Nghiên cứu tác động của cộng đồng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Cát Tiên - Pdf 25

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn

Võ Văn Cường
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện và hoàn thành theo chương trình đào tạo
Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp của Trường Đại học Lâm nghiệp, khóa 17 năm
2009 -2012.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới PGS.TS. Vương
Văn Quỳnh, người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp tận tình giúp đỡ, truyền
đạt những kiến thức và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong suốt thời
gian học tập cũng như thời gian thực hiện luận văn.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn thạc sỹ này, tôi
nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học và các
thầy, cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp, Vườn quốc gia Cát Tiên, Hạt
Kiểm lâm VQG Cát Tiên, UBND xã Tà Lài và các bạn bè đồng nghiệp đã tạo
điều kiện, giúp đỡ và hỗ trợ tôi thu thập số liệu tại hiện trường.
Tôi xin cảm ơn Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa, đã tạo nhiều điều
kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã làm việc nghiêm túc với tất cả nỗ lực, nhưng do thời gian
hạn chế, nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô giáo, các
bạn bè đồng nghiệp và xin chân thành tiếp thu các ý kiến đóng góp đó.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả

Võ Văn Cường

2.5.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 20
iii
Chương 3 22
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI 22
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 22
3.1. Đặc điểm tự nhiên 22
3.1.1. Vị trí địa lý 22
3.1.2. Địa hình 23
3.1.3. Thổ nhưỡng 24
3.1.4. Khí hậu 24
3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 25
3.2.1. Dân số, dân tộc và sự phân bố dân cư 25
3.2.2. Sơ lược đặc điểm xã nghiên cứu 26
3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất 26
3.4. Tính đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Cát Tiên 28
3.4.1. Thực vật và thảm thực vật 28
3.4.2. Động vật 29
Chương 4 30
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
4.1. Tình hình quản lý bảo rừng tại Vườn quốc gia Cát Tiên 30
4.1.1. Thực trạng công tác QLBVR 30
4.1.2. Công tác tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ rừng 33
4.2. Đặc điểm tổ chức cộng đồng liên quan đến quản lý tài nguyên đa dạng sinh học ở
Vườn quốc gia Cát Tiên 36
4.2.1. Đặc điểm tổ chức cộng đồng 36
4.2.1.1. Hoạt động kinh tế của người dân xã Tà Lài 36
4.2.1.2. Cơ cấu lao động, việc làm, nghề nghiệp, thu nhập 46
4.2.2. Những hoạt động bất lợi liên quan đến ĐDSH ở VQG Cát Tiên 51
4.2.2.1 Những vấn đề xã hội tác động đến việc bảo tồn VQG Cát Tiên 51
4.2.2.2 Những hình thức tác động bất lợi của người dân 54

5.1. Kết luận 82
5.2. Tồn tại 85
5.3. Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Chú giải
VQG : Vườn quốc gia
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
ĐDSH: : Đa dạng sinh học
PCCCR : phòng cháy, chữa cháy rừng
PRA : Điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
RRA : Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
TNR : Tài nguyên rừng
TNTN: : Tài nguyên thiên nhiên
BVR : Bảo vệ rừng
QLBVR : Quản lý bảo vệ rừng
SWOT : Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thách thức
WWF : : Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF)
IRF : Quỹ Bảo tồn tê giác quốc tế
THCS : Trung học cơ sở
GDMT : Giáo dục môi trường
KHKT : Khoa học kỹ thuật
BQL : Ban quản lý
BV&PTR : Bảo vệ và phát triển rừng
CBD : Công ước đa dạng sinh học
SPSS : Phần mềm xử lý thống kê dùng trong các ngành khoa học
xã hội (Statistical package for Social Sciences)
BVTV : Bảo vệ thực vật

Bảng 4.11. Thu nhập bình quân của hoạt động phi nông nghiệp
45
Bảng 4.12. Tổng thu nhập từ các nguồn
47
Bảng 4.13. Các tiêu chí đánh giá kinh tế hộ gia đình
49
Bảng 4.14. Biểu đánh giá kinh tế các hộ
50
Bảng 4.15. Thống kê diện tích đất nông lâm nghiệp xã Tà Lài
54
Bảng 4.16. Tình hình sử dụng sử dụng đất lâm nghiệp của người dân
55
Bảng 4.17. Số hộ chăn thả gia súc và số lượng chăn thả của hộ
58
vii
Bảng 4.18. Các hình thức tác động bất lợi khác vào TNR
59
Bảng 4.19. Nhận thức về tác động của cộng đồng đến TNR
64
viii
DANH MỤC
HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số hiệu Tên hình vẽ Trang
Hình 2.1.
Sơ đồ biểu diễn phương pháp phân tích thông tin
21
Hình 3.1.
Sơ đồ khu vực nghiên cứu
22
Hình 3.2.

