trờng đại học ngoại thơng hà nội
Khoa Kinh tế ngoại thơng
Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài:
Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
tại ngân hàng ngoại thơng Việt Nam
Giáo viên hớng dẫn : GS. Đinh Xuân Trình
Sinh viên thực hiện : Giang thị thu trang
Lớp : A5 - K38B - KTNT
Hà Nội - 2003
lời cảm ơn
Trong thời gian thực hiện khoá luận tốt nghiệp "Quản lý rủi ro trong
hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam, em
đã nhận đợc sự động viên, khích lệ từ nhiều phía.
Trớc hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy cô giáo Tr-
ờng Đại học Ngoại thơng. Luận văn này không chỉ là sự nỗ lực của bản thân
em mà còn chính là thành quả của quá trình học tập, nghiên cứu hơn 4 năm
tại trờng dới sự chỉ bảo, dìu dắt và giúp đỡ của các thầy cô.
Đặc biệt, em xin dành lời cảm ơn và biết ơn chân thành tới thầy giáo
hớng dẫn - G.S Đinh Xuân Trình thuộc bộ môn Thanh toán quốc tế, và phòng
Kinh doanh ngoại tệ Ngân hàng Ngoại Thơng Việt Nam. Sự giúp đỡ và chỉ
bảo nhiệt tình của thầy cùng các cán bộ phòng Kinh doanh ngoại tệ là động
lực vô cùng quan trọng để em hoàn thành luận văn này.
Do điều kiện tài liệu và thời gian có hạn, kinh nghiệm bản và khả
năng bản thân còn hạn chế, luận văn của em không khỏi có những thiếu sót.
Vì vậy, em rât mong đợc các thầy cô xem xét đánh giá, góp ý để khoá luận
tốt nghiệp của em mang tính thiết thực hơn và có chiều sâu hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
lời nói đầu
pháp quản lý rủi ro đợc áp dụng tại ngân hàng, trên cơ sở đó đa ra các điểm
hạn chế trong hoạt động quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng
Ngoại thơng Việt nam.
Đánh giá nhằm rút ra những giải pháp và kiến nghị cho việc nâng cao
hiệu quả quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng
Ngoại thơng.
IV. Phơng pháp, phạm vi nghiên cứu:
Khoá luận sử dụng phơng pháp nghiên cứu tài liệu, phơng pháp thống
kê, tổng hợp dựa trên các số liệu thu thập từ Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại
thơng Việt nam, vụ quản lý Ngoại hối; cũng nh phơng pháp phỏng vấn trực
tiếp nhằm đem lại hiệu quả tích cực cho đề tài.
VI.Cấu trúc của đề tài:
Ngoài lời nói đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chơng sau:
2 Chơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro trong hoạt động kinh
doang ngoại hối.
3 Chơng II: Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại
ngân hàng Ngoại thơng Việt nam.
4 Chơng III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thơng Việt nam.
chơng i:
những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro
trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
I. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối.
1. Một vài nét về hoạt động kinh doanh ngoại hối
Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phơng tiện có giá trị đợc
dùng để tiến hành thanh toán giữa các quốc gia. Tuỳ theo quan niệm của
luật quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia mà khái niệm ngoại hối có thể khác
nhau, nhng xét đại thể ngoại hối có thể gồm:
5 Ngoại tệ: bao gồm cả ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ tín dụng
11 Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình)
nhằm mục đích thực hiện đầu t nớc ngoài trực tiếp và gián tiếp.
12 Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình)
nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền đó để giảm
rủi ro hối đoái.
13 Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính sự
biến động của tỷ giá.
Trong bốn hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên, hai hoạt động đầu ngân
hàng thực hiện cho khách hàng để thu phí, do đó ngân hàng không phải hứng
chịu rủi ro hối đoái. Hoạt động thứ ba, ngân hàng tiến hành nghiệp vụ phòng
ngừa rủi ro hối đoái, tức là làm giảm rủi ro hối đoái. Nh vậy rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngoại hối ngoài các rủi ro thuần tuý do hoạt động kinh
doanh đem lại thì có liên quan trực tiếp đến hoạt động thứ t, tức là liên quan
trực tiếp đến trạng thái hối đoái mở đối với những hoạt động mua bán mang
tính đầu cơ.
2. Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
Rủi ro là một khái niệm chỉ khả năng xảy ra những biến cố mang lại
kết quả xấu khi tiến hành một công việc nào đó. Rủi ro gồm hai loại chính là
rủi ro mang tính đầu cơ và rủi ro thuần tuý.
Hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thơng mại là một
hoạt động hết sức nhạy cảm và không nằm ngoài quy luật, nó cũng tiềm ẩn
những rủi ro. Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối là những rủi ro làm sai lệch
kết quả hoạt động kinh doanh do sự cố biến động về tỷ giá của các ngoại tệ
có liên quan.
Đặc biệt trong hệ thống tỷ giá thả nổi hiện nay, tỷ giá hối đoái với t
cách là giá cả của một loại hàng hoá đặc biệt luôn biến động không ngừng
do nhiều nhân tố tác động, thì vấn đề rủi ro hối đoái thờng xuyên xuất hiện.
Các đối tợng thờng xuyên chịu rủi ro hối đoái là các Ngân hàng và các
công ty tham vào nền tài chính quốc tế.
Toàn bộ số tiền có thể chịu rủi ro hối đoái là trạng thái hối đoái mở
đó. Kết quả ngợc lại nếu trạng thái hối đoái mở là âm hoặc tài sản Nợ lớn
hơn tài sản Có đồng tiền đó. Nh vậy, rủi ro về tỷ giá sẽ xuất hiện nếu một
trạng thái hối đoái mở đợc tạo ra.
Ví dụ, một ngân hàng Việt Nam mua của một khách hàng hay của một
ngân hàng khác một lợng USD với tỷ giá nào đó, thì cho đến khi bán hết
khối lợng này, ngân hàng mới hết lo lắng về rủi ro tỷ giá, rủi ro chỉ xảy ra
cho đến khi san bằng trạng thái hối đoái mở này. Rủi ro sẽ tăng lên theo thời
gian trạng thái hối đoái mở tồn tại, nhng nó cũng quan trọng ngay trong
khoảng thời gian giữa lúc hình thành và khoá sổ trạng thái hối đoái mở này,
thậm chí trong vòng một phút, khi có một biến động nhỏ của tỷ giá thì điều
đó đã dẫn tới hậu quả của một thất thoát lớn, nếu khối lợng ngoại tệ kinh
doanh nhiều. Nếu tỷ giá hối đoái khi bán ra giảm xuống thì ngân hàng sẽ bị
thiệt hại. Nếu giả sử ngân hàng vẫn muốn giữ khoản tiền này thêm thì rủi ro
càng lớn hơn nữa. Mối nguy hiểm này không hề phụ thuộc vào tỷ giá hối
đoái, tức là bất kể đồng tiền này theo tỷ giá thả nổi hay tỷ giá cố định. Thật
ra, biên độ biến động hàng ngày của tỷ giá USD đã mở rộng nhiều trong giai
đoạn chuyển sang cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi, thế nhng trong hệ thống tỷ
giá hối đoái cố định lại có những rủi ro khác đó là tăng hoặc giảm giá trị của
đồng tiền.
Đặc biệt khi chế độ Bretton Woods sụp đổ năm 1971, quan hệ tiền tệ
giữa các nớc đợc thả nổi, trong đó điển hình nhất là cơ chế Tỷ giá thả nổi
của các quốc gia t bản chủ nghĩa. Với cơ chế này tỷ giá hối đoái của các nớc
biến động hàng ngày, hàng giờ trên thị trờng do chịu ảnh huởng của nhiều
nhân tố nh lạm phát, tình hình cán cân thanh toán quốc tế, tình hình cung cầu
ngoại hối trên thị trờng
Cung cầu ngoại hối trên thị trờng là nhân tố ảnh hởng trực tiếp và nhạy
bén đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. Quan hệ cung cầu về ngoại hối bị
ảnh hởng bởi các nhân tố sau:
18 Tình hình d thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán quốc tế. Nếu cán
cân thanh toán d thừa thì có thể dẫn đến khả năng cung ngoại hối lớn hơn
mà khối lợng ngoại hối đợc giao dịch trong ngày cũng rất lớn do đó mà
những biến động nhỏ trong tỷ giá hối đoái của các ngoại tệ sẽ gây ra một ảnh
hởng rất lớn đối với kết quả kinh doang của ngân hàng.
