yellowstone
ngày 01/3/1872 (Oilwatch, 2004).
Bảo tồn ngày càng được chú trọng, mở đầu là việc tổ chức hội nghị thế
giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thể kỷ XX, vấn đề đào tạo
chuyên sâu về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã được quan tâm, các giải
pháp BTĐDSH, các chương trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác nhau
như hưởng lợi từ động vật hoang dã, con người và sinh quyển cũng đã được triển
khai. Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG và khu
bảo tồn được tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các khu bảo tồn đến việc chú ý nhiều
đến các khu bảo tồn ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ các tổ chức bảo tồn và
các chính phủ tại các hội nghị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng
như cơ hội để các nước có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn (Ý Lâm, 2011).
Có thể nói rằng, đến nay trên thế giới mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn,
thách thức nhưng BTĐDSH đã được quan tâm một cách toàn diện. Công tác quản
lý BTĐDSH không chỉ tập trung bảo vệ tài nguyên, xây dựng hệ thống các khu
bảo tồn mà còn chú trọng đến giáo dục về quản lý và nâng cao hiệu quả trong điều
hành cũng như nhận thức bảo tồn, chú ý đến khía cạnh xã hội nhân văn trong bảo
tồn như phối hợp bảo tồn, bảo tồn dựa vào cộng đồng, chia sẻ lợi ích từ bảo tồn
nhằm hướng đến đích cuối cùng là sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH,
chia sẻ các lợi ích có được từ việc sử dụng các tài nguyên di truyền một cách bình
đẳng và công bằng.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14

+ Có nhiều khu bảo tồn có diện tích nhỏ, tính liên kết yếu nên hạn chế đến
các hoạt động bảo tồn trên phạm vi khu vực rộng.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status