đặc sắc, đặc biệt là Bàu Sấu. [24] Điều này một lần nữa càng khẳng định giá trị đặc
sắc của hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái đất ngập nước của Vườn quốc gia Cát Tiên.
Theo quan niệm trước đây, các Khu Bảo tồn thiên nhiên thường được coi như
một khu vực tách biệt với con người, thuật ngữ “bảo tồn” đồng nghĩa với “bảo vệ”,
“không có sử dụng”. Quan niệm này đã dẫn đến những sai lầm trong việc quản lý các
Khu Bảo tồn thiên nhiên. Kết quả là thiên nhiên vẫn liên tục bị con người tác động
theo hướng tiêu cực, bị tàn phá mà nguyên nhân là do những áp lực xã hội và sinh
thái cả trong và ngoài Khu Bảo tồn. Hiện nay, theo Chương trình Con người và Sinh
quyển (viết tắt là MAB thuộc UNESCO) và trong thực tế đều cho thấy các Khu Bảo
tồn vẫn cần có một số khu vực không có hoặc chịu rất ít tác động của con người với
những quy định kiểm soát chặt chẽ, được gọi là “vùng lõi”. Bên cạnh đó cần thúc đẩy
phát triển kinh tế thân thiện với môi trường, phát triển giáo dục và bảo tồn các giá trị
văn hóa truyền thống ở các vùng xung quanh được gọi là “vùng đệm” hay “vùng
chuyển tiếp”, trong đó người dân địa phương đóng vai trò chủ chốt. Có như vậy công
tác bảo tồn mới đạt được hiệu quả lâu dài và bền vững .
Dự án “Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn quốc gia Cát Tiên,
giai đoạn 2010 – 2020” được thực hiện nhằm quy hoạch bảo tồn, phát triển bền
vững và sử dụng hợp lý giá trị đa dạng sinh học, cảnh quan của Vườn quốc gia Cát
Tiên trong giai đoạn 2010 – 2020. Việc đánh giá tác động của cộng đồng trong
1
vùng dự án làm cơ sở cho công tác quản lý, xây dựng kế hoạch hành động bảo tồn
bền vững, từng bước tạo điều kiện cho người dân tham gia vào công tác bảo vệ
rừng, tham gia hoạt động du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường là việc làm cần
thiết.
Cát Tiên là một trong những Vườn quốc gia giàu có bậc nhất của đất nước.
Tuy nhiên, như nhiều Vườn quốc gia khác nó đang phải đối mặt với những tệ nạn
săn bắt, khai thác thực vật, và thậm chí xâm lấn diện tích. Mặc dù chưa phải là điểm
nóng nhất trong hệ thống các Vườn quốc gia song mỗi năm cũng có đến hàng chục
vụ vi phạm của người dân địa phương. Nếu tình trạng này vẫn tiếp diễn Cát Tiên sẽ
bị suy thoái dần, mất đi những giá trị vô cùng quý báu của nó trong tương lai. Ngăn