Trạng thái hối đoái mở của mỗi ngoại tệ có thể là dơng hoặc âm. Trạng
thái ngoại hối dơng khi tài sản Có lớn hơn tài sản Nợ. Trạng thái ngoại hối
âm khi tài sản Nợ lớn hơn tài sản Có. Tại phòng kinh doanh nơi mà nhà kinh
doanh phải thoả mãn các yêu cầu của khách hàng, thì trạng thái hối đoái th-
ờng xuyên xuất hiện. Tình trạng này xuất hiện là do hàng ngày luôn có các
nguồn luân chuyển vốn. Mỗi khi một trạng thái mở xuất hiện là ngân hàng ở
trạng thái rủi ro hối đoái, nghĩa là khả năng thu đợc hay mất đi một số tiền
nếu tỷ giá thay đổi. Đặc biệt khi lợng ngoại hối d thừa hoặc thiếu hụt đến
mức nếu rủi ro hối đoái xảy ra sẽ đa ngân hàng vào tình trạng phá sản, vì vậy
ngân hàng phải luôn tìm cách cân bằng trạng thái hối đoái thực để hạn chế
bớt những thiệt hại của rủi ro này. Để làm đợc điều này thì ngân hàng phải có
mối quan hệ bạn hàng rộng rãi với các công ty thơng mại cỡ lớn cũng nh
hoạt động tích cực trên thị trờng liên ngân hàng.
3.1.2. Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất hay còn gọi là rủi ro tỷ lệ SWAP là rủi ro về lãi suất th-
ờng xảy ra trong trạng thái kỳ hạn. Trạng thái kỳ hạn không cân bằng có thể
gặp rủi ro lãi suất. Ngay cả trong trờng hợp trạng thái ròng cân bằng cũng có
thể gặp rủi ro lãi suất nếu nh thời điểm đáo hạn của các hợp đồng mua và
bán không khớp nhau. Sở dĩ nh vậy là vì rủi ro đối với trạng thái kỳ hạn nằm
ở lãi suất của các ngoại tệ có mặt trong giao dịch mua bán ngoại tệ đó. Nếu
trớc thời điểm đáo hạn của giao dịch có sự biến động về lãi suất của một
trong hai đồng tiền giao dịch mà nằm ngoài mong muốn thì sẽ xuất hiện rủi
ro lãi suất.
Giao dịch SWAP là giao dịch gồm đồng thời hai giao dịch mua và bán
của cùng một số lợng đồng tiền này với một đồng tiền khác (chỉ có 2 đồng
tiền đợc thực hiện trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao
dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch đợc xác định tại thời điểm ký kết
21 Bán 5 triệu GBP cho khách hàng với thời hạn 4 tháng theo tỷ giá
GBP/SGD là 2,7731:= 13.865.000 SGD.
22 Mua 5 triệu GBP trên thị trờng theo thời hạn 3 tháng với tỷ giá GBP/SGD
là 2,7769:=13.898.000 SGD
Nghiệp vụ SWAP gia hạn khi hết 3 tháng:
1 Nếu quan hệ lãi suất không đổi (tỷ giá giao ngay ổn định):
Bán 5 triệu GBP giao ngay với tỷ giá GBP/SGD là 2,8:=14.000.000 SGD.
Mua 5 triệu GBP thời hạn 1 tháng với tỷ giá GBP/SGD là
2,793: =13.965.500 SGD.
Sự chuyển đổi này đợc thực hiện không có lãi mà cũng không bị lỗ, khoản
chênh lệch 2.000 SGD đợc tạo ra từ tỷ giá ngoại hối thời hạn.
2 Chênh lệch lãi suất có lợi cho đồng GBP là 1%/năm:
Bán 5 triệu GBP giao ngay với tỷ giá GBP/SGD là 2,8 = 14.000.000 SGD
Mua 5 triệu GBP thời hạn 1 tháng với tỷ giá là 2,7977:=13.988.500 SGD
Ngân hàng chịu lỗ một khoản 21.000 SGD (cha tính đến phần lãi suất duơng
từ doanh thu tiền mặt phát sinh do từ cuối tháng thứ 3 ngân hàng thu đợc
14.000.000 SGD từ nghiệp vụ SWAP gia hạn, nhng chỉ phải trả có
13.965.500 SGD. Nếu tỷ giá GBP/SGD giảm thì doanh lợi về lãi suất sẽ trở
thành thiệt hại về lãi suất).
