Đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động khoa học xã hội trường hợp viện hàn lâm khoa học xã hội việt nam tt - Pdf 52

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ DIỆU HƢƠNG

ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI:
TRƢỜNG HỢP VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Ngành
Mã số

: Quản lý kinh tế
: 9.34.04.10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Tập thể hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS.Vũ Hùng Cường
2. PGS.TS.Nguyễn Trọng Thản

Phản biện 1: PGS.TS.Bùi Nhật Quang
Phản biện 2: PGS.TS.Nguyễn Thị Bất

nước”, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng
CN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ thì KHXH với vai trò là cung cấp những
luận cứ khoa học trong việc phân tích đánh giá, dự báo tác động để góp
phần vào việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước là hết sức
quan trọng. Thực tế trên đang tạo ra một sức ép và thách thức rất lớn đối
với các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH nói chung và
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam nói riêng.
Trong thời gian qua, Nhà nước đã có nhiều sự quan tâm đáng kể
đối với hoạt động KH&CN nói chung và KHXH nói riêng về cả mức độ
đầu tư của Nhà nước và các cơ chế, công cụ quản lý tài chính cũng đang
được từng bước hoàn thiện thông qua việc ban hành các văn bản quy
định về quản lý tài chính theo hướng tăng thêm quyền tự chủ cho các tổ
chức KH&CN, cho các nhà nghiên cứu, các văn bản ban hành sát với
thực tế hơn, điều này bước đầu đã thu được những kết quả nhất định. Tuy
nhiên, trên thực tế triển khai còn nhiều hạn chế như việc triển khai các cơ
chế chính sách còn chậm; Nguồn lực NSNN đầu tư cho hoạt động
KHXH còn hạn chế, cơ chế phân bổ NSNN cho hoạt động KHXH còn
dàn trải, cào bằng, chưa có trọng tâm, trọng điểm, chưa triển khai theo

1


hình thức đấu thầu đề tài mà vẫn dựa vào hình thức giao theo kế hoạch;
Cơ chế giao quản lý tài sản công cho tổ chức KH&CN để hợp tác liên kết
còn nhiều chồng chéo, khó triển khai trong thực tế, khả năng huy động
nguồn lực ngoài NSNN bị hạn chế do đặc thù của lĩnh vực nghiên cứu;
Các quy định về định mức và thủ tục thanh toán còn chưa sát thực tiễn,
còn gây nhiều phiền hà nhất là trong việc thực hiện chủ trương khoán
chi. Đặc biệt, việc hành chính hóa trong quản lý tài chính của hoạt động
khoa học đang là một rào cản lớn ảnh hưởng đến tính chủ động của nhà

đã công bố liên quan đến quản lý tài chính trong hoạt động KHXH để kế
thừa các kết quả nghiên cứu phù hợp, tìm ra khoảng trống nghiên cứu đề
tài cần giải quyết, xác định khung phân tích của luận án.
- Hệ thống hóa những lý luận chung về quản lý tài chính trong hoạt
động KHXH; Xây dựng khung chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá quản lý tài
chính trong hoạt động KHXH.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tài chính của một số quốc gia
trên thế giới để rút ra một số gợi mở cho đổi mới quản lý tài chính trong
hoạt động KHXH ở Việt Nam.
- Phân tích thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động KHXH, từ
góc độ quản lý Nhà nước về tài chính và quản lý tài chính tại Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế
và nguyên nhân thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động
khoa học xã hội ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý tài chính trong hoạt động
Khoa học xã hội, bao gồm quản lý Nhà nước về tài chính trong hoạt động
Khoa học xã hội và quản lý tài chính tại tổ chức Khoa học và Công nghệ
hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
+ Quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH bao gồm
quản lý phân bổ và sử dụng nguồn NSNN cho hoạt động KHXH, trong
đó luận án chỉ tập trung vào chủ thể quản lý nhà nước và công cụ quản lý
về mặt cơ chế chính sách; nguồn tài chính cho hoạt động KHXH trong
luận án chỉ giới hạn là nguồn NSNN.
+ Quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam bao gồm
quản lý huy động, phân bổ và sử dụng (quản lý thu, quản lý chi) tài chính

luận cơ bản về quản lý lý tài chính trong hoạt động KHXH ở chương 2,
đồng thời sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm mục đích phân
tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam ở chương 3.
(2) Phương pháp so sánh:

4


Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh mức đầu tư từ NSNN
giữa KHXH và KHCN, đánh giá mức độ biến động số liệu theo chuỗi thời
gian và theo các yếu tố cấu phần để phân tích, đánh giá thực trạng quản lý
thu và quản lý chi tài chính trong hoạt động KHXH ở chương 3.
(3) Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để xác định các nhóm
nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính tại các tổ chức Khoa học và Công
nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội ở Việt Nam trong chương 3.
Đối tượng khảo sát trong luận án là những nhà quản lý, kế toán
trưởng và cá nhân một số nhà khoa học là các chủ nhiệm đề tài, dự án
nghiên cứu trong các tổ chức KH&CN trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH
Việt Nam nhằm tìm hiểu khó khăn và thuận lợi trong quá trình sử dụng
ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu trong thời gian qua.
Cỡ mẫu được sử dụng trong nghiên cứu là 151. Phương pháp chọn
mẫu trong luận án là chọn mẫu thuận tiện, một trong các hình thức chọn mẫu
phi xác suất.
4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
(1) Phân tích thống kê mô tả
Luận án sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả nhằm phân
tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam ở chương 3.

QLNN, tổ chức KH&CN, cơ sở đào tạo và những người quan tâm đến
chủ đề quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Về khoa học: Cung cấp cơ sở khoa học nhằm đổi mới lý luận về quản
lý tài chính trong hoạt động KHXH đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể áp dụng
trong đổi mới quản lý nhà nước về tài chính đối với các tổ chức KH&CN
hoạt động trong lĩnh vực KHXH nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, phát huy được tiềm năng thế mạnh của mỗi tổ chức.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo luận án gồm 4 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý
tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội
Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài
chính trong hoạt động Khoa học xã hội
Chƣơng 3: Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội
Chƣơng 4: Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt
động Khoa học xã hội

6


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI
Tổng quan tình hình nghiên cứu được tiếp cận qua 04 nhóm công
trình chính: (1) Nhóm các công trình bàn về lý thuyết quản lý tài chính
công; (2) Nhóm các công trình bàn về huy động nguồn lực tài chính cho
hoạt động khoa học; (3) Nhóm các công trình bàn về quản lý sử dụng

KHXH trong bối cảnh và yêu cầu về nâng cao hiệu quả của các tổ chức
KH&CN công lập bằng việc trao thêm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm,
nhất là tự chủ về tài chính cho các tổ chức này cũng chưa được luận bàn
sâu trong các nghiên cứu đi trước.
Một công trình tổng hợp, kết hợp cả lý luận học thuật và thực tiễn
tác nghiệp về quản lý tài chính trong hoạt động KHXH với nhiều đặc thù
riêng trong bối cảnh có rất nhiều thay đổi về cơ chế chính sách như hiện
nay là chưa có và hết sức cần thiết. Đây là một khoảng trống trong
nghiên cứu mà luận án hướng tới.
Một khoảng trống nghiên cứu nữa sẽ được giải quyết trong luận án
là trong bối cảnh đổi mới nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho
các tổ chức KH&CN, nhất là tự chủ tài chính thì cơ chế quản lý tài chính
của các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH sẽ thế nào?
Việc phân cấp mức độ tự chủ đến đâu, tự chủ như thế nào và mô hình
triển khai và cơ chế quản lý tài chính như thế nào đối với từng tổ chức
KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH thì cũng cần phải nghiên cứu
và làm rõ trong nghiên cứu này.
Chƣơng 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI

2.1. Một số lý luận cơ bản về hoạt động Khoa học xã hội
2.1.1. Khái niệm về hoạt động Khoa học xã hội
Hoạt động KHXH là một phần của hoạt động KH&CN, nó bao gồm
hoạt động nghiên cứu, triển khai thực nghiệm và dịch vụ trong lĩnh vực KHXH.
Hướng đích cuối cùng của hoạt động nghiên cứu KHXH là giúp cho con
người và xã hội được phát triển một cách toàn diện, thích ứng với mọi
thay đổi trong môi trường tự nhiên, xã hội và tư duy.
2.1.2. Đặc thù của Khoa học xã hội
(1) Khoa học xã hội gắn với thể chế chính trị; (2) Đóng góp của

từ NSNN; Thứ hai, cơ chế quản lý phản ánh mối quan hệ tài chính giữa tổ
chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH với Nhà nước.
2.2.2. Nội dung quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội
2.2.2.1. Quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội
Bao gồm: (1) Quản lý phân bổ ngân sách nhà nước trong hoạt
động Khoa học xã hội; (2) Quản lý sử dụng ngân sách nhà nước trong
hoạt động Khoa học xã hội; (3) Kiểm tra, giám sát.

9


2.2.2.2. Quản lý tài chính tại các tổ chức Khoa học và Công nghệ
hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội
Bao gồm: (1) Quản lý nguồn thu; (2) Quản lý sử dụng các nguồn
tài chính; (3) Kiểm tra, kiểm soát tài chính.
2.2.3. Công cụ quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội
(1) Hệ thống văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước; (2) Công
tác kế hoạch tài chính; (3) Quy chế chi tiêu nội bộ; (4) Tổ chức bộ máy
quản lý; (5) Hệ thống thanh tra, kiểm tra nội bộ.
2.2.4. Các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá quản lý tài chính trong hoạt
động Khoa học xã hội
(1) Hệ chỉ tiêu dùng để đánh giá thực trạng quản lý huy động các
nguồn lực tài chính (quản lý thu): (2) Hệ chỉ tiêu dùng để đánh giá quản
lý sử dụng các nguồn lực tài chính (quản lý chi)
2.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý tài chính trong hoạt
động Khoa học xã hội
2.3.1. Các nhân tố khách quan
Thứ nhất, cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước; Thứ
hai, mức độ phát triển kinh tế - xã hội và nguồn lực ngân sách; Thứ ba,
nhận thức về vai trò của Khoa học xã hội; Thứ tư, mức độ hiểu và triển

cho nghiên cứu theo hướng đa dạng hóa.
2.4.3.2. Về quản lý sử dụng ngân sách nhà nước trong hoạt
động KHXH
Một là, xu hướng chung là dần thay thế phương thức khoán kinh
phí toàn bộ bằng việc khoán một phần; Hai là, quản lý tài chính trong
hoạt động khoa học cần xây dựng và xác định được cơ chế quản lý hiệu
quả nhưng giảm các thủ tục hành chính; Ba là, kinh nghiệm của các nước
cho thấy thành công trong cải cách hệ thống tổ chức KH&CN có tác động
đáng kể đến sự phát triển của thị trường KH&CN.
Chƣơng 3
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI
3.1. Thực trạng quản lý Nhà nước về tài chính trong hoạt động
Khoa học xã hội
3.1.1. Thực trạng quản lý phân bổ ngân sách nhà nước cho hoạt
động khoa học xã hội

11


Do NSNN đầu tư cho hoạt động KH&CN được phân bổ cả cho các
Bộ, ngành, địa phương và các trường đại học nên việc thống kê rạch ròi
kinh phí dành cho từng lĩnh vực KHCN hay KHXH là việc làm không
khả thi và không thể thực hiện được. Chính vì vậy, để đánh giá thực
trạng phân bổ NSNN trong hoạt động KHXH, nghiên cứu lựa chọn cách
tiếp cận so sánh mối tương quan trong đầu tư từ NSNN giữa hai lĩnh vực
khoa học, cụ thể trong nghiên cứu này, nghiên cứu sinh sẽ chọn: (1) So
sánh mức đầu tư giữa lĩnh vực KHXH và KHCN; (2) So sánh mức đầu tư
giữa các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước (KC, KX); (3) So sánh
mức đầu tư giữa Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Viện Hàn lâm