người dân sẽ là cơ sở quan trọng cho đề xuất những giải pháp thích hợp cho quản lý
tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng (dẫn theo Vương Văn Quỳnh và các
cộng sự, 2003). [13]
3
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã trở thành
vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần
đây. Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc tế về Môi trường và Phát
triển bền vững ở Rio De Janeiro (Brasin), vấn đề này đã chính thức được công
nhận, các chính phủ đã đưa ra một kế hoạch hành động cải thiện sinh kế của người
dân trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và các
loại tài nguyên thiên nhiên khác [3]. Song việc bảo vệ, quản lý các khu bảo tồn,
VQG đã và đang gặp không ít khó khăn từ phía người dân và cộng đồng địa
phương. Điều khó khăn lớn nhất gặp phải trong việc quản lý khu bảo tồn là số dân
sinh sống phía ngoài, sát với khu bảo tồn, thậm chí ngay cả trong khu bảo tồn đã tạo
sức ép nặng nề lên khu bảo tồn. Bắt đầu từ những thay đổi của họ về vị trí nhà ở, về
thói quen chiếm hữu đất đai canh tác, phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ,
lấy củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng và do đó ảnh hưởng đến công tác bảo vệ.
TNR là nguồn sống chủ yếu của người dân sống trong và gần rừng từ bao đời nay,
giờ đây dường như đã không còn là của họ. Họ đa số là người nghèo, dân trí thấp,
họ cho rằng việc thành lập khu bảo tồn, VQG không đem lại lợi ích gì cho họ, mà
chỉ bị thiệt thòi vì không được tự do khai thác một phần tài nguyên thiên nhiên như
trước nữa. [11] Trong khi đó, các sinh kế tạo nguồn thu nhập khác cho người dân
địa phương chưa bù đắp được sự thiếu hụt lớn lao này. Chính vì vậy, đã gây ra mâu
thuẫn giữa khu bảo tồn, Vườn quốc gia với người dân địa phương - những người đã
và đang sống phụ thuộc một phần vào nguồn TNR. Do đó, việc tồn tại những tác
động bất lợi của người dân vào TNR là một tất yếu.
Năm 1872, VQG đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Mỹ, đó là VQG
Yellowstone. VQG nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống
trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh
đất của họ. Nhiều KBTTN và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau

địa phương. Ở Vườn quốc gia Kakadu (Australia), những người thổ dân bản địa
chẳng những được chung sống với Vườn quốc gia một cách hợp pháp mà họ còn
5
được thừa nhận là chủ hợp pháp của Vườn quốc gia và được tham gia quản lý Vườn
quốc gia thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại Vườn quốc gia Wasur
(Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với đánh bắt và săn bắn cổ
truyền .[11]
1.2. Các nghiên cứu liên quan đến bảo tồn ĐDSH của cộng đồng
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Berkmuller và các cộng sự năm 1992 cho rằng việc nâng cao
nhận thức và mối quan tâm của cộng đồng địa phương đối với bảo tồn thiên nhiên
và các hoạt động có liên quan là rất quan trọng. Tác giả cho rằng nếu không nâng
cao nhận thức trong nhóm mục tiêu về các giá trị sinh thái và giá trị vô hình của
Khu Bảo tồn thiên nhiên thì rừng sẽ tiếp tục bị xem như là một tài nguyên có thể
khai thác. Để thực hiện thành công những giải pháp dài hạn cho những vấn đề về
môi trường, cần đưa việc giáo dục về các giá trị của môi trường vào trong các
chương trình giáo dục cho các Khu Bảo tồn. [27]
Dân cư sống trong và gần các KBTTN, một giải pháp đề nghị là cho phép
người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ quản lý
nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, nhà nước cần xác định
rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận, với mục đích tạo thêm
công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng. [26]
Ở Thái Lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60%
nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26%, hơn 170.000 km
2
rừng bị tàn phá. Năm
1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái Lan thành lập các KBTTN để bảo vệ
diện tích rừng còn lại. Điều này đã dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địa phương
với các ban quản lý. Một thử nghiệm của dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua
sự cộng tác” thực hiện tại khu Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ở Đông