So sánh với rủi ro tỷ về tỷ giá, không nghi ngờ rằng, rủi ro về tỷ lệ lãi
suất ít có ý nghĩa hơn, nhng với khối lợng kinh doanh lớn cũng tạo ra điều
đáng quan tâm. Điều này ít có giá trị cho nghiệp vụ giao dịch với khách
hàng, vì ngay từ đầu nghiệp vụ này bị giới hạn bởi số lợng khách hàng và
một phần hoạt động chuyển đổi đối ứng đã đợc các nhà xuất nhập khẩu tự
cân đối với nhau. Trong nghiệp vụ với khách hàng, khối lợng lợi nhuận tạo ra
đã tạo thành khối lợng đảm bảo. Ngợc lại trong trờng hợp Arbitrage tỷ giá
hối đoái kỳ hạn không thể có đợc một giới hạn rủi ro tự nhiên. Nếu xét về
khả năng ký kết các hợp đồng nghiệp vụ Arbitrage thời hạn có phạm vi rộng
lớn. Tơng tự nh vậy, ở đây sẽ xuất hiện nguy cơ làm thất thoát lớn.
Tóm lại, rủi ro lãi suất hay gọi là rủi ro tỷ lệ SWAP chính là rủi ro về
Điều này thực tế đã xảy ra với ngân hàng Herstatt tại Đức trong năm
1974. Nhiều ngân hàng Đức và ngân hàng nớc ngoài đã mua USD của ngân
hàng Herstatt và phải trả tiền bằng đồng DEM 5-6 tiếng theo quy định trớc
khi nhận đợc USD. Ngay sau khi các ngân hàng này trả tiền vào buổi tra thì
đồng loạt các quầy giao dịch của ngân hàng Herstatt bị đóng cửa theo chỉ
định của Cục thanh tra liên bang ngành tín dụng. Thông tin về việc đình chỉ
thanh toán đã nhanh chóng lan ra trên toàn thế giới. Các ngân hàng ở Mỹ đã
không thực hiện đợc những hợp đồng bán USD đã ký với ngân hàng Herstatt
mặc dù họ đã nhận đồng DEM và lợng ngoại tệ này bây giờ chỉ đợc xem là
những món nợ phải đòi đối với tài sản thanh lý còn lại.
3.3 Rủi ro về khả năng thanh toán
Rủi ro về khả năng thanh toán trên thị trờng hối đoái cũng xuất hiện
trong trờng hợp không có khả năng vó đợc vốn bằng đồng tiền nh dự định.
Ví dụ: một giao dịch SWAP mua SGD kỳ hạn 3 tháng bằng đồng USD
đồng thời bán SGD lấy USD kỳ hạn 1 tháng. Nếu ngân hàng trung ơng
Singapore quyết định dừng mọi giao dịch hối đoái của mình vì lý do thị trờng
bất ổn định, chúng ta sẽ phải mua SGD trên thị trờng khác, những ngời bán
SGD này không thể giao dịch với khối lợng lớn, chẳng hạn 1000 triệu SGD
hoặc hơn, thì khó có thể thực hiện đợc giao dịch nh đã định. Trong trờng hợp
giao dịch không đợc thực hiện nh đã định, điều đó có nghĩa gần nh chắc chắn
xảy ra tình trạng phá sản đối với một số tổ chức tài chính.
3.4 Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động thờng thể hiện dới ba hình thức chính là rủi ro trong
việc dùng ngời, rủi ro vận hành và rủi ro tổ chức.
3.4.1.Rủi ro trong việc dùng ngời:
Là loại rủi ro xuất phát một cách chủ quan từ các nhân viên tham gia
vào quá trình thực hiện giao dịch kinh doanh ngoại hối, nguyên nhân chính
là còn hạn chế về trình độ, mức độ tinh thông nghiệp vụ cũng nh kinh
nghiệm còn ít ỏi.
Chẳng hạn một ngời kinh doanh quên không lập chứng từ mua bán,
trọng hơn đến rủi ro về khả năng thanh toán của mình.
II. Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại
hối.
1. Khái niệm quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
Định nghĩa về quản lý ngoại hối tự thân nó đã là một đề tài lớn. Tuỳ
theo cách hiểu và trong từng lĩnh vực khác nhau mà ngời ta có những định
nghĩa khác nhau về quản lý rủi ro.
