“quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay đầu tư tại ngân hàng phát triển việt nam - Pdf 22

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHPT: Ngân hàng phát triển
NHPTVN: Ngân hàng Phát triển Việt Nam
NHTM: Ngân hàng thương mại
TCTD: Tổ chức tín dụng
TDĐT: Tín dụng đầu tư
TDXK: Tín dụng xuất khẩu
XLRR: Xử lý rủi ro
BĐTV: Đảm bảo tiền vay
NSNN: Ngân sách Nhà nước
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
KT-XH: Kinh tế - Xã hội
RRTD: Rủi ro tín dụng
HĐTD: Hợp đồng tín dụng
DANH MỤC CÁC BIỂU, SƠ ĐỒ
BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của NHPTVN Error: Reference source not
found
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng Phát triển Viêt Nam là môt tổ chức tài chính Nhà nước, được
thành lập trên cơ sở tổ chức lại Quỹ hỗ trợ phát triển với chức năng, nhiệm vụ chủ
yếu là thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước
theo Quyết định số 108/2006/QĐ – TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng phủ.
Hoạt động chủ yếu của NHPT tập trung chủ yếu vào tín dụng, trong đó
dư nợ cho vay đầu tư chiếm 60% tổng dư nợ. Đối tượng cho vay vốn tín
dụng đầu tư chủ yếu là các dự án thuộc ngành, vùng kinh tế khó khăn, các

TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN
Nội dung chương I, tác giả trình bày những vấn đề chung về quản trị rủi
ro tín dụng phá triển bao gồm 3 phần chính.
1. Khái quát về Ngân hàng Phát triển
Trong phần này, tác giả nghiên cứu khái quát về NHPT, các dự án phát
triển (đối tượng tài trợ của NHPT), đặc điểm của tín dụng phát triển trong sự
so sánh với hoạt động tín dụng của các NHTM. Tóm tắt như sau:
NHPT là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và
dài hạn cho các dự án phát triển.
Tín dụng phát triển là sự hỗ trợ của Nha nước thông qua hình thức tín
dụng để tài trợ cho các dự án phát triển thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến
khích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ như:
thúc đẩy sự phát triển của ngành, vùng; thúc đẩy quá trình thay đổi cơ cấu
kinh tế hoặc cơ cấu thu nhập của nhiều bộ phận dân cư….
Hoạt động tín dụng phát triển khác hoạt động tín dụng của NHTM về mục
đích, đối tượng, quy mô, thời hạn cho vay, các ưu đãi về lãi suất, điều kiện đảm
bảo tiền vay và các điều kiện tín dụng khác thường thông thoáng hơn.
2. Rủi ro trong tín dụng phát triển
Phần này tác giả nghiên cứu về những rủi ro tín dụng phát triển trong sự
so sánh với các rủi ro tín dụng của NHTM, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín
dụng phát triển. Tóm tắt như sau:
Rủi ro tín dụng phát triển của NHPT là khả năng xảy ra những tổn thất
ngoài dự kiến cho NHPT do khách hàng vay vốn tín dụng phát triển không trả
đúng hạn, không trả hoặc trả không đầy đủ vốn và lãi.
iii
Rủi ro tín dụng phát triển thường cao hơn so với NHTM do: mức độ tập
trung vốn của NHPT thường cao hơn; Dự án phát triển có quy mô vốn lớn,
thời gian vay vốn dài, nhiều Dự án được thực hiện tại các vùng khó khăn, đặc
biệt khó khăn và đầu tư vào các Ngành, sản phẩm mới; chỉ có tài sản đảm bảo
hình thành từ vốn vay; người vay lợi dụng chính quyền địa phương và chủ