hại từ bên ngoài đối với da dạng sinh học. Sinh kế sẽ giúp cho bảo tồn da dạng sinh
học chứ không phải cạnh tranh với nhau. Hơn nữa chiến lược này công nhận vai trò
7
của người dân địa phương trong bảo tồn da dạng sinh học. Cũng trong chiến lược
này, các nhà bảo tồn có thể giúp cho người dân địa phương khai thác, sử dụng lâm sản
ngoài gỗ hoặc phát triển du lịch sinh thái. [29]
Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) năm 2001 đã đưa ra một thông
điệp chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xoá đói giảm
nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng”. [31]
Năm 1986, trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng đồng”,
các tác giả Dorji, Chavada, Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu là
nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng
trại cho gia súc. Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia
súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và
nước trên vùng đất dốc. [16]
Các tác giả vùng Châu Á là Mol và Wiersum đã viết về kinh nghiệm của Việt
Nam, nêu lên rất rõ những ảnh hưởng tiêu cực đã xảy ra khi việc quản lý tập thể
được ấn định trực tiếp từ trên xuống mà không đánh giá hoặc hiểu rõ truyền thống,
kinh nghiệm hoặc khả năng của địa phương với sự hỗ trợ rất nhỏ bé của cơ quan
nhà nước. Kết quả tại Việt Nam, so với các nước Châu Á khác, hình như ít triển
vọng. [32]
1.2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam
Từ những năm 1960, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp qui, chỉ thị
và chính sách liên quan đến bảo vệ rừng. Tuy nhiên do yêu cầu trước mắt ưu tiên
cho phát triển kinh tế xã hội và chống đói nghèo nên trong những năm qua Việt
Nam chưa quan tâm đầy đủ tới mối quan hệ giữa phát triển và bảo tồn tài nguyên
sinh học. Từ những năm 1980, Chính phủ đã bắt đầu có những quan tâm đặc biệt tới
phát triển và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Nhiều văn
bản pháp quy liên quan đến các Khu Bảo tồn đã được ban hành, nhiều dự án,
chuơng trình lớn được thực hiện đã tạo ra nền tảng để nâng cao nhận thức và các

9
tồn thiên nhiên. Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng
đệm tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài
nguyên tự nhiên, các dịch vụ du lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập và
gắn sinh kế của người dân với các hoạt động của khu rừng đặc dụng. [20]
Trong nhiều năm qua, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao
hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn - phát triển. Đó là làm
sao dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế -
xã hội của người dân địa phương.
Để ngăn chặn việc khai thác, sử dụng trái phép tài nguyên thiên nhiên ngày
càng gia tăng do yêu cầu ở trong nước và xuất khẩu, tạo sự liên kết và hỗ trợ của
Quốc tế, Chính phủ Việt Nam cũng đã tham gia vào 4 trong 5 công ước Quốc tế liên
quan đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý Khu Bảo tồn và quản lý các
loài động thực vật hoang dã.[14]
Công ước đa dạng sinh học (CBD) đặt ra một loạt các điều khoản về bảo tồn
và sử dụng bền vững đa dạng sinh học. Về mặt chính sách, CBD kêu gọi các bên
tham gia xây dựng các chiến lược và kế hoạch quốc gia, lồng ghép bảo tồn và sử
dụng bền vững đa dạng sinh học vào các kế hoạch, chương trình và chính sách của
các ngành khác, cũng như vào quá trình hoạch định chính sách quốc gia. Để có cơ
sở khoa học vững chắc cho quá trình ra chính sách và quyết định, các bên cần tiến
hành xác định các thành phần quan trọng của đa dạng sinh học cũng như các ưu tiên
bảo tồn đối với các thành phần đó. Các hoạt động gây ra tác động tiêu cực đối với
đa dạng sinh học cũng cần phải được xác định và giám sát.
Vấn đề bảo tồn nội vi (in-situ) được nhấn mạnh trong nội dung công ước.
Hàng loạt điều khoản được đưa ra về vấn đề này bao gồm xây dựng và quản lý khu
bảo tồn, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái, khôi phục lại các loài bị đe doạ, bảo
vệ nơi sống tự nhiên và quần thể an toàn của các loài. Công ước cũng đề cập đến
bảo tồn ngoại vi (ex-situ), và coi bảo tồn ngoại vi là một biện pháp bổ trợ cho bảo
tồn nội vi.
10