ở đây, ta xem xét quản lý rủi ro dới khía cạnh là việc nhận định và áp
dụng các biện pháp dự báo và phòng ngừa rủi ro dới khía cạnh là việc nhận
định và áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro cần thiết, đồng thời có khả
năng kiểm soát và quản trị đợc những rủi ro này nếu nh chúng xảy ra, nhằm
mục đích tránh và hạn chế tối đa tổn thất thiệt thại, hoặc chấp nhận rủi ro ở
mức nhất định có thể cho phép.
2. Vì sao quản lý rủi ro có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
doanh ngoại hối
Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, có thể nói không thể tránh
khỏi mọi rủi ro. Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng luôn có mối quan hệ cùng
chiều. Peter Clairin, chuyên gia trong lĩnh vực quản lý rủi ro của ngân hàng
Bank of NewYork đã đúc kết lại thành châm ngôn trong kinh doanh ngoại
hối nh sau: More profit, more risks (Lợi nhuận càng nhiều thì rủi ro sẽ
càng lớn). Tuy nhiên, rủi ro có thể đợc giảm thiểu nếu nh việc quản lý rủi ro
trong kinh doanh ngoại hối đợc thực hiện tốt.
Không có việc quản lý rủi ro thì giống nh việc ngời đi trong đêm
không trông thấy đờng, không biết khi nào mình sẽ bị vấp ngã và liệu việc
vấp ngã sẽ ảnh hởng đến sức khoẻ nh thế nào, có bị gãy chân hay chỉ bong
gân mà thôi? Trong lịch sử, sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng Baring chính
là một minh chứng cụ thế cho vai trò to lớn của quản lý rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngoại hối.
Hiện nay, vai trò của kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quan
trọng, dó đó việc phát triển giao lu buôn bán quốc tế làm cho nhu cầu trao
hàng tại một hay nhiều quốc gia. Khi đó, do có nhiều chi nhánh cùng đợc
phép hoạt động kinh doanh ngoại hối trực tiếp nên hoạt động quản lý rủi ro
sẽ đợc thực hiện trên tại tất cả các chi nhánh này. Hơn nữa, rủi ro trong hoạt
động ngoại hối tại các chi nhánh không đợc tập trung quản lý, không đợc
tách bạch giữa các hoạt động kinh doanh ngoại hối và hoạt động quản lý rủi
ro, không có sự phân chia đầy đủ thành các bộ phận độc lập bao gồm bộ
phần giao dịch trực tiếp, bộ phần thực hiện giao dịch, bộ phận kiểm soát và
quản lý rủi ro.
3.2 Các biện pháp quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
3.2.1. Quản lý rủi ro tài chính
a. Quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái
Giới hạn trạng thái hối đoái
Trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ là chênh lệch giữa tổng tài sản
Có và tổng tài sản Nợ của một ngoại tệ. Trạng thái ngoại tệ cuối ngày đợc
tính trên cơ sở trạng thái ngoại tệ ngày hôm trớc và chên lệch giữa doanh số
mua và doanh số bán phát sinh trong ngày của ngoại tệ đó, bao gồm cả giao
dịch Spot và giao dịch Foward.
Nhằm tránh thất thoát quá mức do biến động tỷ giá, từ lâu các ngân
hàng đã áp dụng mức hình thành các trạng thái hối đoái cho các phòng kinh
doanh ngoại hối. Mức độ của các giới hạn này là phụ thuộc vào số hoạt động
của ngân hàng, khả năng chấp nhận rủi ro và lòng tin vào khả năng kinh
doanh của ngời điều hành kinh doanh ngoại hối.
Giới hạn trạng thái ngoại hối (Limit of Foreign Exchange Position) là
mức chênh lệch cao nhất hoặc thấp nhất giữa tài sản Có ngoại tệ và tài sản
Nợ ngoại tệ.
Từ hạn mức trạng thái hối đoái của các ngân hàng sẽ cho phép tính
toán đợc mức của rủi ro và tất nhiên cả khả năng lợi nhuận thu đợc. Trong
mối quan hệ này cần lu ý rằng lợi nhuận của ngân hàng này không nhất thiết
phải tơng ứng với thiệt hại của ngân hàng khác. Vì lợi nhuận này sinh ra từ
nghiệp vụ khách hàng, tức chênh lệch tỷ giá giữa giá trị thanh toán ngoại tệ
họ bằng đồng bản tệ. Dĩ nhiên, điều này sẽ tạo ra một trạng thái thực d mua
hay d bán rất lớn của đồng bản tệ, mà cũng nh các đồng tiền khác nó có thể
chịu sự phá giá hay tăng giá.