có cơ sở hay nói cách khác, cho đến nay Bộ KH&CN vẫn chưa xây dựng
được một hệ thống khung định mức kinh tế kỹ thuật, định mức nhân công,
vật tư, thiết bị áp dụng cho đề tài để trên cơ sở đó Bộ Tài chính có căn cứ
ban hành các định mức tài chính.
- Xác định định mức chi công lao động của các thành viên đề tài
không căn cứ theo chức danh khoa học mà chỉ căn cứ theo chức danh tham
gia trong đề tài gây bất cập cho các nhà khoa học có trình độ học hàm học
vị, có nhiều kinh nghiệm và thâm niên trong nghiên cứu.
- Quyền tự chủ: Khoán chi và giao quyền tự chủ cho các tổ chức
KH&CN và các chủ nhiệm đề tài được quy định tại Thông tư 27, tuy
nhiên thực tiễn triển khai thì tinh thần khoán chi và giao quyền chủ động
còn chưa được áp dụng một cách đúng đắn theo tinh thần các văn bản,
một phần do cách hiểu của một bộ phận cán bộ kho bạc nhà nước địa
phương về văn bản chưa thấu đáo, một phần do sự không thống nhất giữa
các văn bản quản lý nhà nước.
- Định mức chi khác: Một số nội dung chi và định mức chi cho đề
tài KHXH chưa được quy định.
3.1.2.2. Quản lý kinh phí hoạt động thường xuyên
Chủ trương giao quyền tự chủ và khoán kinh phí hoạt động thường
xuyên theo theo chức năng, nhiệm vụ được giao, mà không cấp kinh phí
thường xuyên theo đầu biên chế như trước đây là chủ trương đúng đắn và
tạo điều kiện cho các tổ chức KH&CN. Tuy nhiên, do chưa có văn bản
hướng dẫn cụ thể để chuyển đổi cấp kinh phí hoạt động thường xuyên
trên đầu biên chế sang cấp theo nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đối với
các tổ chức KH&CN công lập nên đến nay cách phân bổ và quản lý kinh
phí hoạt động thường xuyên vẫn triển khai như cũ. Đồng thời, quyền tự
chủ về tài chính bị hạn chế hoặc phải tuân thủ theo các ràng buộc khác

13


viện chuyên ngành, vừa trực tiếp tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học
và chịu sự điều tiết của các văn bản quản lý nhà nước. Đây là điều mà các
tổ chức KH&CN thuộc các Trường đại học, các Bộ chuyên ngành không

14


có được. Do đó, khi nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có thể phản ánh được bức tranh cơ bản về
thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động KHXH tại Việt Nam.
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có Mô hình quản lý tài chính ở
Viện Hàn lâm được phân theo 3 cấp: đơn vị dự toán cấp I; đơn vị dự toán
cấp III và đơn vị dự toán cấp IV
3.2.2. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam
3.2.2.1. Thực trạng quản lý nguồn thu
Nguồn thu tại Viện Hàn lâm được hình thành từ 02 nguồn chính:
Nguồn NSNN và nguồn thu sự nghiệp. Trong thời gian qua, nguồn thu
của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam chủ yếu từ NSNN, thu từ hoạt động
sự nghiệp không đáng kể. Nguồn thu từ NSNN vẫn chủ yếu theo hình
thức cấp phát, không chỉ kinh phí hoạt động mà kinh phí chi thực hiện đề
tài vẫn thông qua cấp phát theo tổ chức là chính, kinh phí thông qua đấu
thầu cạnh tranh rất nhỏ.
3.2.2.2. Thực trạng quản lý sử dụng nguồn thu
Quản lý sử dụng nguồn lực tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam được phản ánh qua các nội dung sau:
 Đối với nguồn kinh phí từ NSNN cấp
(i) Chi thực hiện các đề tài, nhiệm vụ KH&CN
(ii) Chi thường xuyên
(iii) Chi không thường xuyên

