Đánh giá vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
*************************

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG CÔNG
TÁC QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ,
HUYỆN LẠC DƯƠNG,
TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 08/2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
******************

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG CÔNG
TÁC QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ,
HUYỆN LẠC DƯƠNG,
TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên & Môi trường

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hướng dẫn Khoa học:
TS. HỒ VĂN CỬ
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 08/2014
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP –
NÚI BÀ, HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
NGUYỄN HOÀNG KHÁNH NGỌC

Nguyễn Hoàng Khánh Ngọc
5
CẢM TẠ
Trong thời gian học tập hoàn thành nghiên cứu này, tôi xin chân thành cảm ơn
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, Phòng Sau Đại Học, Khoa Môi
trường & Tài nguyên và quý Thầy, Cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn Khoa học – Tiến sĩ
Hồ Văn Cử, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này, tôi vô
cùng biết ơn và trân trọng những ý kiến quý báu Thầy đã giúp tôi trong suốt thời
gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, Th.S
Tôn Thất Minh, anh Trương Quang Cường, Võ Hồng Dương, Bùi Thế Hoàng và
anh Cil Pam Ha Thành đã tạo điều kiện và giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 07 năm 2014
Học viên
Nguyễn Hoàng Khánh Ngọc
6
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Đánh giá vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý và
bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, huyện Lạc Dương,
tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện trong khoảng thời gian 11 tháng, từ tháng 8/2013
đến tháng 6/2014. Mục tiêu của nghiên cứu là: góp phần nâng cao đời sống của
cộng đồng, phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Với các phương pháp
nghiên cứu được thực hiện như: phương pháp thu thập và kế thừa; chọn điểm
nghiên cứu; khảo sát thực địa; đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (phỏng
vấn, lát cắt, dòng thời gian, phân tích SWOT, sơ đồ Venn, họp dân); tham khảo ý

dependent level of people on forests, the impact degree of the community and the
influence of objects on national park, challenges and threats to the management and
conservation of biodiversity at Bidoup – Nui Ba national park.
- The involvement of the community in the management and conservation of
biodiversity: the participation level of the community in the conservation,
community awareness of the conservation of biodiversity, influence of the parties
involved in the management and conservation of biodiversity, interactions between
forest management, protection and livelihood status of the community.
- The proposal of some solutions to attract community participation in
biodiversity conservation at Bidoup - Nui Ba national park: integrating conservation
into economic - social development plans of Lac Duong district; strengthening the
capacity of management, research and international cooperation for national park
management board; economic - social investment and development in the buffer
zone; propagation, dissemination, education and attraction of community
participation in conservation procedure.
8
MỤC LỤC
TRANG
9
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL Ban quản lý
BQLRPHĐN Ban quản lý rừng phòng hộ Đa Nhim
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
CB Văn hóa đa dạng sinh học (Cultural Biodiversity)
CĐĐP Cộng đồng địa phương
DLST Du lịch sinh thái
ĐDSH Đa dạng sinh học
GIS Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)
GKQLBVR Giao khoán quản lý bảo vệ rừng
HST Hệ sinh thái