hỗ trợ sau đầu tư, bảo lãnh, quản lý vốn ODA.
2. Hoạt động cho vay đầu tư tại NHPTVN
Phần này, tác giả giới thiệu về hoạt động cho vay đầu tư của NHPTVN,
từ cơ chế, chính sách của Nhà nước, của NHPT, kết quả đạt được.
3. Rủi ro trong hoạt động cho vay đầu tư tại NHPTVN
Tác giả thu thập, phân tích các số liệu phản ánh rủi ro trong hoạt động
cho vay đầu tư của NHPTVN theo các nhóm nợ theo quy định của NHNN,
v
trong đó chi tiết theo nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn; phân tích theo
nhóm ngành.
4. Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đầu tư của
NHPTVN.
Đây là nội dung chính tác giả tập trung nghiên cứu trong chương này, tác
giả đã phản ánh công tác quản trị rủi ro của NHPTVN thể hiện trong Tổ chức
bộ máy, cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ (cơ chế phân cấp, quy trình
thẩm định, kiểm tra giám sát, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, các
giải pháp tín dụng, xử lý rủi ro).
5. Đánh giá công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay đầu tư tại
NHPTVN
Bên cạnh những mặt được, việc đi sâu phân tích những hạn chế và
nguyên nhân trong công tác quản trị rủi ro hoạt động cho vay đầu tư tại
NHPTVN là bước quan trọng để tác giả đi tìm những giải pháp để khắc phục,
hoàn thiện công tác quản trị rủi ro sẽ được đề cập tai Chương III.
Những hạn chế được đề cập đến bao gồm: hạn chế do mô hình chưa hợp
lý; chính sách, quy trình của NHPTVN chưa hoàn thiện; chất lượng thẩm định
chưa đạt yêu cầu; công tác quản lý tín dụng còn lỏng và yếu, nghiên cứu dự
báo kém; xử lý nợ chưa hiệu quả.
Về nguyên nhân của những hạn chế nêu trên có cả những nguyên nhân
từ phía NHPTVN; từ cơ chế, chính sách của Nhà nước và từ phía khách hàng
và các nguyên nhân khác.

với Chính phủ về khả năng rủi ro trong cấp tín dụng và giúp tháo bỏ sức ép
đối với những Dự án theo ý chí chủ quan.
+ Hạn chế vốn vay đối với khách hàng và một nhóm khách hàng:
Hạn chế này giúp tránh rủi ro về đạo đức, rủi ro về tính hệ thống và bảo
đảm phân bổ rủi ro cho nhiều đối tượng vay vốn.
+ Phân tích ngành và hạn chế vốn vay theo ngành
Phân tích ngành và xác định cơ cấu vốn, hạn chế đầu tư theo ngành cần
được NHPTVN thực hiện nhằm nâng cao chất lượng phòng ngừa rủi ro tín
dụng. Về dài hạn, đảm bảo khả năng thanh toán của NHPTVN khi chuyển
sang tự hạch toán kinh doanh.
- Thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng:
Hệ thống này phải đảm bảo đưa ra những hệ thống báo cáo, cảnh báo tự
động, trường hợp cần thiết có thể chia sẻ hoặc mua thông tin từ các Trung tâm
thông tin khác.
- Nâng cao năng lực công tác thẩm định:
Bao gồm các nội dung từ khâu tiếp nhận, thẩm định Dự án, thẩm định
năng lực chủ đầu tư, thẩm định tài san đảm bảo tiền vay, phân cấp thẩm định
và quyết định duyệt vay
- Quản lý sát sao các khoản nợ vay:
Trong khâu giám sát theo dõi giải ngân, NHPT cần nghiên cứu để đa
dạng hóa phương thức cho vay phù hợp, cụ thể hóa các hình thức và điều kiện
áp dụng.
Trong khâu phân loại nợ vay: tiếp tục việc phân loại nợ theo hướng dẫn
của NHNN, kết hợp với chi tiết theo nguyên nhân hình thành nhóm nợ, phân
loại theo nhóm ngành.
viii
Trong khâu thu hồi nợ vay: NHPTVN cần ban hành quy định về cách
thức, thẩm quyền, công cụ và những biện pháp mà các cán bộ tín dụng có thể
và phải áp dụng khi thực hiện thu nợ vay.
- Nâng cao chất lượng công tác quản lý và xử lý rủi ro tín dụng đối với