Thứ ba, các văn bản quy định mới ban hành bám sát hơn với thực tế
cả về định mức chi và nội dung chi
Thứ tư, triển khai việc quản lý chi thực hiện các đề tài, nhiệm vụ
KH&CN sử dụng NSNN trong lĩnh vực KHXH thời gian vừa qua đã có
nhiều cải tiến
Thứ năm, với việc hình thành các quỹ phát triển KH&CN cả ở cấp
quốc gia, bộ ngành thì cách thức đầu tư tài chính đã có bước thay đổi
đáng kể
3.3.1.2. Về quản lý tài chính và triển khai thực hiện của các tổ
chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội
Thứ nhất, giao quyền tự chủ cho các đơn vị theo Nghị định 115
Thứ hai, quy định về định mức chi và phân bổ dự toán NSNN các
khoản chi thường xuyên cho các tổ chức KH&CN được rõ ràng và bám
gần hơn với thực tế
Thứ ba, công tác quản lý kinh phí các đơn vị đã từng bước đi vào

16


nền nếp, từ khâu lập dự toán, thực hiện dự toán đến quyết toán
Thứ tư, công tác kiểm tra, kiểm soát được thực hiện thường xuyên
đã giúp phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai sót
3.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
3.3.2.1. Những hạn chế
(1) Về cơ chế chính sách quản lý Nhà nước về tài chính trong
hoạt động Khoa học xã hội
Thứ nhất, hệ thống văn bản, chính sách của Nhà nước về quản lý
tài chính đã được ban hành nhưng còn có sự chưa đồng bộ giữa các văn
bản, chưa sát với thực tế, thiếu nhất quán trong hướng dẫn triển khai hoặc
việc tổ chức triển khai thực hiện một số cơ chế chính sách còn chậm và

nghiệp được xem là điểm mới.
Thứ tư, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ và công khai tài chính
tại các đơn vị vẫn chưa phát huy hết vai trò.
Thứ năm, năng lực cán bộ làm công tác tài chính còn hạn chế.
3.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế:
(1) Về cơ chế chính sách quản lý Nhà nước về tài chính trong
hoạt động Khoa học xã hội
Thứ nhất, các quy định về cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ
giữa các văn bản, chưa sát với thực tế, thiếu nhất quán trong hướng dẫn
triển khai.
Thứ hai, với cơ chế phân bổ còn mang tính bình quân theo đầu
người như hiện nay mà không căn cứ vào nhu cầu kế hoạch của từng tổ
chức dẫn đến công tác xây dựng kế hoạch còn mang tính hình thức.
Thứ ba, vớ i việ c phân bổ ngân sách cho hoạ t độ ng nghiên
cứ u khoa họ c tính theo niên độ ngân sách và phân bổ mộ t lầ n ngay
đầ u nă m là chư a phù hợ p vớ i lĩ nh vự c nghiên cứ u KHXH.
Thứ tư, thủ tục quản lý bị hành chính hóa, gây khó khăn và phức
tạp cho cả nhà khoa học lẫn tổ chức KH&CN.
Thứ năm, định mức chi cho hoạt động KHXH chưa phù hợp với
thực tiễn.
Thứ sáu, nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước chưa được khai thác
hiệu quả để đầu tư phát triển KHXH.
(2) Về quản lý tài chính và triển khai thực hiện của các tổ chức
Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội

18


Thứ nhất, các cấp chủ quản, các Bộ, ngành và bản thân các tổ chức
KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH chưa quan tâm đúng mức đến



Thứ hai, việc cụ thể hóa bằng việc ban hành các văn bản thực hiện các
chủ trương, chính sách của nhà nước về quản lý tài chính tại các tổ chức
KH&CN.
Thứ ba, tổ chức bộ máy nhân sự và quy trình hoạt động quản lý tài chính
Trong 3 nhân tố chủ quan thì kết quả phân tích định lượng đã
khẳng định nhân tố cụ thể hóa bằng việc ban hành các văn bản thực hiện
các chủ trương, chính sách của nhà nước về quản lý tài chính tại các tổ chức
KH&CN, là nhân tố ảnh hưởng nhất đến hiệu quả quản lý tài chính của tổ
chức KH&CN.
CHƢƠNG IV
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI
4.1. Bối cảnh và những cơ hội, thách thức đổi mới quản lý tài
chính trong hoạt động Khoa học xã hội
4.1.1. Bối cảnh
Thứ nhất, bối cảnh quốc tế về toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
đang diễn ra mạnh mẽ và là một xu thế tất yếu đối với sự phát triển của
thế giới ngày nay, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra thì càng thấy
rõ vai trò của KH&CN trong phát triển.
Thứ hai, trong điều kiện hội nhập toàn cầu và phát triển kinh tế thị
trường, nhu cầu nguồn lực cho phát triển lớn trong khi nguồn lực có hạn
đòi hỏi các nước phải thay đổi cách thức quản lý tài chính công nhằm sử
dụng hiệu quả các nguồn lực, thể chế chính sách về đổi mới quản lý trong
hoạt động KH&CN theo hướng nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của các tổ chức KH&CN, trong đó, đổi mới quản lý tài chính đóng vai
trò quan trọng.
4.1.2. Cơ hội, thách thức
4.1.2.1. Những cơ hội