khai thác, phần lớn các khu bảo tồn trên cạn thường nằm ở những khu vực xa xôi,
địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn. Đó thường là nơi sinh sống của các cộng đồng
người dân tộc thiểu số có đời sống khó khăn và kém phát triển về nhiều mặt. Ở đó,
những thể chế luật pháp hiện hành thường có mặt sau những luật tục và truyền
thống của cộng đồng (Đào Trọng Hưng và ctv, 2001).
Hệ thống các khu bảo tồn nước ta cũng nằm trong khu vực sinh sống của
nhiều nhóm người dân tộc thiểu số khác nhau. Sự đa dạng của các cộng đồng bao
gồm nhiều mặt như đa dạng về vùng sinh thái, về kinh tế, xã hội, bản sắc văn hóa
truyền thống và luật tục (Đào Trọng Hưng và ctv, 2001). Kiến thức bản địa được
coi là hệ thống kiến thức của một cộng đồng dân tộc hoặc dân tộc bản địa tồn tại và
phát triển trong từng hoàn cảnh cụ thể với sự đóng góp của mọi thành viên trong
cộng đồng của một vùng địa lý (Donovan và ctv, 1997). Các kiến thức của người
13
dân về cách sử dụng và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học không đơn thuần có ý
nghĩa về khoa học mà còn là tài sản văn hóa quý giá của quốc gia và thế giới. Song
theo thời gian, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển nhanh chóng
của kinh tế xã hội, vai trò của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong việc bảo tồn các
giá trị đa dạng sinh học đã bị đánh giá không đầy đủ và đôi khi gây ra các kết quả
không như mong đợi trong công tác bảo tồn ĐDSH.
Nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số thuộc trong số những người nghèo nhất tại
Việt Nam. Để duy trì cuộc sống, họ vẫn giữ tập quán khai thác các sản phẩm rừng,
săn bắn động vật rừng, thu hái các sản phẩm từ khu vực bảo tồn. Áp lực từ phía
cộng đồng lên khu bảo tồn rất đa dạng về hình thức, phạm vi và mức độ tác động
(Đào Trọng Hưng và ctv, 2001). Đó là một trong những thách thức lớn đối với bảo
tồn ĐDSH. Vì vậy, để duy trì sự tồn tại và phát triển của các vườn quốc gia, khu
bảo tồn cần phải có các giải pháp bảo tồn phù hợp có sự hỗ trợ và cộng tác tích cực
của cộng đồng địa phương.
Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà được thành lập năm 2004 lấy theo tên hai
ngọn núi cao nhất cao nguyên Langbiang là Bidoup (2.287 m) và Núi Bà (2.167 m).
Với diện tích 70.038,75 ha, gồm 1.923 loài thực vật có mạch và hơn 422 loài động

- Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2013 đến 6/2014.
- Đối tượng nghiên cứu
Cộng đồng cư trú tại 3 thôn mục tiêu thuộc xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương,
tỉnh Lâm Đồng trong việc tham gia bảo tồn ĐDSH tại VQG Bidoup – Núi Bà và
Ban quản lý vườn quốc gia.
15
Những đóng góp của đề tài
Về lý luận
- Vận dụng văn hóa đa dạng sinh học (CB) trong đánh giá và đề xuất giải pháp
bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của cộng đồng.
- Đây là cơ sở khoa học có thể áp dụng cho việc xây dựng mô hình quản lý và
bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng địa phương ở VQG Bidoup – Núi Bà. Cung cấp
các phương pháp phân tích, lựa chọn, tìm kiếm những giải pháp thích hợp để nâng
cao vai trò của người dân cùng kết hợp với Ban quản lý VQG thực hiện tốt hơn việc
quản lý và bảo tồn ĐDSH.
Về thực tiễn
- Đánh giá được hiện trạng sử dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng.
- Đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng, nhận thức về bảo tồn ĐDSH trong
khu vực sinh sống.
- Đề xuất các giải pháp trong bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của cộng đồng
theo văn hóa đa dạng sinh học (CB).
Kết quả của đề tài có thể được sử dụng làm nền tảng để kiến tạo giải pháp thu
hút sự tham gia của người dân địa phương trong công tác bảo tồn ĐDSH và tăng
hiệu quả bảo vệ rừng.
16
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Đa dạng sinh học