các cấp chưa theo kịp yêu cầu đặt ra, cơ sở vật chất, công nghệ thông tin còn
yếu kém, do vậy, để đạt được sự đổi mới căn bản và toàn diện trong quản trị
rủi ro tín dụng phát triển, đòi hỏi phải có thời gian và quyết tâm đổi mới rất
cao của Ban lãnh đạo Ngân hàng, với sự hỗ trợ các chuyên gia tư vấn.
Với thời gian và nhận thức, kinh nghiệm hạn chế, trong đề tài này, chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót trong cả nhận thức về cơ sở lý luận,
đánh giá thực trạng cũng như đề xuất giải pháp. Đặc biệt, nhiều giải pháp đưa
ra mô hình nhưng chưa đưa được phương pháp và cách thức để thực hiện, có
nghĩa là chưa giải quyết được triệt để. Tác giả rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của các thầy cô cùng toàn thể bạn đọc để hoàn thiện đề tài nghiên
cứu này.
x
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Ngân hàng Phát triển Viêt Nam là môt tổ chức tài chính Nhà nước, được
thành lập trên cơ sở tổ chức lại Quỹ hỗ trợ phát triển với chức năng, nhiệm vụ chủ
yếu là thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước
theo Quyết định số 108/2006/QĐ – TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng phủ.
Hoạt động chủ yếu của NHPT tập trung chủ yếu vào tín dụng, trong đó
dư nợ cho vay đầu tư chiếm 60% tổng dư nợ. Đối tượng cho vay vốn tín
dụng đầu tư chủ yếu là các dự án thuộc ngành, vùng kinh tế khó khăn, các
chương trình kinh tế có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Với mục đích khuyến khích đầu tư,
nâng cao hiệu quả xã hội nên các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước
được hưởng nhiều ưu đãi như: Thời gian vay vốn dài, tài sản thế chấp cầm cố
về cơ bản chỉ là tài sản hình thành từ vốn vay, Thời gian gần đây, số nợ quá
hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay đầu tư của NHPT ngày càng
tăng cao, phần nào phản ánh nguy cơ rủi ro tín dụng trong cho vay đầu tư của
NHPT đang ngày càng lớn.
Do vậy quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đầu tư là một vấn đề lớn

đầu tư tại NHPTVN
Chương III: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động
cho vay đầu tư tại NHPTVN
2
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN
1.1 Khái quát về Ngân hàng Phát triển
1.1.1 Sự cần thiết hình thành Ngân hàng phát triển
Quá trình phát triển của các tổ chức tài chính gắn liền với quá trình phát
triển kinh tế. Các ngân hàng như NHTM, ngân hàng đầu tư, công ty tài
chính…đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thu hút tiết kiệm và tài trợ
cho phát triển, hạn chế rủi ro và tăng khả năng sinh lời. Phần lớn các trung
gian tài chính hoạt động vì mục tiêu tối đa hoá lợi ích tài chính của chủ sở
hữu. Song có một số tổ chức hoạt động với các mục tiêu và đối tượng phục vụ
đặc biệt, hướng tới lợi ích kinh tế - xã hội. Các tổ chức tài chính này được gọi
chung là “các công ty tài chính phát triển”. Ngân hàng phát triển (NHPT) là
một tổ chức tài chính như vậy.
NHPT là tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài
hạn cho các dự án phát triển.
Hoạt động của NHPT là huy động, tài trợ và làm các dịch vụ thanh toán.
Mục tiêu hoạt động của NHPT là tài trợ có hiệu quả các chương trình phát
triển kinh tế do Chính phủ hoạch định. Phương thức hoạt động chủ yếu là đầu
tư trung và dài hạn cho các công trình kinh tế trọng điểm, hỗ trợ các doanh
nghiệp phát triển thông qua đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ.
Hầu hết các quốc gia nhất là các nước đang phát triển đều thành lập
NHPT do các lý do chủ yếu sau đây:
 Nhu cầu vốn trung dài hạn cho phát triển kinh tế.
Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế, đặc biệt vốn trung và dài hạn là rất
lớn như nhu cầu cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển (đường giao