quyết định chi tiêu phải triệt để; Thứ hai, các quy định về quản lý tài
chính trong hoạt động KHXH phải đồng bộ, phù hợp; Thứ ba, các quy
định về cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KHXH phải rõ ràng;
Thứ tư, các định mức chi phải được xây dựng dựa trên các đặc thù của
hoạt động KHXH; Thứ năm, các định mức chi phải thường xuyên được
điều chỉnh theo sát với thị trường và điều kiện về kinh tế - xã hội.
4.3. Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động KHXH

21


4.3.1. Nhóm giải pháp tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách của cơ
quan quản lý Nhà nước
Thứ nhất, đồng bộ hóa hệ thống văn bản, chính sách của Nhà nước
về quản lý tài chính trong hoạt động KHXH; Thứ hai, đổi mới phương
thức phân bổ NSNN cho hoạt động KHXH; Thứ ba, đơn giản hóa thủ tục
hành chính trong lập dự toán, giải ngân và thanh quyết toán, cần hướng
tới quản lý theo kết quả đầu ra; Thứ tư, đồng bộ cơ chế chính sách tài
chính trong hoạt động KHXH; Thứ năm, đa dạng hóa các nguồn lực đầu
tư cho KHXH; Thứ sáu, Cần chú trọng đầu tư cho hoạt động KHXH;
Thứ bảy, tiếp tục quan điểm, định hướng của Nghị định 54, đẩy nhanh cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với tổ chức KH&CN hoạt động trong
lĩnh vực KHXH.
4.3.2. Nhóm giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý tài chính tại các tổ
chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội
Thứ nhất, tăng cường tính tự chủ trong quản lý hoạt động; Thứ hai,
hoàn thiện cơ chế kiểm tra, kiểm soát và công khai tài chính; Thứ ba,
kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và ứng dụng
công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý tài chính.
4.4. Điều kiện thực hiện

xây dựng hệ thống các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý tài chính cho
hoạt động KHXH, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý
tài chính trong hoạt động KHXH. Kết quả phân tích của luận án cho thấy,
nhân tố cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước là một trong bốn
nhân tố khách quan có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả quản lý tài chính
trong hoạt động KHXH; nhân tố ban hành các văn bản thực hiện các chủ
trương, chính sách của nhà nước về quản lý tài chính tại các tổ chức
KH&CN” là một trong ba nhân tố chủ quan quan trọng ảnh hưởng đến hiệu
quả quản lý tài chính tại các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực
KHXH; Thứ ba, luận án đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng công
tác quản lý tài chính của KHXH nói chung, phân tích số liệu của Viện
Hàn lâm KHXH Việt Nam và một số cơ quan khác để so sánh; từ đó,
luận án đã chỉ ra được những bất cập, hạn chế, tồn tại trong quản lý tài
chính trong hoạt động KHXH, bao gồm từ quản lý Nhà nước về tài chính
trong hoạt động KHXH và quản lý tài chính tại tổ chức KH&CN hoạt
động trong lĩnh vực KHXH. Để phân tích thực trạng, ngoài các minh
chứng từ số liệu thứ cấp, tác giả luận án đã thực hiện điều tra phiếu tại
các đơn vị nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Việc
phân tích số liệu thứ cấp và số liệu điều tra của luận án đã chỉ ra những

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status