chính là một công cụ mạnh mẽ trong việc bảo tồn đa dạng sinh học (Maolan
Biosphere Reserve, 2007).
1.1.3. Bảo tồn đa dạng sinh học
Hiện nay có nhiều phương pháp bảo tồn khác nhau. Có thể phân chia các
phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau:
- Bảo tồn nguyên vị (in situ)
Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo
vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên mà
loài đang tồn tại. Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi.
Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thì có 6 loại khu bảo tồn: Loại
I: khu bảo tồn nghiêm ngặt (hay khu bảo tồn hoang dã), Loại II : vườn quốc gia, chủ
yếu để bảo tồn các hệ sinh thái và sử dụng vào việc du lịch, giải trí, giáo dục; Loại
III: công trình thiên nhiên, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đặc biệt; Loại
IV: khu bảo tồn sinh cảnh hay các loài, chủ yếu là nơi bảo tồn một số sinh cảnh hay
các loài đặc biệt cần bảo vệ; Loại V: khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan
biển, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đẹp, sử dụng cho giải trí và du lịch;
Loại VI: khu bảo tồn quản lý tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu quản lý với mục đích
sử dụng một cách bền vững các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên.
18
- Bảo tồn chuyển vị (ex situ)
Bảo tồn chuyển vị bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi
sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Bảo tồn chuyển vị bao gồm
các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh
vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy Do
các sinh vật hay các phần của cơ thể sinh vật được lưu giữ trong môi trường nhân
tạo, nên chúng bị tách khỏi quá trình tiến hóa tự nhiên. Vì thế mà mối liên hệ gắn
bó giữa bảo tồn chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn đa
dạng sinh học (Schmidt và ctv, 2012).
1.1.4. Cộng đồng
Cộng đồng được nói tới ở đây là một đơn vị cấp địa phương của một tổ chức

định trong công tác bảo tồn.
- Tham vấn: đây là bước cao hơn thông báo. Các cộng đồng địa phương, các
bên liên quan chủ chốt và các tổ chức nhận được thông báo về dự án hay kế hoạch
để biết quan điểm của họ. Những ý kiến tham vấn được nhắc đến trong khi đánh
giá, nhưng không nhất thiết được tiếp thu vì bản thảo cuối cùng đã xong.
- Cùng quyết định: điều này xảy ra khi các bên liên quan được mời đến để biết
và trao đổi về vấn đề cùng quan tâm và tham gia vào quyết định cuối cùng.
- Cùng phối hợp: khi hai bên cùng tham gia quyết định và chia sẻ trách nhiệm
để thực hiện các quyết định đó.
- Ủng hộ các mối quan tâm độc lập của cộng đồng: đây là mức độ cao nhất của
sự tham gia của cộng đồng. Cộng đồng chịu trách nhiệm xây dựng các chương trình
bảo tồn và thực hiện các quyết định mà họ lựa chọn. Vai trò của các chuyên gia, các
cơ quan hay nhà đầu tư là hỗ trợ cộng đồng bằng các thông tin và các kỹ năng và có
thể cả nguồn lực để giúp cho đưa ra các quyết định với các thông tin tốt nhất có thể.
20
Mức này thể hiện cách tiếp cận hoàn toàn “từ dưới lên” trong công tác bảo tồn
(IUCN, 2008).
1.2. Bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng
Do hạn chế về nhận thức nên các hành vi ứng xử của cộng đồng dân cư đối
với tài nguyên rừng chưa tốt. Để người dân có hành vi ứng xử tốt với tài nguyên
rừng, việc nâng cao nhận thức và thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác
quản lý tài nguyên là rất cần thiết như thay đổi thái độ và tập quán của cộng đồng
dân cư, cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.
1.2.1. Trên thế giới
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT
và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn
bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của CĐĐP. Ở VQG Kakadu
(Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cách
hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham gia
quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại VQG Wasur