cộng đồng là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cực trong các
hoạt động bảo tồn. Cộng đồng còn có thể phát huy những mặt hay của phong tục,
tập quán trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, trong mối quan hệ
giữa con người và thiên nhiên, để xây dựng nề nếp của cuộc sống lành mạnh về mặt
môi trường, góp sức cho việc bảo tồn. Hương ước của các xóm, làng, buôn, bản là
một ví dụ. [1]
Khi nghiên cứu ở vùng lòng hồ sông Đà (Hoà Bình), Vương Văn Quỳnh và
các cộng sự (1998) cho thấy thiếu sự tham gia của các cộng đồng địa phương đã
không giải quyết hợp lý được mối quan hệ về lợi ích giữa quốc gia và cộng đồng
dân cư địa phương. Sự kém hiệu quả của Dự án 747 “ ổn định dân cư phát triển
kinh tế xã hội vùng chuyển dân Sông Đà” trong những năm đầu triển khai và thực
hiện dự án có một phần quan trọng là thiếu sự tham gia của cộng đồng trong việc
xây dựng những giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên. [12]
Nguyễn Thị Phượng (2003) khi: “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương vùng đệm đến tài nguyên rừng Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Tây” đã tổng hợp
và phân tích hình thức tác động và các nguyên nhân tác động. Tác giả chỉ ra rằng:
cộng đồng ở đây chủ yếu sống bằng nghề nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất
ít và năng suất lúa rất thấp. Vì vậy, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hằng ngày, họ
tác động tới tài nguyên rừng dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất
hàng hóa, khai thác sản phẩm với mục đích tiêu dùng, chăn thả gia súc… Trong đó
hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hóa cho tỷ trọng thu nhập cao nhất
trong cơ cấu thu nhập của cộng đồng (36,4%). Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá được
mức độ tác động tới tài nguyên rừng của các dân tộc, các nhóm hộ khác nhau. [8]
Hoàng Quốc Xạ (2005) với nghiên cứu “Tác động của cộng đồng địa phương
đến tài nguyên rừng vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”, đã có sự
kết hợp tốt giữa phân tích định tính và định lượng trong việc tồ chức các hình thức
tác động và nguyên nhân tác động, tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm
thiểu tác động bất lợi đến tài nguyên rừng và hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của địa
phương [22].
12

2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của cộng đồng đến hoạt động
đến bảo tồn đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Cát Tiên.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu. Đề tài tiến hành nghiên cứu
những nội dung sau:
+ Nghiên cứu đặc điểm tổ chức cộng đồng liên quan đến quản lý tài
nguyên đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Cát Tiên.
+ Phân tích được vai trò của cộng đồng, những yếu tố thúc đẩy và cản
trở sự tham gia của họ trong hoạt động quản lý tài nguyên ĐDSH.
14
+ Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào
cộng đồng ở Vườn quốc gia Cát Tiên.
2.4. Phạm vi nghiên cứu
Về địa bàn nghiên cứu, đề tài thực hiện trong phạm vi xã Tà Lài, huyện Tân
Phú, tỉnh Đồng Nai, là xã giáp ranh với Vườn quốc gia Cát Tiên.
Về lĩnh vực nghiên cứu, đề tài tập trung phân tích những hoạt động quản lý tài
nguyên đa dạng sinh học, đặc điểm các tổ chức cộng đồng và các tác động liên quan
đến quản lý sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên đa dạng sinh học, vai trò của
quản lý tài nguyên đa dạng sinh học trên cơ sở cộng đồng, những nhân tố thuận lợi
và cản trở cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên đa dạng sinh học ở Vườn quốc
gia Cát Tiên, những giải pháp chủ yếu khuyến khích cộng đồng tham gia vào bảo
tồn đa dạng sinh học.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp luận
2.5.1.1.Kế thừa các tư liệu và phân tích các tài liệu thứ cấp
- Các thành quả của các công trình nghiên cứu đến tính đa dạng sinh học tại
Vườn quốc gia Cát Tiên.
- Những tài liệu đã có về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Tà Lài,
huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu tác động của cộng đồng trong việc bảo tồn
đa dạng sinh học. Theo đó các ấp được lựa chọn đảm bảo đại diện cho xã và các hộ
gia đình được lựa chọn phỏng vấn đảm bảo đại diện cho ấp. Qua khảo sát chúng tôi
thấy địa điểm nghiên cứu là các ấp giáp rừng là phù hợp nhất.
16

Trích đoạn Địa hình Hiện trạng sử dụng đất Thực trạng công tác QLBVR Công tác tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ rừng Cơ cấu lao động, việc làm, nghề nghiệp, thu nhập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status