- Thứ hai, nhiều NHTM không sẵn sàng đầu tư vào dự án phát triển do
phần lớn các khoản tín dụng của NHTM đòi hỏi phải có tài sản thế chấp và
phải đạt được hiệu quả tài chính theo cơ chế thị trường.
NHPT là một tổ chức tài chính thực hiện chính sách tài trợ ưu tiên có hạn
chế của Chính phủ nhằm thực hiện các công cuộc đầu tư đặc biệt. Các hoạt
động nhằm mục tiêu phi lợi nhuận càng nhiều thì tính hỗ trợ phải càng cao.
 Yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển có hiệu quả.
Một dự án phát triển thường chứa đựng nhiều mục tiêu (như tăng lợi
nhuận và công ăn việc làm…) mà các mục tiêu này trong nhiều trường hợp lại
làm giảm quy mô của nhau. Điều này cản trở hoạt động của các thể chế tài
chính theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên các dự án này lại không thích hợp
hoàn toàn với phương pháp cấp phát ngân sách do có nguồn thu trực tiếp từ
bán sản phẩm của dự án. Chính phủ sử dụng nguồn vốn tín dụng nhằm làm
tăng tính hiệu quả tài chính của dự án phát triển. Lý do sử dụng nguồn vốn tín
dụng trong tài trợ cho các dự án phát triển là:
- Thứ nhất, Ngân sách Nhà nước nghèo nàn và phải sử dụng ưu tiên cho
các dự án không thể hoàn lại vốn. Trong khi đó, nhiều dự án phát triển tạo
nguồn thu trực tiếp (có khả năng sinh lời), có khả năng hoàn trả, có thể và cần
thiết phải tiếp cận với nguồn vốn tín dụng.
- Thứ hai, phương pháp tài trợ bằng cách cho vay có nhiều ưu thế. Trước
hết vốn của Nhà nước thường được cộng thêm vốn đối ứng huy động trên thị
trường, tạo điều kiện mở rộng quy mô tài trợ cho các dự án phát triển. Kết quả
của việc hoàn trả là nguồn vốn của Nhà nước lại được tái tạo, tiếp tục một
hoạt động tài trợ mới.
Tài trợ ưu đãi qua chương trình tín dụng của Chính phủ được thực hiện
có hiệu quả thông qua hoạt động của NHPT. Ngoài việc cung cấp các nguồn
vốn trung và dài hạn cho các dự án, NHPT còn cung cấp với một số điều kiện
5
ưu đãi mà các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động theo cơ chế thị trường
không thể thực hiện được. Như vậy, NHPT được thành lập nhằm tài trợ các

hàng chuyên doanh nên các hoạt động khác của ngân hàng ít đa dạng hơn so
với các NHTM.
1.2 Hoạt động tín dụng phát triển tại NHPT.
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của dự án phát triển.
Các Dự án phát triển kinh tế (Dự án phát triển) là dự án trực tiếp tạo ra
sản phẩm chiến lược, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của ngành, vùng, thúc đẩy
quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế hoặc cơ cấu thu nhập của nhiều bộ phận dân
cư. Dự án phát triển thường có các đặc điểm sau đây:
- Dự án phát triển là những dự án lớn có vai trò quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế của quốc gia.
Các dự án phát triển nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế của quốc gia.
Dự án phát triển có quy mô lớn, thời gian vận hành dài. Tại nhiều nước đang
phát triển, dự án phát triển do Chính phủ quyết định và thực hiện, vì vậy nó
mang tính chất dự án công. Một số dự án do các tập đoàn kinh tế của Nhà
nước hoặc tư nhân thực hiện có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Dự án phát triển thực hiện thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của
quốc gia như chiến lược công nghiệp hoá, phát triển nông nghiệp và nông
thôn, chiến lược xuất khẩu hoặc thay thế hàng nhập khẩu, chiến lược giảm đói
nghèo, bảo vệ môi trường….
- Dự án phát triển nhằm tới hai mục tiêu: Hiệu quả tài chính và hiệu quả
xã hội.
Các dự án phát triển phải tạo ra thu nhập bù đắp toàn bộ chi phí và có lãi.
Do đó, các dự án này phải được thiết kế trên cơ sở tính toán được hiệu quả tài
7
chính trực tiếp. Khác với dự án thương mại, dự án phát triển phải thực hiện
các mục tiêu xã hội như phát triển cơ sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế…
Chủ đầu tư thường là Nhà nước (hoặc các cơ quan phát triển) nên việc thực
hiện đa mục tiêu là tất yếu đối với dự án phát triển.
Các mục tiêu trong một số trường hợp lại mâu thuẫn với nhau, hoặc làm
giảm độ lớn của nhau. Chủ đầu tư vì vậy phải xác định nhóm mục tiêu cơ bản,

từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với
một lượng lớn hơn.
Tín dụng có 3 đặc điểm cơ bản mà nếu thiếu một trong ba đặc điểm này
thì không còn là phạm trù tín dụng nữa, đó là:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang
người khác.
- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời.
- Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm
theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy
nhiên nó vẫn giữ nguyên được những bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng.
Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là ngân
hàng và một bên là các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội,
tổ chức tín dụng, các ngân hàng khác.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng dựa trên một số nguyên tắc nhất định
nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ
thể hoá trong các quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN):
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn
đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
9
- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích đã thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng.
Đối với NHPT thì hoạt động chủ yếu của NHPT là tài trợ cho các dự án
phát triển (tín dụng phát triển)- đó là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các
hình thức tín dụng để tài trợ cho các dự án phát triển thuộc lĩnh vực được Nhà
nước khuyến khích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng
thời kỳ.
1.2.2.2 Đặc điểm
Bên cạnh các đặc điểm chung, hoạt động tín dụng phát triển của NHPT

- Các bước thực hiện cho cấp tín dụng phát triển
+ Thẩm định trước khi tài trợ (thẩm định chủ đầu tư, dự án vay vốn).
+ Tìm kiếm nguồn tài trợ thích hợp.
+ Xác định phương thức tài trợ.
+ Ký kết hợp đồng tín dụng.
+ Giải ngân giám sát, thu nợ và điều chỉnh dự án.
- Nguồn vốn để thực hiện:
+ Nguồn vốn do NSNN cấp cho NHPT.
+ Nguồn vốn huy động: phát hành trái phiếu, huy động tiền gửi, vốn vay
của các tổ chức và nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng phát triển
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm rủi ro tín dụng phát triển
1.3.1.1. Khái niệm:
Cho đến nay có rất nhiều quan niệm về khác nhau về rủi ro, chẳng hạn
rủi ro (risk) là một sự không chắc chắn (uncertainty) hay một tình trạng bất
ổn. Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có
11
những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xắc suất xảy ra
mới được xem là rủi ro. Để có thể đo lường được, rủi ro được định nghĩa là sự
khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng; hoặc rủi ro là khả năng sảy ra
tổn thất ngoài dự kiến; hoặc rủi ro là những biến cố không mong đợi xảy ra
làm thiệt hại về tài sản, thu nhập trong quá trình kinh doanh…Mặc dù có
nhiều quan điểm khác nhau nhưng mọi quan điểm đều thống nhất và đưa ra
cách hiểu chung là: “Rủi ro là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước
làm cho giá trị thực tế khác biệt so với giá trị kỳ vọng”.
Trong số các loại rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt thì RRTD là loại rủi
ro chiếm tỷ lệ lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nhất đối
với hoạt động của ngân hàng. Hoạt động tín dụng tạo ra phần lớn nguồn thu
cho ngân hàng song cũng có thể mang lại những hậu quả nặng nề nhất. RRTD
là rủi ro phức tạp, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất. Nó đòi hỏi ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status