Cân bằng trạng thái ngoại hối
Tại phòng giao dịch ngoại hối, các ngân hàng thờng xuyên xuất hiện
các trạng thái hối đoái do hàng ngày luôn có các luồng luân chuyển vốn. Nh
đã nói ở phần trên để hạn chế bớt rủi ro hối đoái ngời ta đã đa ra các hạn
mức của trạng thái hối đoái, khi vợt qúa hạn mức này thì đòi hỏi cần phải cân
bằng trạng thái hối đoái d thừa hay thiếu hụt này.
Để xem xét vấn đề này chúng ta lấy ví dụ một ngân hàng ở Anh với
giả thiết ban đầu cha có giao dịch nào đợc thực hiện. Giả thiết rằng với thời
điểm ban đầu của một khách hàng, ngân hàng mua SGD bằng GBP kỳ hạn 1
tháng theo tỷ giá 2,3930 GBP/SGD. Giao dịch này thực hiện ở Anh vào cuối
buổi chiều khi thị trờng hối đoái đã ngừng làm việc mà lúc này các thị trờng
Singapore đã đóng cửa. Do đó, ngân hàng đã đa ra tỷ giá thấp hơn 10 điểm
(bps) so với tỷ giá hiện hành trên thị trờng 2,3940 GBP/SGD. Ngân hàng
muốn biết rằng chỉ có thể cân bằng trạng thái hối đoái kỳ hạn này vào hôm
sau. 10 bps chênh lệch này không chỉ bao gồm lợi nhuận của ngân hàng mà
còn đợc coi nh chi phí phòng ngừa rủi ro hối đoái qua đêm.
Vấn đề nhà kinh doanh hối đoái gặp phải ở đây là trạng thái hối đoái
d thừa SGD (thiếu GBP). Để khắc phục tình trạng này, nhà kinh doanh sẽ
thực hiện một giao dịch ngợc lại với giao dịch trên tại thị trờng giao ngay,
bán SGD mua GBP. Nh vậy đối với SGD và GBP số lợng mua vào và số lợng
bán ra bằng nhau. Đồng thời nhà kinh doanh tạo ra trạng thái hối đoái thừa
SGD qua đêm. Bằng cách này, lợi nhuận của nhà kinh doanh sẽ không bị ảnh
hởng bởi những thay đổi về chênh lệch lãi suất hoặc tỷ giá SWAP. Do chênh
lệch lãi suất qua đêm thờng thay đổi ít hơn tỷ giá hối đoái giao ngay nên
trạng thái SWAP sẽ ít mạo hiểm hơn trạng thái hối đoái.
Sang ngày hôm sau, nhà kinh doanh có thể chọn phơng pháp thị trờng
tiền tệ hoặc phơng pháp thị trờng hối đoái để xoá bỏ trạng thái hối đoái này.
cân thanh toán phản ánh trực tiếp thực trạng kinh tế- tài chính của một quốc
gia, quyết định cung cầu tiền tệ của quốc gia đó và nh vậy ảnh hởng trực tiếp
đến biến động tỷ giá hối đoái.
-Phân tích dựa trên ngang giá sức mua
Ngợc lại với phơng pháp phân tích dựa trên cán cân thanh toán, thuyết
ngang giá sức mua của các đồng tiền (PPP-Purchasing Power Parity) lại coi
nguồn hàng luân chuyển giữa hai quốc gia là kết quả tỷ giá hối đoái và biến
động tỷ giá là do chênh lệch sức mua các đồng tiền gây ra. Thuyết ngang giá
sức mua đợc sử dụng để tính toán tỷ giá hối đoái thực và để dự đoán biến
động tỷ giá trên các thay đổi giá cả trong tơng lai.