Đề tài này lựa chọn dựa trên văn hóa đa dạng sinh học để nghiên cứu. Nhìn
nhận con người là một bộ phận của HST, vừa nâng cao đời sống của người dân phụ
thuộc vào tài nguyên thiên nhiên thông qua các hoạt động mang tính bền vững, vừa
có thể bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú.
1.2.2. Ở Việt Nam
1.2.2.1. Cơ sở pháp lý
- Quyết định số 72/TTg ngày 7/7/1962 của Thủ tướng Chính phủ về khu rừng
cấm Cúc Phương.
- Quyết định 41/TTg ngày 24/1/1977 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành
lập 10 khu rừng cấm trong phạm vi toàn quốc.
22
- Ngày 9/8/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có quyết định số 194/CT công
nhận tiếp 73 khu rừng đặc dụng, trong đó gồm 2 VQG, 46 khu dự trữ thiên nhiên,
25 khu di tích lịch sử văn hoá.
- Quyết định 178/2001/QĐ - TTg ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa
vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm
nghiệp.
- Quyết định 192/2003/QĐ - TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến
năm 2010.
- Nghị định 181/2004/NĐ - CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về
thi hành Luật đất đai quy định cộng đồng dân cư thôn được giao đất rừng phòng hộ
với các quyền chung như hộ gia đình và cá nhân được giao đất lâm nghiệp nhưng
cộng đồng dân cư thôn không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho
quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng
đất.
- Ngày 3/12/2004, Luật Bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội thông qua,
đã công nhận Cộng đồng là một chủ thể được giao rừng và các quyền và nghĩa vụ
quy định cụ thể tại các Điều 29 và 30.
- Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày

có. Để góp phần tham gia phát triển nông thôn một cách nhanh chóng và có hiệu
quả, các nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông – khuyến lâm và các cơ quan quản lý
tài nguyên rừng ở địa phương đã và đang hoạt động rất tích cực trong việc tìm hiểu
các giải pháp tốt nhất và phù hợp nhất cho từng địa phương mà họ đang công tác
nhằm giúp người dân ổn định cuộc sống của họ đồng thời tự nâng cao kiến thức và
năng lực của các bên liên quan. Nói cách khác, tiến trình thúc đẩy sự tham gia của
24
người dân đòi hỏi phải tạo ra một môi trường học tập để các bên tham gia có thể
chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và ý kiến của mình.
1.2.2.2. Tình hình các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia ở Việt Nam
Nếu thiếu đi vai trò của cộng đồng dân cư thì bảo tồn ĐDSH khó đạt hiệu quả.
Thực tế cho thấy, kiểm lâm gặp nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ rừng bởi lẽ
rừng có nhiều cửa, không có rào chắn nên việc ngăn chặn hành vi vi phạm không hề
dễ dàng. Mặt khác, theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, tại các khu
bảo tồn quốc gia, mỗi kiểm lâm sẽ có trách nhiệm bảo vệ tương đương với 500 ha
rừng. Rõ ràng, việc một cán bộ kiểm lâm quán xuyến hết một diện tích lớn như vậy
thực sự là thách thức đối với họ.
Hơn nữa, tất cả những khu vực có giá trị ĐDSH cao bao gồm các khu vực
rừng nguyên sinh đều có dân cư sinh sống. Người dân nhờ có ĐDSH mà tồn tại và
phát triển, do đó việc cộng đồng dân cư tham gia trực tiếp vào quản lý, kiểm tra bảo
vệ rừng sẽ góp phần quan trọng phát hiện những hành vi vi phạm như khai thác gỗ
lậu hay buôn bán trái phép động vật hoang dã.
Điều đó đòi hỏi phải gắn kết công tác bảo tồn với sinh kế của người dân để
việc bảo tồn ĐDSH đạt hiệu quả và người dân vẫn duy trì được cuộc sống của
mình. Trên thực tế, nỗ lực bảo tồn ĐDSH ở nước ta thời gian qua đã có những
chuyển biến tích cực với những sáng kiến, mô hình dựa vào cộng đồng. Thậm chí
có những mô hình được duy trì nhiều năm đơn cử như việc quản lý rừng thiêng của
đồng bào dân tộc miền núi hay mô hình quản lý rừng ngập mặn của cộng đồng ven
biển, sáng kiến xây dựng mô hình cộng đồng tham gia khu bảo tồn. Điều đáng nói
là có những địa phương người dân tự đứng ra tổ chức mô hình thôn xóm bảo vệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status