-Phơng pháp phân tích dựa trên danh mục đầu t (Portfolio Approach)
Phơng pháp phân tích dựa trên danh mục vốn tập trung vào lợng ngoại
tệ đang nắm giữ của một quốc gia (số d ngoại tệ tại từng thời điểm) chứ
không quan tâm nhiều đến sự luân chuyển các luồng tiền tệ. Ngời ta coi việc
so sánh tình trạng rủi ro ngoại hối thực tế với dự tính là cơ sở để tính toán
khả năng điều chỉnh cơ cấu vốn đầu t (quyết định đầu t vào đồng tiền nào,
khối lợng bao nhiêu). Trong phơng pháp này, dự tính thị trờng của các thành
viên thị trờng đóng vai trò chủ đạo, quyết định về phân bổ tài sản có của một
nhà đầu t dựa trên dự tính về lợi nhuận và độ an toàn của danh mục vốn đầu
t. Nếu cho rằng các khoản đầu t ngoại tệ là quá mạo hiểm trong mối tơng
quan với lợi nhuận mà chúng đem lại thì nhà đầu t đó chắc chắn chỉ giữ một
phần rất nhỏ tài sản của mình bằng ngoại tệ. Trờng hợp dự tính lãi suất ngoại
tệ đáng kể mạo hiểm thì nhà đầu t sẽ mở rộng hơn phần ngoại tệ trong danh
mục vốn đầu t của mình. Những điều chỉnh tơng tự nh vậy đợc thực hiện rất
linh hoạt chẳng hạn số lợng các chứng khoán ngoại tệ trong một danh mục
vốn đầu t của mình. Những điều chỉnh tơng tự nh vậy đợc thực hiện rất linh
hoạt chẳng hạn số lợng các chứng khoán ngoại tệ trong một danh mục đầu t
tăng từ 5% đến 10% trong vòng 1 tuần hoàn toàn không phải là bất thờng.
Nh vật sự luân chuyển ngoại tệ do việc phân bổ hạng mục đầu t gây ra có thể
dẫn đến biến động tỷ giá mạnh và đột ngột. Do đó, cần phải dự đoán trớc đợc
suất cho từng khối lợng tiền, đồng tiền hay thời gian nhất định nào đó.
Một hợp đồng lãi suất có kỳ hạn có thể đợc thực hiện với mọi đồng
tiền chuyển đổi. Số lợng tối thiểu với mọi đồng tiền vào khoảng 5 triệu đơn
vị (ví dụ 5 triệu JPY hay 5 triệu SGD). Đặc điểm của các hợp đồng lãi suất
kỳ hạn là ở chỗ không bao giờ có sự chuyển đồi tiền gốc mà chỉ có những
khoản chênh lệch lãi suất đợc trả theo số lợng tiền gốc vào ngày thanh toán,
lãi suất áp dụng ở đây là lãi suất LIBOR.
Ví dụ: một hợp đồng lãi suất kỳ hạn đợc yết thị: FRA 6 tháng trên 9
tháng, nghĩa là lãi suất nói đến ở đây là cho khoản tín dụng thời hạn 3 tháng
đợc tính đúng theo yêu cầu nguyên tắc: lãi suất của toàn bộ thời kỳ phải
ngang bằng với lãi suất trung bình của hai giai đoạn ngắn. Có nghĩa là lãi
suất cho 9 tháng phải tơng đơng với lãi suất cho 6 tháng trớc khi FRA cũng
nh cho cả thời hạn 3 tháng của FRA.
Thờng thì chênh lệch lãi suất đợc trả ngay khi tính toán hợp đồng,
nghĩa là ngay khi bắt đầu thời gian này. Nh vậy chênh lệch này đợc thực hiện
bằng chiết khấu bởi vì thờng phải trả lãi suất vào cuối thời hạn tín dụng. Nh
vậy, một trạng thái rủi ro lãi suất có thể thực hiện phòng chống bằng cách ký
kết hợp đồng lãi suất kỳ hạn tơng ứng. Lợi nhuận hay thua lỗ của trạng thái
này sau đó đợc bù trừ bằng thua lỗ hay lợi nhuận qua thực hiện hợp đồng lãi
suất kỳ hạn.
Một nguyên tắc quan trọng ở đây là ngời vay tiền đề phòng tình trạng
lãi suất cao hơn thì phải mua còn ngời đầu t muốn tránh tình trạng lãi suất hạ
thì phải bán FRA.
Quyền lựa chọn lãi suất (Option on Interest Rate Future)
Ngoài việc áp dụng các hợp đồng lãi suất kỳ hạn , trên thị trờng tiền
tệ, ngời ta có thể dùng công cụ quyền chọn lãi suất để phòng ngừa rủi rolãi
suất. Một quyền lựa chọn lãi suất trao sau đem lại cho ngời mua một quyền
chứ không phải nghĩa vụ đợc hởng (trong trờng hợp quyền chọn mua hợp
đồng lãi suất kỳ hạn- call option) hay trả (trong trờng hợp quyền chọn bán
hợp đồng lãi suất kỳ hạn- put option), lãi suất cơ sở theo thoả thuận (hay còn